BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ THU TRANG
MÃ SINH VIÊN: 1201641
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG
CARBAPENEM TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ THU TRANG
MÃ SINH VIÊN: 1201641
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG
CARBAPENEM TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hương
2. ThS.NCS Đinh Đức Thành
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Dược Lâm Sàng
2. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ ......................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN ...................................................................................... 3
1.1. Tổng quan một số đặc điểm chung của kháng sinh carbapenem ................3
1.1.1. Lịch sử ra đời và cấu trúc hóa học ............................................................. 3
1.1.2. Đặc điểm dược động học ........................................................................... 4
1.1.3. Đặc điểm dược lực học .............................................................................. 5
1.1.4. Chỉ định...................................................................................................... 7
1.1.5. Chế độ liều và cách dùng thuốc ................................................................. 8
1.2. Tổng quan về các chiến lược bảo vệ nhóm kháng sinh carbapenem...........12
1.2.1. Vai trò của carbapenem trong điều trị nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn bệnh
viện và tình hình đề kháng kháng sinh carbapenem ................................................ 12
1.2.2. Chiến lược xuống thang khi sử dụng carbapenem .................................... 15
1.2.3. Chiến lược tối ưu hóa chế độ liều carbapenem ......................................... 15
1.2.4. Chiến lược giới hạn chỉ định của carbapenem........................................... 17
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................... 21
2.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................................21
2.2. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................21
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ................................................................................... 21
2.2.2. Phương pháp lấy mẫu ................................................................................ 21
2.2.3. Nội dung nghiên cứu.................................................................................. 21
2.3. Phương pháp xử lý số liệu ...............................................................................23
2.4. Các quy ước trong quá trình nghiên cứu .......................................................23
2.4.1. Đặc điểm mẫu bệnh nhân sử dụng carbapenem trên toàn bệnh viện ........ 23
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AmpC
AmpC-β-lactamase
AqB
A g mỗi B giờ
BN
C1G
Bệnh nhân
Cephalosporin thế hệ 1
C2G
C3G
Cephalosporin thế hệ 2
Cephalosporin thế hệ 3
C4G
Clcr
Cephalosporin thế hệ 4
Độ thanh thải creatinin
Qui trình thao tác chuẩn về thử nghiệm tính nhạy cảm kháng sinh
CLSI
Klebsiella pneumoniae carbapenemase
Kháng sinh
Tác dụng hậu kháng sinh (Post Antibiotic Effect)
Protein liên kết penicilin (Penicillin-binding Proteins)
R
S
T>MIC
Kháng
)
Nhạy cảm
Thời gian nồng độ thuốc lớn hơn nồng độ ức chế tối thiểu của vi khuẩn
TTSP
WHO
Thông tin sản phẩm
Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
DANH MỤC VIẾT TẮT TÊN VI KHUẨN
A.baumannii
Acinetobacter baumannii
E.coli
Escherichia coli
Ceftriaxon
CTX
Cefotaxim
CXM
Cefuroxim
FEP
Cefepim
FOX
Cefoxitin
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thông số dược động học của một số đại diện nhóm carbapenem ........... 5
Bảng 1.2. So sánh dược động học của imipenem và meropenem ở trẻ sơ sinh ....... 5
Bảng 1.3. Liều imipenem trên bệnh nhân có chức năng thận bình thường ............. 9
Bảng 1.4. Liều meropenem khuyến cáo theo các mức chức năng thận ................... 9
Bảng 1.5. Liều khuyến cáo của imipenem trên trẻ em............................................. 10
Bảng 1.6. Liều khuyến cáo của meropenem trên trẻ em .......................................... 10
Bảng 1.7. Cách pha và thời gian truyền ................................................................... 11
Bảng 2.1. Chỉ định carbapenem nhóm 1 theo phác đồ kinh nghiệm ....................... 25
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu ........................... 26
và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ tuyên bố rằng loài người hiện đang ở "kỷ nguyên
hậu kháng sinh". Sự nổi lên và lây lan nhanh chóng của vi khuẩn kháng kháng sinh
đang xảy ra trên toàn thế giới do sử dụng quá mức, lạm dụng các loại kháng sinh cũng
như thiếu sự phát triển thuốc mới. Nhiều thập kỉ qua sau khi bệnh nhân được điều trị
bằng kháng sinh thì hiện nay nhiễm khuẩn lại một lần nữa trở thành mối đe dọa cho
con người . Trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam,
vấn đề kháng thuốc đã trở nên báo động. Gánh nặng về chi phí điều trị do các bệnh
nhiễm khuẩn gây ra khá lớn do việc thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh
mới, đắt tiền [5], [21].
