Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại - Pdf 44

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VY NGUYÊN HUY

BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC
CỦA NÔNG VIẾT TOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên, năm 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VY NGUYÊN HUY

BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC
CỦA NÔNG VIẾT TOẠI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Đăng Điệp

Thái Nguyên, năm 2017


MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC .................................................................................................................iii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ......................................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................. 6
5. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................... 6
6. Đóng góp mới của luận văn .................................................................................... 6
7. Cấu trúc của luận văn .............................................................................................. 6
PHẦN NỘI DUNG .................................................................................................... 7
Chương 1 VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG VĂN HỌC
VÀ KHÁI QUÁT VỀ NHÀ VĂN NÔNG VIẾT TOẠI ......................................... 7
1.1. Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hóa dân tộc ............................................. 7
1.1.1. Khái niệm .......................................................................................................... 7
1.1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học ............................................. 11
1.2. Nhà văn Nông Viết Toại trong dòng chảy của văn học dân tộc thiểu số Việt
Nam hiện đại .................................................................................................... 15
1.2.1. Vài nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại ........................... 15
1.2.2. Hành trình sáng tác của Nông Viết Toại ......................................................... 22
Tiểu kết ..................................................................................................................... 26
PHẦN NỘI DUNG .................................................................................................. 27
Chương 2 CÁC BÌNH DIỆN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG
SÁNG TÁC CỦA NÔNG VIẾT TOẠI ................................................................. 27
2.1. Phong tục tập quán ............................................................................................. 27

1.1 Việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống còn của
mỗi quốc gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại của từng dân tộc. Mỗi quốc gia,
mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng thể hiện qua lối sống, cách ứng xử và
các hành vi giao tiếp khác. Bản sắc văn hóa dân tộc là thiêng liêng, quý giá, nó tạo
nên đặc thù của một dân tộc. Nó được hình thành trong chiều dài lịch sử của một
dân tộc, đúc kết từ kinh nghiệm sống, được lưu truyền qua nhiều thế hệ và gắn bó
máu thịt với con người. Mỗi quốc gia, dân tộc đều tìm mọi cách phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc của mình nhất là trong thời kì hội nhập toàn cầu hóa việc giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và đã trở
thành một trong những mục tiêu cao cả của Đảng ta là: Xây dựng một nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên nhiều lĩnh vực trong đó có văn
học nghệ thuật.
Từ khi ra đời cho đến nay, trải qua hơn bẩy mươi năm phát triển nền văn học
các dân tộc thiểu số Việt Nam đã tạo nên một dấu ấn riêng độc đáo trên nhiều
phương diện và thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý của độc giả cũng như giới
nghiên cứu phê bình. Với những thành tựu mà mảng văn học dân tộc thiểu số đạt
được nó đã thực sự trở thành một bộ phận và có nhiều đóng góp vào sự phát triển
chung của nền văn học dân tộc nước nhà. Nhiều tác phẩm tiêu biểu đã được công
chúng đón nhận nồng nhiệt và được đánh giá rất cao.
1.2 Nông Viết Toại là một trong những cây bút tiêu biểu, có nhiều thành tựu
trong mảng văn học dân tộc thiểu số Việt Nam. Hiện nay ông là Hội viên Hội Nhà
văn Việt Nam, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội
viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn. Sáng tác của ông mang đậm bản sắc văn
hóa dân tộc ở nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, tuy nhiên sáng tác của Nông Viết
Toại chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt là vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong
sáng tác của Nông Viết Toại chưa được chú ý tìm hiểu chuyên sâu.
1.3 Với những lí do trên, chúng tôi đặt vấn đề lựa chọn nghiên cứu Bản sắc
văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại. Lựa chọn đề tài: Bản sắc văn

1

truyện ngắn tuyên truyền đấu tranh giải phóng dân tộc, ông là một trong những nhà
văn người dân tộc thiểu số có nhiều cống hiến cho cách mạng vùng Việt Bắc. Là

