BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
THÁI ĐỒNG SƠN KỲ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ : 60.44.03.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRỊNH QUANG HUY
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới:
Ban Giám đốc, các Phòng ban, Xí nghiệp thành viên của Công ty Cổ
phần môi trường đô thị và Công nghiệp 10 – URENCO 10 đã tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi trong quá trình học.
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, anh, chị, em, bạn bè, đồng nghiệp đã
động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khoá học.
Xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Học viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu. 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu. 30
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 30
2.3.2 Phương pháp triều tra phỏng vấn 30
2.3.3 Phương pháp xác định khối lượng và thành phần chất thải rắn y
tế nguy hại. 32
2.3.4 Phương pháp đánh giá, so sánh. 33
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu, trình bày kết quả. 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Khái quát về tình hình hoạt động của Bệnh viện Bạch Mai và
Bệnh viện phụ sản Hà Nội. 35
3.2 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế nguy hại tại 2 Bệnh viện
Bạch Mai và Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. 36
3.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế nguy hại tại Bệnh viện
Bạch Mai. 36
3.2.2 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế nguy hại tại Bệnh viện phụ
sản Hà Nội. 38
3.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại tại Bệnh viện Bạch
Mai và Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. 40
3.3.1 Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế nguy hại tại 2
Bệnh viện. 43
3.3.2 Thực trạng vận chuyển, xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tại 2
bệnh viện Bạch Mai và Phụ sản Hà Nội. 47
3.3 Các vấn đề liên quan đến quản lý CTR y tế nguy hại tại các
Bệnh viện. 48
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.3.1 Nhân lực phục vụ trưc tiếp công tác quản lý CTR y tế nguy hại
PX : Phóng xạ
TB : Trung bình
TCCP :Tiêu chuẩn cho phép
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang
1.1 Chất thải rắn y tế theo giường bệnh trên thế giới năm 2010 3
1.2 Khối lượng CTR y tế phát sinh ở các loại đô thị trên cả nước 8
1.3 Khối lượng CTR y tế phát sinh ở các tuyến Bệnh viện 10
1.4 Tác nhân gây bệnh của các dạng nhiễm khuẩn trong bệnh viện 25
3.1 Thực trạng quản lý CTR y tế nguy hại tại Bệnh viện Bạch Mai 38
3.2 Thực trạng quản lý CTR y tế nguy hại tại Bệnh viện Phụ sản HN 39
3.3 Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế nguy hại tại
Bệnh viện Bạch Mai 43
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình, biểu đồ TrangHình 1.1 Nguồn phát sinh chất thải y tế 5
Biểu đồ 1.1 Thành phần chất thải rắn y tế phát sinh 11
Biểu đồ 1.2 Thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính lý hóa 12
Biểu đồ 3.1 Biến động của Chất thải lây nhiễm và chất thải hóa học tại
BV Bạch Mai trong 6 tháng đầu năm 2014 37
Biểu đồ 3.2 Khối lượng phát sinh CTRYT NH tại BV Bạch Mai 37
Biểu đồ 3.3 Khối lượng phát sinh CTRYT NH tại BV Phụ sản HN 38
Biểu đồ 3.4 Biến động của Chất thải lây nhiễm và chất thải hóa học tại
BV Phụ sản HN trong 6 tháng đầu năm 2014 39
Hình 3.1 Sơ đồ quản lý rác thải y tế tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội 42
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
như: khó khăn trong việc phân loại, thu gom, xử lý CTYT, sự hạn hẹp kinh
phí, sự quá tải người bệnh, nhiều nơi cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa quan tâm
đúng mức dẫn đến công tác quản lý, xử lý CTYT ở các bệnh viện vẫn còn
nhiều hạn chế và bất cập đã làm cho môi trường bệnh viện càng xấu đi và ảnh
hưởng đến chất lượng điều trị. Để góp phần giảm thiểu tác hại của Chất thải
răn y tế, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý
chất thải rắn y tế nguy hại tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố
Hà Nội”
2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
2.1 Mục đích
- Đánh giá thực trạng quản lý, chất thải rắn y tế phát sinh tại một số
bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường của CTR y tế.
2.2 Yêu cầu
- Xác định các tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại đối với môi trường
bệnh viện và sức khỏe con người.
