TÓM TẮT LUẬN VĂN
Như chúng ta đã biết, thị trường khách du lịch Hàn Quốc thực sự rất tiềm năng,
bằng chứng là ngày càng có nhiều lượt khách du lịch đến Việt Nam, đặc biệt chỉ trong 4
tháng đầu năm 2010 khách du lịch Hàn Quốc đã đạt 176,199 lượt tăng 25% so với cùng
kỳ năm ngoái.Việc thu hút được thị trường này có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển
kinh tế, sự phát triển của các dịch vụ du lịch ở nước ta trong thời gian tới. Vì vậy em xin
đề xuất đê tài luận văn tốt nghiệp của mình là : “ Giải pháp markerting thu hút khách du
lịch Hàn Quốc của công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại, dịch vụ và du lịch Đại
Minh”
Trong đề tài, em đã sử dụng phương pháp phát phiếu điều tra, phỏng vấn khách
du lịch và nhà quản trị để thu thập thông tin, phân tích các thông tin thu được và thông
tin nội bộ cung cấp, để từ đó đưa ra các giải pháp marketing thu hút khách du lịch Hàn
Quốc đi du lịch Việt Nam nhiều hơn nữa. Bên cạnh đó, em còn sử dụng phương pháp so
sánh, đánh giá, phân tích số liệu, phương pháp quan sát thực tế,…để thu thập thông tin
giúp cho bài luận văn được phong phú hơn.
Để đưa ra được các giải pháp marketing hữu hiệu, em đã đưa ra mô hinh nghiên
cứu bao gồm hệ thống lý luận về mong muốn, nhu cầu, động cơ của khách du lịch; các
nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu đi du lịch của khách du lịch; các hoạt động marketing
trong việc thu hút khách du lịch, đưa ra thực trạng khai thác khách du lịch Hàn Quốc
của công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại, dịch vụ, du lịch Đại Minh; chỉ ra được
những kết quả đạt được những thiếu sót còn tồn tại của công ty; phương hướng phát
triển trong thời gian tới, và các giải pháp marketing thu hút khách du lịch Hàn Quốc dựa
trên thực trạng của công ty.
Sau khi tiến hành nghiên cứu, trong đề tài em đã thu thập được các thông tin
phục vụ cho công tác nghiên cứu khách du lịch Hàn Quốc: đặc điểm, thói quen tiêu
dùng, tâm lý đi du lịch của du khách, có được bảng thống kê về đánh giá chất lượng
dịch vụ du lịch trong chuyến đi và đưa ra một số giải pháp marketing thu hút khách du
lịch Hàn Quốc, đồng thời cũng đưa ra một số kiến nghị với Nhà nước, Tổng cục du lịch,
Sở văn hoá, thể thao du lịch Hà Nội để tạo điều kiện thực hiện các giải pháp mà em đã
nêu ra. Tuy nhiên, do thời gian và trình độ nghiên cứu có hạn nên đề tài còn nhiêù thiếu
sót về hệ thống lý luận marketing trong du lịch, các thông tin thu thập được độ chính
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH THU HÚT KHÁCH DU
LỊCH HÀN QUỐC CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ VÀ DU LỊCH ĐẠI MỊNH
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới ngành Du lịch đang
góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, giải quyết công ăn
việc làm cho nhiều lao động. Đối với Việt Nam, mục tiêu chiến lược phát triển du
lịch Việt Nam 2006 – 2010 là trở thành một ngành kinh tế quan trọng trên cơ sở khai
thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá lịch sử,
huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ sự hợp tác hỗ trợ quốc tế, tạo điều
kiện thuận lơi để du lịch phát triển mạnh hơn khi Việt Nam gia nhập WTO. Từng
bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch hấp dẫn phấn đấu sau năm 2010, du
lịch Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành Du lịch phát triển trong khu
vực Đông Nam Á.. Với mục tiêu như vậy, ngành Du lịch đã lấy năm 2010 làm năm
du lịch quốc gia để đẩy mạnh hoạt động du lịch Việt Nam ra thế giới và thu hút
khách quốc tế đến Việt Nam.