2


một trong những nhà văn tiêu biểu mở đường cho nền văn học dân tộc Tày phát
triển và đến với công chúng bạn đọc.
Tác giả Nguyễn Thùy Linh trong bài Nhà văn Nông Viết Toại - sức đời vẫn
xanh nhận xét rằng “Nhà văn lão thành Nông Viết Toại cùng với hai nhà văn anh
em là Nông Quốc Chấn và Nông Minh Châu được xem là những người có công khai
sơn phá thạch dòng văn học cách mạng, đặc biệt là dòng văn học các dân tộc miền
núi phía Bắc” [17].
Tác giả Hoàng Thị Dung cũng cùng nhận xét đó trên tạp chí Khoa Học Và
Công Nghệ cho rằng Nông Viết Toại là “Một trong những nhà văn tiên phong đặt
nền móng cho văn học của Bắc Kạn nói riêng cho nền văn học các dân tộc thiểu số
Việt Nam nói chung” [9].
Tham gia cách mạng với vai trò của một cán bộ văn hóa tuyên truyền thông
tin, ban đầu Nông Viết Toại sử dụng ngòi bút của mình để tuyên truyền phục vụ
kháng chiến, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân nhưng với tình yêu quê hương
đất nước và tiếng mẹ đẻ nên nhà văn Nông Viết Toại đã tiếp tục hướng sâu ngòi bút
của mình vào việc sáng tác những tác phẩm có giá trị về cuộc sống, con người miền
núi qua những phong tục tập quán và những nếp sinh hoạt văn hóa tinh thần của
đồng bào dân tộc Tày bằng chính tiếng mẹ đẻ, đồng thời cũng là để lưu giữ những
giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc mình qua những trang ghi chép sáng tác đó.
Khi nhắc đến nhà văn Nông Viết Toại mọi người lại nhớ đến hình ảnh của
một “Nhà văn lão thành giản dị, gần gũi cùng với những đóng góp lớn lao của
ông trong việc đặt nền móng phát triển và giữ gìn, truyền bá văn học dân tộc Tày”
[32]. Được biết đến qua nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại nhưng Nông Viết Toại
dành nhiều tình cảm hơn hẳn cho thơ, thơ của ông luôn bám sát với những sự kiện

Toại đã cho rằng: “Đọc truyện ngắn của Nông Viết Toại có cảm giác như đang trở
về làng bản của mình sau những ngày đi xa, với tất cả những cảnh vật quen thuộc,
những con người xiết bao gần gũi, mến yêu”. Nó là chiếc cầu nối cho mỗi độc giả
thêm gần hơn, gắn bó hơn với quê hương của mình, với truyện ngắn của Nông Viết
Toại dù ở bất cứ nơi đâu thì quê hương không ở đâu xa mà ở ngay trong tâm hồn
mỗi con người chúng ta.
Với những cống hiến không ngừng nghỉ của Nông Viết Toại, tác giả Tôn
Phương Lan trong cuốn Nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam đời và văn đã nhận
xét “Đóng góp của Nông Viết Toại trong đời sống văn hóa của vùng đất này chắc

4


chắn là không nhỏ… góp phần làm phong phú hơn đời sống tinh thần của đồng bào
miền núi” [26].
Như vậy qua các công trình nghiên cứu trên, có thể thấy rằng bản sắc văn
hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại đã được quan tâm nhưng chủ yếu
được tìm hiểu lồng ghép trong những nghiên cứu khác và mới chỉ dừng lại ở những
nhận xét, những bài báo mà chưa được tìm hiểu cụ thể trong một đề tài riêng biệt.
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác
của Nông Viết Toại. Tuy những ý kiến đi trước chưa bao quát hết sự nghiệp của
Nông Viết Toại nhưng sẽ là những gợi ý quý báu và định hướng cho chúng tôi thực
hiện luận văn này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại.
- Phạm vi nghiên cứu:
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng toàn bộ sáng tác của
Nông Viết Toại, cụ thể gồm các tác phẩm sau:
- Rại róa vít pây (Xấu xa bỏ đi), (1956) - Sở Văn hóa Việt Bắc

Đây là công trình đầu tiên khảo sát, thống kê đầy đủ, có hệ thống, toàn diện
vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại. Qua luận văn,
chúng tôi mong muốn góp thêm một góc nhìn mới về bản sắc văn hóa dân tộc trong
sáng tác của Nông Viết Toại, một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập,
nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn của chúng tôi ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo,
phần Nội dung được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong văn học và khái quát về nhà
văn Nông Viết Toại.
Chương 2: Các bình diện bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông
Viết Toại.
Chương 3: Các phương thức biểu hiện bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác
của Nông Viết Toại.

