LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thượng đế sinh ra con người , ban cho họ quyền sống , ngôn ngữ để
giao tiếp . Xã hội ngày một phát triển là sự sáng tạo của chính con người . Để
tồn tại họ phải trải qua lao động , dần dần các mối quan hệ được thiểt lập từ
đó . Khi của cải chênh lệch xã hội có sự phân chia kẻ giàu người nghèo thì
pháp luật ra đời . Pháp luật là tiền đề là nền tảng tạo cơ sở pháp lý để công
dân đấu tranh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời pháp luật
được xem là công cụ phương tịên để nhà nước quản lý công dân trong nước ,
pháp luật hiện diện ở tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời đời sồng xã hội :
Kinh tế , chính trị , văn hoá …. tạo cơ sở pháp lý cho các điều kiện ấy phát
huy được vai trò và hiệu quả của chúng trong việc thực hiện quyền con người
trên quy mô toàn xã hội . Nó là phương tiện để thực hiện sự cam kết và hoà
nhập giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế .
Luật chính là thước đo công bằng mà mọi người đều thừa nhận . Nó là
nguyên tắc mà dựa vào đó con người có thể giao lưu , thoả thuận , làm ăn vơí
nhau . Những hợp đồng kinh tế , những dự án kinh doanh đầu tư , việc hợp tác
giữa các quốc gia trên thế giới đều tuân theo quy định của luật thương mại
quốc tế . Quá trình tự do hoá thương mại liên kết các quốc gia trên toàn cầu
gần gũi với nhau hơn . Tuy nhiên nó cũng tạo ra sự phân hoá nên kinh tế giữa
các quốc gia rõ nét hơn . Khi tham gia vào bất kỳ một cuộc chơi nào thì người
chơi đều phải nắm rõ luật . Quy mô sân chơi càng lớn thì luật chơi phải rõ
ràng và minh bạch . Để tạo sự công bằng , nếu ai không chơi theo luật sẽ bị
phạt hoặc đuổi khỏi sân chơi . Thế giới ngày càng trở nên phẳng hơn , tạo
điều kiện cho các nước phát triển sâu rộng
Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới tức là đã tham
gia vào sân chơi quốc tế . Vậy các doanh nghiệp Việt Nam đã am hiểu gì về
1
luật chơi chưa ? Câu hỏi đó đặt ra trong lĩnh vực kinh tế từ rất lâu rồi . Các vụ
kiện kinh tế khi doanh nghiệp của ta làm ăn với đối tác nước ngoài ngày càng
( 2005 – 2010 )
Chương 3 : Giải pháp nâng cao chất lượng các công ty luật
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỰ DO HÓA
HƯƠNG MẠITỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
1. HƯỚNG PHÂN TÍCH
1.1. QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI ẢNH HƯỞNG TỚI
CÁC DOANH NGHIỆP VI ỆT NAM
Toàn cầu hoá nền kinh tế được thông qua một kênh chủ yếu là hoạt
động thương mại tự do-chiếc cầu khổng lồ nối vòng tay lớn và đồng thuận
giữa các nước trên thế giới. Vậy tự do hoá thương mại là gì ? Có thể hiểu một
cách nôm ngắn gọn tự do hoá thương mại là loại bỏ các biện pháp hạn chế
hay bảo hộ thương mại của chính phủ. Việt Nam hội nhập sân chơi này bằng
việc trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới ngày 7/11/2006.
Việc gia nhập WTO mang lại nhiều cơ hội phát triển cho Việt Nam song
những thách thức đặt ra cũng không ít. Thực tế kinh tế VN năm 2006-2010 đã
chứng minh phần nào điều đó.Năm 2007 nền kinh tế VN tăng trưởng toàn
diện trong hầu hết các lĩnh vực.Tuy còn một số tồn tại vấn đề nhập siêu,giá cả
hàng hóa tăng cao song nền kinh tế VN đã vượt qua khó khăn,thách thức đạt
tốc độ tăng trưởng 8.5% .Khi mà các hàng rào thuế quan được rỡ bỏ các
doanh nghiệp VN bước ra sân chơi quốc tế vừa mừng vừa lo.Trong thời kỳ
bao cấp các doanh nghiệp có thể bình chân như vại với các hoạt động kinh tế
của mình vẫn có thể tồn tại được.Thế nhưng bước vào hội nhập với quá trình
tự do hoá thương mại phải cạnh tranh bình đẳng,không có sự ưu ái ,che chở
bao cấp doanh nghiệp buộc phải đứng trước tình thế tồn tại hay không tồn
tại.Nếu doanh nghiệp biết luật chơi,biết liên kết ,liên doanh ,tiếp thu công
nghệ ,chọn thời cơ để lột xác ,biến thách thức thành thời cơ chuyển mình
3
sang một con đường mới tốt hơn. Đương nhiên trong cuộc cạnh tranh gay go
này có doanh nghiệp không trụ được phá sản nhưng đó là sự sàng lọc cần
giới là Mỹ tỷ trọng đóng góp của dich vụ vào GDP là 78%, ở Bỉ là 75%.