Trong hai năm 2007 – 2008 lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam sụt
giảm nghiêm trọng, để khắc phục lại tình trạng này năm 2009 Việt Nam đã áp dụng
nhiều chính sách để kích thích du lịch phát triển trở lại như chính sách trợ giá tiêu
dùng, miễn thị thực vào Việt Nam, tăng cường quảng cáo trên kênh truyền thông của
nước ngoài,…Kết quả là số lượt khách quốc tế vào nước ta tăng lên rõ rệt, trong đó
khách du lịch Hàn Quốc được đánh giá là một thị trường tiềm năng thực sự lượng
khách đến chỉ sau Trung Quốc nhưng chi tiêu cho du lịch thì cao hơn rất nhiều .
Nguyên nhân mà khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam nhiều là do làn sóng đầu tư
vào ngày càng nhiều hơn, đa số họ đến vừa kết hợp du lịch vừa để khảo sát thị trường
đầu tư do đó, họ đều là tập khách có khả năng thanh toán cao cho các dịch vụ mà họ
tiêu dùng.
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch và sự mở rộng hoạt động của các công
- Chỉ ra những gì đã làm được và những điều còn tồn tại, nguyên nhân
của tồn tại đó.
- Đề xuất giải pháp tăng cường thu hút khách du lịch Hàn Quốc đối với
công ty.
- Đưa ra một số kiến nghị để thực hiện hệ thống các giải pháp trên
1.3 . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về marketing thu hút khách du lịch
và thực trạng thu hút khách du lịch Hàn Quốc
Phạm vi nghiên cứu: tại công ty TNHH TMDV&DL Đại Minh với các số liệu
từ năm 2008- 2009.
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
- Đối với xã hội: Đẩy mạnh thu hút khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam du
lịch sẽ làm cho mối quan hệ hai nước ngày càng thắt chặt hơn, đẩy mạnh giao lưu,
hợp tác về kinh tế văn hoá du lịch hai nước, thêm những hiểu biết lẫn nhau trong
2
nhiều lĩnh vực. Mặt khác, lợi ích từ hoạt động du lịch đem lại cho xã hội rất lớn như
đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, công ăn việc làm cho người dân,…
- Đối với doanh nghiệp: Nghiên cứu khách du lịch Hàn Quốc làm tăng hiểu biết
hơn về tâm lý, thói quen, sở thích du lịch của họ từ đó có những sản phẩm du lịch
phù hợp hấp dẫn hơn, nắm bắt được thị hiếu của khách Hàn Quốc để nâng cao chất
lượng dịch vụ của mình. Trên những yêu cầu đặt ra như vậy thì công ty cũng có
những điều chỉnh trong tổ chức cho hiệu quả nhất.
- Đối với bản thân em: Khi thực hiện nghiên cứu đề tài này em có thể tự củng
cố được kiến thức trong nhà trường và tiếp cận được yêu cầu công việc thực tế, qua
đó cũng làm tăng hiểu biết về kinh doanh du lịch các kiến thức về marketing du lịch.
Và cũng giúp em có khả năng tự giải quyết một vấn đề khi giải quyết công việc.
1.5. Kết cấu của đề tài
Ngoài tóm lược luận văn, mục lục, lời cảm ơn, các danh mục và phụ lục bài
khoá luận của em có kết cấu như sau:
• Chương 1: Tổng quan nghiên cứu tình hình thu hút khách du lịch Hàn
lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng
hoá và dịch vụ tại chỗ.[3, 8]
2.1.2 Khách du lịch và phân loại khách du lịch
2.1.2.1 Khách du lịch
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới khách du lịch là những người có các đặc trưng
sau: là người đi khỏi nơi cư trú của mình không theo đuổi mục đích kinh tế,đi khỏi
nơi cư trú từ 24 giờ trở lên, khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến tuỳ theo quan
niệm của từng nước.[3, 8]
Khách du lịch là những người tạm thời ở tại nơi họ đến du lịch với các mục tiêu
như nghỉ ngơi, giải trí, kinh doanh, hội nghị, hoặc thăm gia đình.