6


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG VĂN HỌC VÀ KHÁI
QUÁT VỀ NHÀ VĂN NÔNG VIẾT TOẠI
1.1. Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1. Khái niệm
Mỗi người chúng ta khi sinh ra đã được hít thở trong bầu không khí văn hóa,
đó là lời ru của mẹ, câu hát của cha, câu chuyện của bà cho tới những bài thơ, câu
chuyện cổ tích thuở đi học… đã nuôi nấng chúng ta trưởng thành tất cả đều thuộc
về văn hóa. Văn hóa có vai trò rất quan trọng đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay
“Văn hóa được mọi người chú ý, tầm quan trọng của văn hóa được nêu lên hàng
đầu”[20, tr.14]. Vậy văn hóa là gì?

tr.10]. Định nghĩa này nêu bật bốn đặc trưng quan trọng đó là tính hệ thống, tính giá
trị, tính lịch sử và tính nhân văn của văn hóa.
Tác giả Huỳnh Công Bá thì cho rằng “Văn hóa là tổng thể các giá trị vật
chất, tinh thần và ứng xử mang tính biểu trưng do một cộng đồng người sáng tạo ra
và tích lũy được qua quá trình sinh tồn trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và lịch sử - xã hội của mình cũng như sự hoàn thiện đối với bản
thân mình” [2, tr.21].
Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc lại định nghĩa “Văn hóa là mối quan hệ
giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới
thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình
tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này đó là văn
hóa dưới hình thức dễ thấy nhất. Biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá
nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người
khác” [20, tr.17-18].
UNESCO cũng đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau “Văn hóa là tổng thể
những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách
của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật
và vật chất, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống
các giá trị, những phong tục và những tín ngưỡng”.
Như vậy, có thể thấy có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng nhìn
chung các nhà nghiên cứu đã tập trung vào định nghĩa văn hóa gắn với con người,

8


khẳng định con người trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội, văn hóa là sản phẩm
do con người sáng tạo ra và con người chính là chủ nhân của nền văn hóa.
Trong diễn văn của tổng giám đốc UNESCO - Fedrico Mayor tại lễ phát
động Thập kỉ quốc tế phát triển văn hóa tại Pari ngày 21/1/1988, ông cho rằng văn
hóa là “Tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra

bản lĩnh nhất định” [26], bởi không có một nền văn hóa nào lớn hơn một nền văn
hóa nào cả và mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có màu sắc truyền thống văn hóa
riêng của mình và họ luôn có ý thức nuôi dưỡng, làm phong phú thêm truyền thống
của tộc người hình thành nên bản sắc dân tộc.
Tác giả Thành Duy cho rằng “Bản sắc dân tộc là tổng thể những tính chất,
tính cách, đường nét, màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát
triển của dân tộc ấy, đồng thời giúp dân tộc ấy giữ vững được tính thống nhất, tính
nhất quán, tính độc đáo của bản thân mình trong quá trình phát triển” [10, tr.19].
Mỗi một dân tộc trên thế giới đều có lịch sử hình thành và phát triển riêng của tộc
người đã được định hình trong dấu ấn văn hóa vì vậy dân tộc có lịch sử riêng thì ắt
hẳn sẽ có một nền văn hóa riêng và “Bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất,
tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo của một
dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ
vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán của bản thân mình trong
quá trình phát triển” [21, tr.77-78].
Tác giả Trần Thị Việt Trung thì cho rằng “Bản sắc dân tộc là những nét
riêng biệt độc đáo của một nền văn hóa, văn học bao gồm những giá trị bền vững,
những tinh hoa văn hóa, văn mạch của dân tộc được vun đắp qua lịch sử, tạo thành
phong cách dân tộc”[54, tr.26].
Khái niệm bản sắc văn hóa có nhiều nét tương đồng về cơ bản là thống nhất
với khái niệm tính dân tộc. Tại hội nghị Văn hóa miền núi năm 1987, cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã nhận định “Nói tới văn hóa thì phải có vấn đề dân tộc, nói văn
học, nghệ thuật phải có vấn đề dân tộc”. Tính dân tộc là một thuộc tính tất yếu của
văn nghệ, xuất phát từ mối liên hệ qua lại giữa văn học và dân tộc vì tác phẩm văn
học là sự tự biểu hiện tâm hồn của chính tác giả người dân tộc ấy.
Tính dân tộc là phẩm chất của văn học, là một phạm trù lịch sử và không
phải là bất biến, văn học phục vụ dân tộc vì vậy trải qua các giai đoạn khác nhau
của lịch sử thì văn học cũng phải biến đổi theo.