- Thu thập, điều tra số liệu về chất thải rắn y tế nguy hại tại các Bệnh
viện để làm rõ được thực trạng công tác quản lý chất thải hiện tại ở các Bệnh
viện này.
- Đề xuất được các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi
trường do chất thải rắn y tế gây ra.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Bệnh viện trung ương 4,1 -
8,7
0,4 -
1,6
Bệnh viện tỉnh 2,1 -
4,2
0,2 -
1,1
Bệnh viện huyện 0,5 -
1,8
0,1 -
0,4
Theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới (2010-2015)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
b. Phân loại chất thải y tế
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (2010), ở các nước đang
phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại
(chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất
thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm
khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dược
phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác
(chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao).
Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải
có khả năng truyền nhiễm mạnh); những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân
truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; những vật sắc nhọn được
Chất thải sinh hoạt Chất thải lâm sàng
Bình áp suất Chất thải phóng xạ
Chất thải hoá học
Hình 1.1. Nguồn phát sinh chất thải y tế
Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định
số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, quy định:
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ
sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế nguy hại là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khoẻ con
người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ
nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không
được tiêu huỷ an toàn.
Phòng mổ
Phòng xét nghiêm
chụp và rửa phim
Phòng cấp cứu
Phòng bệnh nhân
truyền nhiễm
Khu bào chế dược
biện pháp cấp bách trong quản lí chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp.
- Thông tư liên tịch số 2237/1999/TTLT/BKHCNMT – BYT ngày
28/12/1999 của Bộ KHCN và Môi trường nay là Bộ Tài nguyên môi trường –
Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện an toàn bức xạ trong y tế.
- Thông tư số 12/2006/QĐ-TTg ngày 26/12/2006, hướng dẫn điều kiện
hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép, hành nghề mã số quản lý
chất thải nguy hại.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 về việc ban
hành danh mục chất thải nguy hại, quy định CTYT nằm trong danh mục
CTNH có mã số 1301,
phải đăng ký và quản lý theo quy định đối với CTNH.
- Quyết định số 62/2001/QĐ – BKHCNMT ngày 21/11/2001 ban hành
các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với lò đốt chất thải y tế.
- Công văn số 4527 – ĐTr ngày 8/6/1996 của Bộ y tế hướng dẫn xử lý
chất thải rắn trong bệnh viện.
- Quyết định số 1850/QĐ – BYT ngày 19/9/1997 ban hành quy chế
bệnh viện trong đó có quy chế công tác xử lý chất thải.
- Quyết định số 2575/1999/QĐ – BYT ngày 27/8/1999 của Bộ trưởng
Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế quản lí chất thải y tế.
- Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy định về quản lý, xử lý CTYT và
thường xuyên điều chỉnh quy chế cho phù hợp với xu thế phát triển. Từ năm
1996 đã ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định xử lý chất thải rắn trong
bệnh viện, từ năm 1999, đã ban hành riêng quy chế quản lý chất thải y tế, đến
2007, quy chế này đã được điều chỉnh để phù hợp với tình hình cấp bách hiện
nay về quản lý chất thải y tế (Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày
30/11/2007 của Bộ Y tế).
b, Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam.
Loại
đô
thị
Tỉnh/Tp.
CTR y tế
(tấn/năm)
Loại
đô
thị
Tỉnh/Tp.
CTR y tế
(tấn/năm)
Tỉnh
có
đô
thị
loại I
Đắc Lắc 276,3
Tỉnh
có
đô
thị
loại
III
Bạc Liêu 134,8
Đô
thị
loại
có
đô
thị
loại
II
An Giang
320,1
Hậu
Giang
634,8 (*) Yên Bái 108,542
Cà Mau 159,5
Kiên
Giang
642,4
Đô
thị
đặc
biệt
Hà Nội ~5000
Đồng Nai
430,8 Long An 369 Tp. HCM 2800 (*)
Phú Thọ 126,54
Quảng
Nam
602,25
trường trong lĩnh vực y tế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại.