Theo Luật Du lịch Việt Nam: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du
lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
Khách du lịch được phân chia làm 2 nhóm cơ bản : khách du lịch quốc tế và khách du
lịch nội địa. Theo Luật Du lịch Việt Nam đã khái niệm khách du lịch quốc tế như
sau: Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
4
ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
- Như vậy, nhóm khách du lịch quốc tế được phân thành 2 loại: khách du lịch
quốc tế đi vào (Inbound tourist) là người nước ngoài người của một quốc gia nào đó
định cư ở nước khác vào quốc gia đó đi du lịch. Loại khách này sử dụng ngoại tệ để
mua hàng hoá dịch vụ.. Thí dụ người Mỹ và Việt kiều Mỹ vào Việt Nam du lịch.
Khách du lịch quốc tế đi ra (Outbound tourist) là công dân của một quốc gia và người
nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi ra nước ngoài du lịch.Thí dụ người Việt
Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch đến nước khác (Trung
Quốc, Thái Lan,…).
Khách du lịch nôi địa (Internal tourist) được phân biệt với khách du lịch quốc tế
ở chỗ nơi đến của họ cũng chính là nước mà họ cư trú thường xuyên. Họ cũng được
phân biệt những người lữ hành trong nước ở mục đích chuyến đi, khoảng cách
chuyến đi và thời gian lưu trú (tuỳ theo chuẩn mực của từng quốc gia).Theo Luật du
- Theo đặc điểm kinh tế - xã hội : Phân nhóm theo giới tính, phân nhóm theo
nghề nghiệp, phân nhóm theo mức thu nhập.
- Theo phương tiện giao thông được sử dụng. Theo cách phân loại này, khách
du lịch được phân thành các nhóm sau: khách sử dụng ô tô (xe du lịch, xe
công cộng, xe cá nhân hoặc xe thuê…); khách sử dụng máy bay (của hãng
hàng không hoặc của cá nhân); khách sử dụng tàu hoả; khách sử dụng tàu
thuỷ, tàu du lịch, tàu du hành, thuyền,….; khách sử dụng tổng hợp nhiều loại
phương tiện.
V.v….
2.1.3 Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.
2.1.3.1 Khái niệm
Theo Luật Du lịch: “ Lữ hành là việc xây dựng, bán tổ chức thực hiện một
phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch”. “ Kinh doanh lữ hành là
việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh
lợi”.[1,81]
2.1.3.2. Phân loại doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
Tham gia kinh doanh lữ hành có 2 loại tổ chức kinh doanh lữ hành chủ yếu:
- Đại lý lữ hành (Travel agency): Đại lý lữ hành là một tổ chức trung gian thay
mặt cho khách hàng sắp xếp với các đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch (các công ty
hàng không, các tập đoàn khách sạn, nhà hàng…) và nhận tiền hoa hồng từ các đơn
vị này. Công việc của đại lý du lịch thường là quảng cáo, bán tour (hoặc vé), thu thập
thông tin,nghiên cứu thị trường, nghiên cứu sản phẩm du lịch. Bên cạnh việc bán tour
trọn gói, các đại lý du lịch chuẩn bị các chương trình du lịch đơn lẻ, tham gia dàn xếp
chỗ lưu trú, ăn uống, tham quan, vận chuyển khách và hành lý từ sân bay, bến tàu về
khách sạn. Đại lý lữ hành cũng mang chức năng của một chuyên gia tư vấn cho
khách du lịch trong việc lựa chọn chương trình du lịch. Tổ chức cá nhân kinh doanh
đại lý lữ hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền và có hợp đồng đại lý
với các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.[1,184]
- Công ty kinh doanh lữ hành (Tour operator) là một đơn vị kinh doanh, sắp
xếp các dịch vụ riêng lẻ thành một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh để bán cho khách du
của các nhà sản xuất riêng lẻ thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách du
lịch với một mức giá gộp.
(3) Các hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành tổng hợp: Các công ty lữ hành có
thể mở rộng phạm vi hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực có liên quan đến du lịch
gồm kinh doanh khách sạn nhà hàng, kinh doanh các dịch vụ vui chơi giải trí, kinh
doanh vận chuyển du lịch, các dịch vụ ngân hàng phục vụ khách du lịch.