10

thần của các nhà văn, nhà thơ, là biểu hiện của sự đào bới, tìm tòi và mổ xẻ, tái hiện
lại một cách chân thực chính tâm hồn của tác giả. Đối với mảng văn học các dân tộc

11


thiểu số, đa phần các thế hệ nhà văn, nhà thơ đều là con em của các dân tộc thiểu số
được sinh ra và lớn lên trên những mảnh đất quê hương thuộc miền núi cao của tổ
quốc nên họ am hiểu và chịu sự quy định của môi trường xã hội, văn hóa ấy. Các
nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số đã sớm được hít thở trong bầu không khí văn hóa
của dân tộc mình, họ đại diện cất lên tiếng nói của dân tộc mình và đưa những nét
bản sắc văn hóa dân tộc vào trong các tác phẩm một cách tự nhiên nhất dưới nhiều
cung bậc cảm xúc.
Về phương diện nội dung
Bản sắc văn hóa dân tộc được biểu hiện rất phong phú, đa dạng dưới nhiều
đề tài với nhiều đối tượng phản ánh sinh động, cụ thể từ thiên nhiên đến con
người với những nét sinh hoạt văn hóa in đậm dấu ấn phong tục tập quán nghìn
đời. Ngay ở việc lựa chọn đề tài đã tạo nên bản sắc riêng cho mỗi dân tộc, mỗi
vùng miền văn hóa, chúng ta chỉ có thể tìm thấy hình ảnh tiếng cồng chiêng trong
những sáng tác của các tác giả dân tộc thiểu số về vùng đất Tây Nguyên đầy nắng
gió hay hình ảnh những điệu then, sli, lượn đặc trưng chỉ có trong sáng tác của các
dân tộc Tày - Nùng vùng núi phía Bắc, đây là những biểu tượng văn hóa đại diện
tiêu biểu của vùng miền được tác giả lựa chọn phản ánh với kinh nghiệm của mình
để dẫn dắt người đọc thâm nhập vào tác phẩm.
Các tác giả dân tộc thiểu số được sinh ra trong môi trường thiên nhiên rừng
núi nên tình yêu quê hương, đất nước, thiên nhiên cuộc sống đã trở thành một
truyền thống tốt đẹp và được chú trọng nhiều hơn cả. Thiên nhiên có một vị trí rất
đặc biệt đối với các tác giả người dân tộc thiểu số, nó đã ăn sâu vào trong tiềm thức
mỗi tác giả, họ dành nhiều trang viết về quê hương núi rừng thân thuộc với những
dãy núi trùng điệp cao vút ẩn hiện trong mây, những cánh rừng xanh mướt nhẹ

minh nhanh nhẹn của người dẫn đầu, hay tiếng gọi tha thiết yêu thương trong làn
điệu Nàng ới của người dân tộc Nùng cho tới những lễ hội đón chào một mùa xuân
mới với những trò chơi dân gian tung còn, đánh yến, đánh quay lung linh màu sắc…
tất cả đều được các tác giả dân tộc thiểu số ghi lại trong những trang viết của mình
với một niềm tự hào và ý thức tự tôn dân tộc, cho thấy bộ mặt văn hóa của từng dân
tộc và tạo nên sự đa dạng cho màu sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Về phương diện nghệ thuật
Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện ở ngôn ngữ sáng tác, mỗi một dân tộc
đều có một ngôn ngữ riêng và mỗi một tác giả người dân tộc thiểu số đều đặc biệt