Carbapenem là nhóm kháng sinh thuộc họ beta lactam có hoạt phổ rộng nhất
hiện nay, với hiệu quả cao, dung nạp tốt, độc tính thấp được coi là kháng sinh dự trữ
trong điều trị các nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn bệnh viện và nhiễm khuẩn do các
chủng vi khuẩn đa kháng [65], [57], [19]. Chính bởi việc sử dụng rộng rãi nhóm
kháng sinh này, sự xuất hiện và lây lan nhanh chóng của các chủng kháng
carbapenem, chủ yếu là các vi khuẩn Gram (-) đã thành một vấn đề toàn cầu quan
trọng về chăm sóc sức khoẻ cộng đồng [57]. Nhằm bảo vệ được nhóm kháng sinh dự
trữ này, chương trình quản lý sử dụng kháng sinh (Antimicrobial stewardship
program-ASP) đã được nhiều quốc gia chú trọng triển khai nhằm tối ưu hóa việc lựa
chọn kháng sinh, tối ưu hóa chế độ liều và thời gian điều trị để vừa đạt được hiệu quả
điều trị lâm sàng tốt nhất, giảm thiểu độc tính và đặc biệt giảm thiểu tối đa việc phát
sinh đề kháng [32].
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ là bệnh viện đa khoa hạng I với vai trò một
đơn vị y tế đầu ngành của tỉnh, các bệnh nhân được điều trị có đặc điểm bệnh lý phức
tạp trong đó các bệnh lý nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ hàng đầu trong các nguyên nhân
1
khiến bệnh nhân nhập viện và tử vong. Hiện nay, các kháng sinh cephalosporin thế
hệ 3,4 là những nhóm kháng sinh được sử dụng phổ biến trong điều trị nhiễm khuẩn
phân lập từ xạ khuẩn Streptomyces cattleya, đó là thienamycin. Tuy nhiên, do đặc
tính không bền về hóa học, dễ bị phân hủy trong dung dịch do phản ứng amin phân,
thienamycin không được sử dụng trên lâm sàng. Sau đó, nhiều kháng sinh thuộc nhóm
carbapenem cũng đã được tìm ra như: imipenem, meropenem, ertapenem, doripenem
và lần lượt được cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kì (FDA) phê duyệt vào
các năm 1985, 1996, 2001, 2007 [11], [61], [84].
1.1.1.2. Cấu trúc hóa học
Carbapenem là các kháng sinh bán tổng hợp dựa trên cấu trúc của kháng sinh
beta-lactam. Nhờ có những thay đổi cấu trúc đặc biệt so với các kháng sinh penicilin
mà carbapenem có phổ kháng khuẩn rộng hơn cả so với hầu hết các kháng sinh
penicilin và cephalosporin [58], [59], [83], [84]. Hình dưới đây là công thức cấu tạo
chung của nhóm carbapenem, kháng sinh imipenem và meropenem.