Còn theo nhận định của tiến sĩ Võ Trí Thành phó viện trưởng viện
nghiên cứu quản lý trung ương,ông Thành cho rằng gia nhập WTO các quốc
gia đều phải cạnh tranh trong môi trường khắc nghiệt và khả năng cạnh tranh
được thể hiện qua nghành dịch vụ .Ngành dịch vụ Việt Nam hiện chiếm
khoảng 40%GDP và chiếm 30% kim nghạch xuất nhập khẩu .Lao động Việt
Nam trong lĩnh vực dịch vụ chiếm khoảng 30% trong khi tỉ lệ này ở các nước
phát triển là 60%
Nếu bước chân ra ngoài mở rộng tầm mắt sang các nước phát triển
chúng ta mới thấy rõ một điều thật thú vị.Đó là chất lượng dịch vụ của nước
các bạn thật tuyệt vời .Khách có thể đi bất cứ đâu ,làm gì đều có dịch vụ chu
đáo .
1.3 .DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT DOANH NGHIỆP
Luật doanh nghiệp Viêt Nam đã thống nhất .Luật doanh nghiệp đã có
hiệu lực từ năm 2000 được coi là một hình mẫu trong soạn thảo và thực thi
luật ở Việt Nam
Các dịch vụ tư vấn : tư vấn luật,tư vấn thuế , xúc tiến các thương mại
trong và ngoài nước,đánh giá chất lượng của doanh ngiệp ,hỗ trợ tham gia tố
tụng cấp toà
Trong những những thập kỷ qua hoạt động thương mai quốc tế của dich
vụ pháp lí đã phát triển nhờ quá trình quốc tế hoá nền kinh tế .Các luật sư
ngày càng phải đồi mặt nhiều hơn với các giao dịch liên quan đến hệ thống
pháp luật.Nhu cầu đòi hỏi các luật sư phải xem xét hệ thống luật nước
5
ngoài ,nước có các công ty kinh doanh qua biên giới .Một số nước cũng tạo
thuận lợi cho thương mại dịch vụ pháp lí ,vì việc thiết lập các tổ chức luật sư
nước ngoài được xem như chât xúc tác cho đầu tư nước ngoài ,góp phần vào
ổn định và tính dự đoán được của môi trường kinh doanh thế giới.Trình độ
hạn chế của các chuyên gia địa phương trong những lĩnh vực pháp lí nhất
vừa rời khỏi đất nước
Hầu hết trong quá trình đào tạo luật sư vẫn là đào tạo về kiến thức luật
trong nước và luật này ở mỗi nước trong cùng một dòng luật vẫn có sự khác
biệt và trong một số trường hợp còn có sự khác biệt về pháp luật ngay trong
cùng một nước.Luật thương mại nói chung và luật kinh tế nói riêng vẫn rất
cần các luật sư am hiểu và thông thạo ngoai ngữ để có thể mang lại ánh sáng
cho các doanh nghiệp Việt Nam,sự tự tin khi bước chân vào đấu trường khu
vực cũng như thế giới
2 . CÁCH TIẾP CẬN
a/ TRƯỚC WTO CÁC DOANH NGHIỆP VỚI DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT
Các doanh nghiệp bước ra kinh doanh không gặp khỏi những khó
khăn,bỡ ngỡ .Tìm đến tư vấn là biện pháp nhanh gọn và hiệu quả.Nhiều công
ty,doanh nghiệp thành lập ra chưa đi vào hoạt động được bao lâu đã phải phá
sản ,giải thể.Nguyên nhân là do các ông chủ chưa có tầm nhìn,óc quan sát và
khả năng phân tích phán đoán sâu sắc.Ngoài ra không am hiểu luật cũng là
nguyên nhân dẫn đến thua cuộc.Sự bất cập về thiếu dịch vụ tư vấn cho các
doanh nghiệp trong nước.Thời gian từ năm 2000 trở về trước nền kinh tế Việt
Nam vẫn tập trung vào nông nghiệp ,dich vụ hầu như không phát triển
Cũng như nhiều nước trên thế giới,dịch vụ là nganh phát triển muộn
nhưng nó lại là ngành mang lại nhiêu công ăn việc làm và tăng GDP cho một
quốc gia.Trong dịch vụ có dich vụ pháp lí tôi muốn nói trong đề tài này.Dịch
vụ pháp lí đã ra đời từ khá lâu rồi nhưng sự phát triển của nó còn chậm chạp
7
đối với các quốc gia như Việt Nam.Các công ty luật Việt Nam còn rất ít hạn
chế về mặt chất lượng và qui mô.Hầu hết các doanh nghiệp làm ăn nhỏ lẻ ở
môi trường nội bộ trong nước
b/ SAU QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI
Ở nhiều nước ,các sáng kiến về tự do hoá và phân cấp lúc đầu né tránh
các ngành dịch vụ , phản ánh hoạt động của độc quyền công cộng được bảo