13


chú ý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của dân tộc mình trong sáng tác văn học. Đây là một
nét rất đặc biệt làm nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam
hiện đại nói chung. Các tác giả rất coi trọng ngôn ngữ mẹ đẻ trong sáng tác văn
chương, nổi lên là các tác giả người dân tộc Tày, họ luôn ý thức đưa ngôn ngữ mẹ
đẻ cất giữ vào trong văn học. Ngôn ngữ mẹ đẻ là kho tàng quý giá kết tinh những
giá trị truyền thống quý báu của dân tộc. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư
tưởng, nhiều tác phẩm sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác đã thể hiện rất độc
đáo lối cảm, lối nghĩ của người dân tộc thiểu số với tư duy và tính cách dân tộc, thể
hiện ý thức tự tôn dân tộc và đưa ngôn ngữ mẹ đẻ phát triển lên một tầm cao mới.
Bản sắc dân tộc còn được thể hiện ở sự vận dụng các thể loại truyền thống,
mỗi một dân tộc đều có một kho tàng văn học truyền thống với một hệ thống thi
pháp là nền tảng để các tác giả người dân tộc vận dụng vào trong sáng tác của mình.
Bên cạnh các thể thơ năm chữ, thể thơ bẩy chữ, thì thể thơ lục bát được các tác giả
người dân tộc vận dụng nhiều nhất và đem đến nhiều thành công nhất trong việc thể
hiện nội dung tư tưởng của tác giả.
Kết cấu của tác phẩm cũng là một phương diện thể hiện rõ bản sắc văn hóa
dân tộc, kết cấu trong truyện dân gian của mỗi dân tộc đều có những nét khác biệt

Theo một vài số liệu điều tra cho thấy người Kinh chiếm phần đa số với gần
90% dân số được phân bố rộng khắp trên cả nước nhưng chủ yếu là ở vùng đồng
bằng, ven biển, hải đảo. 53 dân tộc thiểu số còn lại chiếm hơn 10% dân số của cả
nước, trong đó người Tày chiếm số lượng nhiều hơn cả, sau đó là các dân tộc Thái,
Mường, Khơme, H’mông cho đến những dân tộc có số lượng rất ít như Si La, Pu
Péo, Rơ Măm, BRâu, Ơ Đu phân bố trên khắp cả nước nhưng tập trung nhiều dân
tộc sinh sống lâu đời nhất đó là vùng núi phía Bắc chiếm tới 62% (2009) dân số của
toàn miền, phân bố đông ở nhiều tỉnh như Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái
Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Hòa
Bình với dân tộc Tày chiếm số lượng nhiều nhất.
Người dân tộc thiểu số thường tổ chức xây dựng gia đình theo chế độ phụ hệ
trong đó người đàn ông làm chủ gia đình và đảm đương những công việc lớn, nặng
nhọc còn phụ nữ đảm đương những công việc nhẹ nhàng hơn và nội trợ. Mỗi dân
tộc lại cư trú ở một vị trí địa lí khác nhau, người Mường thường ở ven chân núi,
người Thái ở ngay giữa cánh đồng, người Tày - Nùng thường chọn những sườn đồi
sườn núi, đặc biệt người H’mông và người Dao thường ở những vị trí rất cao, đi lại
khó khăn hiểm trở vì trong quan niệm họ là con Giàng (con trời) nên phải ở trên tất

15


cả các dân tộc còn lại. Mặc dù sinh sống ở nhiều vị trí địa lí khác nhau nhưng các
dân tộc thường tổ chức nơi ở quần cư với nhiều hộ gia đình tập trung lại theo các
đơn vị làng, bản, mường với thiết chế tự quản dưới sự đứng đầu của trưởng thôn,
trưởng bản để hỗ trợ nhau trong cuộc sống.
Nhà cửa của các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc chủ yếu lấy vật liệu từ
thiên nhiên, người Tày - Nùng thường sử dụng những cây gỗ lớn để làm nhà sàn
truyền thống với bốn mái lợp bằng ngói máng và được chia làm ba tầng riêng biệt.
Người H’mông còn có sự kết hợp giữa nhà sàn và nhà đất nhưng nét chung trong xây
dựng nhà ở của người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đó là sự quy định rõ ràng