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút khách trong kinh doanh du lịch
2.2.1 Tài nguyên du lịch
7
Nếu như khách du lịch là chủ thể của du lịch thì tài nguyên du lịch là khách
thể của du lịch, là cơ sở quan trọng để phát triển du lịch. Theo Luật Du lịch Việt Nam,
tài nguyên du lịch được định nghĩa là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch
sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có
thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu
du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. Sự phong phú và đa dạng về tài
nguyên du lịch là điều kiện hết sức quan trọng để phát triển du lịch vì nó quyết định việc
hình thành các điểm thu hút khách, là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch,
là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch.
2.2.2 Điều kiện về sự sẵn sàng đón tiếp và phục vụ khách du lịch
Các điều kiện đảm bảo cho việc sẵn sàng đón tiếp khách tại các điểm đến bao
gồm: hệ thống các đơn vị cung cấp các dịch vụ du lịch cho khách du lịch (các công ty
du lịch, khách sạn, nhà hàng, công ty lữ hành, xí nghiệp vận chuyển, các cửa hàng
bán lẻ,..); đội ngũ lao động chuyên nghiệp làm việc trong ngành du lịch; bộ máy quản
lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương và địa phương; hệ thống các thể chế quản lý
Nhà nước về du lịch (Luật du lịch và các văn bản pháp quy dưới luật, các chính sách
và cơ chế quản lý du lịch, quy hoạch phát triển du lịch,…)
2.2.3 Điều kiện về cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường
sắt, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện,…Cơ sở
hạ tầng kỹ thuật xã hội là đòn bẩy thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế - xã hội của một
du lịch, họ đều tìm hiểu mức độ an toàn của các quốc gia có quyết định đi đến các
nơi đảm bảo an toàn nhất cho họ. Thông thường khách du lịch ít đến các khu vực có
nguy hiểm về tính mạng của họ, chẳng hạn: có chiến tranh hoặc bạo loạn, khủng bố,
bắt cóc, có dịch bệnh (dịch cúm gia cầm, SARS, dịch tả, dịch hạch…), có thiên tai
thường xuyên xảy ra (bão lụt, động đất, song thần,…) Tuy nhiên, ngày nay bắt đầu
xuất hiện loại du lịch bình đẳng hay còn gọi là du lịch sự kiện đặc biệt nhằm thu hút
một lượng khách đặc biệt. Họ không chỉ là khách thưởng ngoạn mà còn biết chia sẻ
biết giúp đỡ và hỗ trợ để khắc phục hậu quả của sự kiện đặc biệt đó.
2.2.6 Các điều kiện khác
Một số sự kiện đặc biệt cũng là điều kiện quan trọng để thu hút khách du lịch.
Các sự kiện có tác động lớn đến du lịch có thể là hội nghị, triển lãm, lễ hội, thi đấu
thể thao, liên hoan lớn,…Các sự kiện đó mặc dù diễn ra trong một khoảng thời gian
nhất định, không mang tính thường xuyên, nhưng chúng đóng vai trò rất tích cực
trong việc quảng bá các điểm đến du lịch và thu hút nhiều đối tượng khách du lịch
đến tham gia với quy mô lớn. Hơn nữa, các sự kiện hoạt động nêu trên góp phần khai
thác có hiệu quả hơn cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc biệt là vào mùa thấp điểm.
Các sự kiện được tổ chức vào mùa thấp điểm là yếu tố rất quan trọng để kéo dài thời
vụ du lịch, sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch đạt hiệu quả cao hơn. Tóm lại,
để phát triển du lịch cần có nhiều điều kiện về cung và cầu. Những điều kiện để phát
triển du lịch như đã nêu ra ở trên tác động một cách độc lập đến sự phát triển du lịch.
Do vậy, khi một số điều kiện ấy không được thoả mãn thì sự phát triển của du lịch có
thể bị trì trệ, giảm sút hoặc hoàn toàn ngừng hẳn. Sự có mặt đầy đủ tất cả các điều
kiện ấy đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ của du lịch.