Hà Nội là thủ đô của cả nước, nơi tập trung đông dân cư vì thế công tác
bảo vệ sức khỏe của người dân luôn là trách nhiệm hàng đầu. Kéo theo đấy là
lượng chất thải y tế phát sinh trên địa bàn thành phố Hà Nội hằng ngày luôn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
đứng đầu cả nước. Nếu công tác quản lý chất thải rắn y tế nguy hại nếu không
được thực hiện tốt ngay từ các Bệnh viện thì hậu quả đối với môi trường sống
và sức khỏe của người dân sẽ không được đảm bảo.
Bảng 1.3: Khối lượng CTR y tế phát sinh ở các tuyến Bệnh viện
Khoa
Tổng lượng chất thải phát sinh
(kg/giường/ngày)
Tổng lượng chất thải phát sinh
(kg/giường/ngày)
BV
TW
BV
Tỉnh
BV
Huyện
Trung
bình
BV
TW
Khoa mắt/TMH 0,66
0,68 0,34 0,12 0,10 0,08
Khoa cận lâm sàng
0,11
0,10 0,08 0,03 0,03 0,03
Trung bình 0,72
0,7 0,56 0,14 0,13 0,09
Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, 2009
Hiện nay trên địa bàn Thành phố Hà Nội có 41 Bệnh viện trực thuộc
Trung Ương với 8.650 giường bệnh, 40 bệnh viện thuộc Sở Y tế, với 7.980
giường bệnh. Đây là 2 tuyến bệnh viện phát sinh nhiều chất thải rắn y tế nguy
hại nhất của Thành phố Hà Nội.
Số lượng bệnh viện đã đăng ký chất thải rắn nguy hại với Chi cục bảo
vệ môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường là: 11/41 bệnh viện Trung ương có
khối lượng chất thải rắn nguy hại là 35.264kg/tháng, 10/54 bệnh viện thuộc
Sở y tế có khối lượng CTR y tế nguy hại là 13.925kg/tháng, 8/25 bệnh viện và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
phòng khám tư nhân có khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại là
4083,9kg/tháng. Các cơ sở y tế còn lại không đăng ký chất thải rắn nguy hại
với Chi cục bảo vệ môi trường, hợp đồng với đơn vị có chức năng thu gom,
vận chuyển, xử lý.
* Thành phần và phân loại chất thải rắn y tế.
- Theo Thuyết minh Quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến
năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tỷ lệ, thành phần chất thải rắn y tế phát
ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công
nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại.
Giấy các loại
3%
Bông băng, bột bó
gãy xương
9%
Kim loại, vỏ hộp
1%
Thủy tinh, ống tiêm,
chai lọ thuốc, bơm
kim tiêm
3%
Đất đá và các loại
vật rắn khác
22%
Chai, túi nhựa các
loại
10%
Bệnh phẩm
1%
Rác hữu cơ
51%
Đất đá và các loại vật
rắn khác
Giấy các loại
Kim loại, vỏ hộp
Thủy tinh, ống tiêm,
chai lọ thuốc, bơm kim
tiêm
cách ly.
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong
các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ
thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
* Chất thải hoá học nguy hại: Nhóm này gồm các loại chất thải sau:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
- Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế
- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ
dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng
hoá trị liệu.
- Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ
ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì
(từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các
khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí
phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán
và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí
dung. Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây
nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ
thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương
Tại các cơ sở y tế, 12,5% số công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do
kim tiêm đâm xảy ra trong quá trình xử lý chất thải y tế. Tổn thương này cũng
là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp với máu phổ biến nhất, xảy ra chủ yếu do
nguyên nhân là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn
không an toàn.
* Phân loại chất thải rắn
Việc phân loại chất thải phải được thực hiện ngay tại các buồng bệnh
hoặc nơi phát sinh ra chất thải rắn y tế. Các chất thải khác nhau phải được
đựng trong các túi và thùng có mã mầu kèm biểu tượng khác nhau theo đúng
quy định.
- Mã màu sắc của túi đựng chất thải y tế:
+ Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm.
+ Màu đen đựng chất thải hoá học nguy hại và chất thải phóng xạ.
+ Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ.
+ Mầu trắng đựng chất thải tái chế.
- Túi đựng chất thải:
+ Túi màu vàng và màu đen phải làm bằng nhựa PE hoặc PP, không
dùng nhựa PVC.
+ Túi đựng chất thải y tế có thành dầy tối thiểu 0,1mm, kích thước túi
phù hợp với lượng chất thải phát sinh, thể tích tối đa của túi là 0,1 m
3
.