thống lâu đời với một sức hấp dẫn riêng được thể hiện qua nhiều phương diện, khi
nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại chưa ra đời những giá trị ấy vẫn âm
ỉ cháy trong chính tâm hồn của mỗi dân tộc, đến khi nền văn học dân tộc thiểu số
hình thành và phát triển những giá trị vĩnh cửu ấy đã đi vào văn học như một tất yếu
khách quan tạo nên màu sắc văn hóa dân tộc rất độc đáo cho mảng văn học này.
Vài nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Đến nay nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã khẳng định
được vai trò và vị trí của mình trong nền văn học dân tộc, được coi là một bộ phận
không thể thiếu trong nền văn học nước nhà, luôn hòa vào dòng chảy chung của nền
văn học Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa. Để có được vị trí như vậy nền văn
học các dân tộc thiểu số đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển với nhiều
thành tựu. Nhìn lại quá trình vận động của nền văn học các dân tộc thiểu số, thông
qua khảo sát tài liệu của một số nhà nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng giai đoạn
1930 - 1945, mảng thơ ca cách mạng các dân tộc thiểu số đã ra đời với các tác giả là
người dân tộc thiểu số chủ yếu hoạt động trong phong trào cách mạng đã đặt nền
móng cho thơ ca cách mạng các dân tộc thiểu số Việt Nam phát triển và tác động
mạnh mẽ đến nhiều tên tuổi ở giai đoạn sau, tuy nhiên có thể khẳng định rằng trước
năm 1945 nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại chưa được hình
thành, chúng ta hầu như không thấy sự xuất hiện của một tác phẩm văn xuôi nào
của người dân tộc thiểu số mà chủ yếu độc giả mới chỉ được biết đến thiên nhiên,
cuộc sống và con người miền núi có phần kì bí rùng rợn qua các sáng tác của các
tác giả là người Kinh như Lan Khai, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Tuân, Lê Văn
Trương, Thanh Tịnh… đặc biệt là Nam Cao, Nguyên Ngọc, Tô Hoài là những
người có công rất lớn, thôi thúc cho việc hình thành, phát triển nền văn xuôi dân tộc
thiểu số và tác động không nhỏ đến cảm hứng sáng tác trong văn xuôi người dân tộc
thiểu số.

17



(1962) để đến cuối những năm 60 thể loại truyện ngắn phát triển rất mạnh mẽ với
18


nhiều tuyển tập. Có thể khẳng định Nông Minh Châu cùng với Vi Hồng và Triều
Ân là những người đi tiên phong, khai sáng cho nền văn xuôi các dân tộc thiểu số
Việt Nam hình thành và phát triển.
Trước 1960 chủ yếu là thơ, nhưng với sự xuất hiện của văn xuôi thì nền văn
học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã được hoàn thiện về mặt thể loại. Tiểu
thuyết xuất hiện năm 1964 với “Muối lên rừng” của Nông Minh Châu, đây được
coi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học các dân tộc thiểu số.
Bên cạnh văn xuôi thì kịch miền núi cũng ra đời và phát triển vào những
năm 1960 - 1964 với các vở kịch cách mạng. Từ 1965 kịch miền núi càng phát triển
mạnh hơn với những vở kịch phản ánh tinh thần chiến đấu của nhân dân các dân tộc
thiểu số miền núi.
Khi nền văn học dân tộc thiểu số hiện đại phát triển với nhiều thể loại, hoạt
động nghiên cứu lí luận phê bình xuất hiện như một quy luật với bài viết phê bình
đầu tiên là “Kể ít chuyện làm thơ” của Nông Quốc Chấn. Đến 1960 trở đi khi thơ ca
phát triển với nhiều tập thơ đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu phê bình với
những bài nghiên cứu về văn hóa, văn học các dân tộc thiểu số của nhiều tác giả
thuộc nhiều dân tộc trong đó có cả những cây bút người kinh.
Trong khoảng ba mươi năm đầu tiên hình thành và phát triển, từ sau 1975
nền văn học các dân tộc thiểu số đã bắt đầu có được những thành tựu nhất định. Ở
giai đoạn này thơ ca các dân tộc thiểu số tiếp tục phát triển mạnh mẽ nhất với đội
ngũ đông đảo và thuộc nhiều dân tộc. Bên cạnh những tác giả thuộc thế hệ trước
như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Lương Quy Nhân, Triều Ân, Bàn Tài Đoàn,
Cầm Biêu… vẫn tiếp tục sáng tác thì thời kì này xuất hiện nhiều cây bút trẻ mới vào
nghề nhưng có sức sáng tạo mạnh mẽ với nhiều cách thể hiện khác nhau đã cho ra
đời hàng trăm tác phẩm như Ma Trường Nguyên, Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo
Mìn, Lâm Quý, Dương Thuấn, Triệu Kim Văn… đây là thời kì đất nước hoàn toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status