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu khách thể trong thời gian trước đây
9
Qua tìm hiểu các tài liệu tham khảo, phần các đề tài tốt nghiệp của khoá trước
tại Trường đại học Thương mại, em thấy có nhiều anh chị đã chọn marketing thu hút
khách làm đề tài nghiên cứu của mình như:
1. Giải pháp mở rộng thị trường của khách sạn Sông Nhuệ. Sinh viên thực hiện
Vũ Ngọc Thuỷ.
thái tâm sinh lý hiện tại và trạng thái tâm sinh lý vốn có. Theo các chuyên gia tâm lý
học, nhu cầu là cái tất yếu tự nhiên nó thuộc tính tâm lý, là sự đòi hỏi tất yếu của con
10
người để tồn tại và phát triển. Nếu được thoả mãn sẽ gây cho con người những cảm
xúc dễ chịu, thoải mái (xúc cảm tích cực), trong trường hợp ngược lại, sẽ gây nên
những xúc cảm khó chịu bực bội (xúc cảm tiêu cực). Trong lĩnh vực tâm lý học, có
rất nhiều thuyết khác nhau nghiên cứu về nhu cầu của con người. Theo thuyết nhu
cầu của Maslow đã khái quát các nhu cầu của con người xếp theo 5 thứ bậc: (xem mô
hình 2.1)
Nhu cầu sinh lý: Đây là bậc thấp nhất trong bậc thang nhu cầu của
Maslow, bao gồm các nhu cầu về ăn, ở, đi lại…
Nhu cầu an toàn: Một khi nhu cầu sinh lý được đáp ứng, con người sẽ
xuất hiện nhu cầu về an toàn như : chống lại sự nguy hiểm đe doạ bản
thân, tài sản,…
Nhu cầu xã hội : Nhu cầu này bao gồm các nhu cầu về tình cảm bạn
bè, tình yêu, cảm giác về sự sở hữu, sự thừa nhận, tự do..
Nhu cầu được tôn trọng, tự trọng: bao gồm các nhu cầu về sự thành
đạt, những ưu thế của cá nhân, sự thữa nhận, sự tự do…
Nhu cầu tự hoàn thiện: Đây là nhu cầu để nhận ra tiềm năng thực sự
của ai đó, sự khẳng định mình, sự nổi tiếng,..
Mô hình 2.1. Các bậc thang nhu cầu của con người Theo Maslow
Do sự phát triển không ngừng của xã hội, nhu cầu của con người ngày càng trở
nên phong phú, đa dạng hơn, do vậy, về sau Maslow đã bổ sung thêm hai bậc thang
nhu cầu hoàn thiện, đó là : Nhu cầu về thẩm mỹ, cảm nhận cái đẹp và nhu cầu hiểu
biết.
*Nhu cầu của khách hàng là gì?
NC tự
hoàn
thiện
NC tôn trọng, tự trọng
Nhu cầu thực tế là nhu cầu du lịch được thoả mãn, được thực hiện trong thực tế.
Nhu cầu thực tế được thể hiện qua chỉ tiêu: số lượt khách đi du lịch trong một khoảng
thời gian nào đó.
*Nhu cầu bị kìm chế
Nhu cầu bị kìm chế là nhu cầu của một bộ phận dân cư muốn đi du lịch nhưng
không thực hiện được vì một lý do nào đó. Các nguyên nhân kìm chế nhu cầu có thể
là chủ quan hoặc khách quan. Các nguyên nhân chủ quan có thể là: hoàn cảnh gia
đình (bố mẹ già, con nhỏ, người nhà đau ốm,..); điểm đến du lịch không đảm bảo an
toàn, hoặc không đủ khả năng đón tiếp (thời tiết xấu, phòng ngủ không đủ, chính trị
không ổn định, dịch bệnh…); phương tiện vận chuyển không đáp ứng đủ nhu cầu đi
12
lại; cơ chế chính sách của chính phủ nơi khách đi hoặc không khuyến khích đi du lịch
hoặc tiếp nhận khách du lịch…
Tuỳ thuộc vào nguyên nhân, nhu cầu bị kìm chế được chia làm 2 bộ phận: nhu
cầu tiềm tàng bao gồm những người thích đi du lịch nhưng chưa có khả năng thực
hiện do những nguyên nhân chủ quan. Những người này sẽ đi du lịch trong tương lai
khi thu nhập của họ tăng lên hoặc họ có thời gian rảnh rỗi nhiều hơn. Nhu cầu bị trì
hoãn bao gồm những người đã có nhu cầu đi du lịch nhưng chuyến đi của họ bị hoãn
lại do các nguyên nhân khách quan xuất hiện trong một thời gian ngắn như hoàn cảnh
gia đình, khó khăn trở ngại từ phía cung (thiếu phòng ngủ, thiếu phương tiện vận
chuyển, thời tiết xấu,…) hoặc do cơ chế chính sách của nước nơi khách du lịch cư
trú. Nhu cầu thuộc bộ phận này sẽ trở thành nhu cầu thực tế trong tương lai gần khi
các nguyên nhân khách quan được loại trừ.