Carbapenem
Imipenem
Meropenem
Hình 1.1. Công thức cấu tạo của carbapenem
Imipenem và meropenem lần lượt là dẫn xuất N-formimidoyl và
dimethylcarbamoylpyrolidinyl của thienamycin. Khác với imipenem, nhóm methyl ở
3
vị trí số 4 trong phân tử meropenem có vai trò quan trọng giúp cho meropenem bền
vững với enzyme DHP-1. Do vậy meropenem có thể dùng độc lập mà không cần phải
phối hợp với cilastatin như imipenem [11]. Bên cạnh đó, nhóm pyrolidinyl ở vị trí
carbon số 2 trong phân tử cũng giúp meropenem có hoạt tính với chủng P.aeruginosa
sinh imipenem và meropenem khi dùng đơn liều qua đường tiêm tĩnh mạch [84].
4
Bảng 1.1. Thông số dược động học của một số đại diện nhóm carbapenem
Kháng
sinh
Liều
Cmax
T1/2
Liên kết
Vd (L/kg)
F (%)
(g)
(mg/L)
(giờ)
protein (%)
0,5
30-35
Imipenem
1
0,23-0,31
20
60-70*
1
60-67
0,5
26
2,50
2,92
1,93
2,04
Vss (L/kg)
0,50
0,46
0,36
0,48
Cl (L/h/kg)
0,15
0,13
0,14
0,19
ClR (%)
nay. Phổ tác dụng của carbapenem trên nhiều loại vi khuẩn Gram (-) và Gram (+), vi
khuẩn ưa khí và kỵ khí, bao gồm:
- Vi khuẩn Gram (+) ưa khí: Staphylococcus aureus (nhạy với methicilin),
Staphylococcus epidermidis, Streptococci (S.pyogenes, S.agalactiae, S.viridans,
S.pneumoniae kể cả chủng kháng penicilli), Enterococci.
- Vi khuẩn Gram (-) ưa khí: các vi khuẩn Gram (-) không lên men bao gồm
P.aeruginosa, Burkholderia cepacia, Acinetobacter spp, Neisseria và Haemophilus.
Ngoài ra, phổ của carbapenem mở rộng trên cả các chủng sản xuất enzyme thủy phân
kháng sinh, đặc biệt là enzyme AmpC beta-lactamase như Enterobacter spp và ESBL
như E. coli, Klebsiella spp.
- Đối với vi khuẩn kỵ khí: carbapenem có hoạt tính mạnh chống lại hầu hết
các vi khuẩn Gram (+) và Gram (-) kỵ khí, bao gồm: Bacteroides (Bacteroides
fragilis, Bacteroides thetaiotaomicron), Prevotella bivia, Fusobacterium nucleatum,
Fusobacterium mortiferum, Peptostreptococcus asaccharolyticus và Clostridium
perfringens [37], [44], [84].
6
- Các vi khuẩn đề kháng bao gồm: Enterococcus faecium kháng ampicilin,
Staphylococci kháng methicilin, Stenotrophomonas maltophilia và một số chủng
Clostridium difficile [22], [44].
Carbapenem có tác dụng diệt khuẩn nhanh do chúng gắn với ái lực cao với hầu
hết các PBPs của cả vi khuẩn Gram (-) và Gram (+) [44].