* Không có nhu cầu
Gồm những người có đủ điều kiện nhưng không muốn đi du lịch và những
người trong suốt cuộc đời không thể đi du lịch vì lý do hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ,
lối sống, văn hoá,… Ngoài ra, nhu cầu trong du lịch còn có thể phân loại theo một số
cách thức khác. Chẳng hạn nó được phân chia thành 3 nhóm: nhu cầu có khả năng
thay thế, nhu cầu được định hướng lại và nhu cầu mới phát sinh. Việc nắm được các
loại nhu cầu đã nêu trên là cần thiết để xác định đúng thị trường và biện pháp phù
và chuyển giao hiểu biết, kinh nghiệm và khẳng định uy tín cá nhân trong cộng đồng;
động cơ kinh tế khảo sát thị trường, tìm kiếm cơ hội đầu tư, tìm kiếm bạn hàng, cơ
hội làm ăn,…
d, Khái niệm hành vi của khách du lịch và tầm quan trọng của việc nghiên cứu
hành vi của khách du lịch
* Khái niệm hành vi của khách du lịch được giải thích trong mối liên quan với
hành vi của người tiêu dùng. Hành vi của người tiêu dùng là hành động thể hiện trong
việc lựa chọn, quyết định mua, sử dụng và số lượng sản phẩm dịch vụ, ý muốn, sự
cảm nhận để thoả mãn chu cầu của họ. Hành vi tiêu dùng cũng được thể hiện trong
việc lựa chọn trong số các sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau. Nghiên cứu hành
vi mua của khách du lịch tức là chỉ ra làm thế nào mà khách lại quyết định tiêu tốn
tiền bạc, thời gian, sức lực của bản thân vào sử dụng các dịch vụ du lịch. Đồng thời,
nghiên cứu thói quen, nhận thức, và sự cảm nhận của khách tác động tới hành vi thái
độ của họ, ngược lại cũng nghiên cứu các yếu tố môi trường đến phản ứng của khách
du lịch sau khi tiêu dùng sản phẩm dịch vụ du lịch.
* Tầm quan trọng của việc nghiên cứu hành vi của khách du lịch: Nghiên cứu
hành vi của khách du lịch rất quan trọng bởi các nguyên nhân như là muốn đưa ra
được một chiến lược marketing đúng đắn thì phải trả lời được các câu hỏi như khách
sẽ mua gì? Ở đâu? Tại sao mua? Và làm thế nào để họ thực hiện được hành vi mua
của mình? Điểm đến nào hấp dẫn đối với họ? Yêu cầu tổ chức, sắp xếp ra sao?
Khách du lịch thích chơi thể thao hay giải trí bằng game? Điều gì đã khuyến khích họ
và ngăn cản họ khi đi du lịch? Thời gian đi du lịch trong bao lâu? Những chuẩn bị
cho chuyến đi? Khách du lịch tìm hiểu thông tin về sản phẩm và điểm đến như thế
nào? Ai sẽ là người gây ảnh hưởng trong việc quyết định của họ? Những người ảnh
hưởng này có muốn quay trở lại và sử dụng lại dịch vụ ở nơi đó nữa hay không?...Tất
14