Hoạt lực của các kháng sinh trong nhóm cũng có sự khác biệt nhất định. Phổ tác
dụng của meropenem tương tự nhưng có phần mạnh hơn trên chủng Gram (-) và kém
hơn trên vi khuẩn Gram (+) khi so với imipenem [37], [44], [84]. Ví dụ, meropenem
có hoạt lực mạnh gấp 2-6 lần so với imipenem đối với hầu hết Enterobacteriaceae,
trong khi đó imipenem dường như hoạt động mạnh hơn đối với các vi khuẩn Gram
(+), đặc biệt là E.faecalis. Điều này có thể giải thích là do sự khác biệt về khả năng
khác nhau. Đối với imipenem, cả 3 tài liệu thống nhất chỉ định nhiễm khuẩn cơ xương - khớp nặng/biến chứng. Dược thư quốc gia Việt Nam quy định imipenem
được dùng trong các trường hợp: chấn thương nặng với nhiều tổn thương kèm theo
nhiễm khuẩn; nhiễm khuẩn chân của người bệnh bị đái tháo đường do nhiều loại vi
khuẩn hỗn hợp; nhiễm khuẩ n sau mổ ở dạ dày ruột hoặc đường sinh dục nữ; những
nhiễm khuẩn rất nặng ngay cả khi không biết rõ loại vi khuẩn nào, hoặc trong trường
hợp nghi ngờ nhiễm cả vi khuẩn kị khí, hiếu khí, nhiễm khuẩn do nhiều loại vi khuẩn
hỗn hợp mà những thuốc khác có phổ hẹp hơn hoặc bị chống chỉ định do có nguy cơ
độc tính. Tờ TTSP của Mỹ khuyến cáo chỉ định viêm nội tâm mạc cho imipenem.
Đối với meropenem, chỉ định cho viêm màng não do vi khuẩn được thống nhất ở cả
3 tài liệu. Dược thư quốc gia Việt Nam và tờ TTSP của Anh có thêm chỉ định
meoropenem trong trường hợp bệnh nhân nhiễm khuẩn phế quản - phổi ở bệnh nhân
xơ nang.
1.1.5. Chế độ liều và cách dùng thuốc
1.1.5.1. Chế độ liều
Liều dùng trên đối tượng người lớn
Meropenem và imipenem đều là hai thuốc thải trừ chủ yếu qua thận, vì vậy liều
dùng của thuốc đều được khuyến cáo chỉnh liều theo chức năng thận đánh giá bằng
Clcr theo công thức Cockcroft-Gault.
Bảng 1.3 trình bày liều khuyến cáo của imipenem trên đối tượng có chức năng
thận bình thường (Clcr > 70 mL/phút) và cân nặng > 70 kg [35], [37].
8
Bảng 1.3. Liều imipenem trên bệnh nhân có chức năng thận bình thường
Loại nhiễm
khuẩn
Chủng hoàn toàn nhạy
cảm
khác [3], [33], [38].
Bảng 1.4. Liều meropenem khuyến cáo theo các mức chức năng thận
Chỉ định
Viêm phổi nặng (bao gồm viêm phổi bệnh
viện, viêm phổi thở máy)
Nhiễm khuẩn tiết niệu biến chứng
Nhiễm khuẩn ổ bụng biến chứng
Nhiễm khuẩn trong, hậu sản
Nhiễm khuẩn da mô mềm biến chứng
Sốt giảm bạch cầu trung tính
Nhiễm trùng phổi - phế nang trong xơ hóa
Nói chung, liều dùng trên người lớn
≥ 51
Clcr (mL/phút)
26-50
10-25
0,5q8
hoặc
1q8
0,5q12
hoặc
1q12
0,25q1
2 hoặc
0,5q12
Cân nặng ≥ 40 kg
Liều khuyến cáo
Tương tự người lớn
Liều với các nhiễm khuẩn không ở hệ thần kinh trung ương:
liều tối đa 15 – 25 mg/kg mỗi 6 giờ
Cân nặng < 40 kg và - Liều tối đa với các chủng nhạy cảm hoàn toàn: 2 g/ngày
trẻ ≥ 3 tháng tuổi
và với chủng nhạy cảm trung gian: 4 g/ngày
- Liều cao hơn (90 mg/kg/ngày) đã được sử dụng trên bệnh
nhân xơ hóa đường mật
Liều với các nhiễm khuẩn không ở hệ thần kinh trung ương:
Trẻ < 3 tháng tuổi và - Trẻ < 1 tuần: 25 mg/kg mỗi 12 giờ
- Trẻ 1 – 4 tuần: 25 mg/kg mỗi 8 giờ
cân nặng ≥ 1,5 kg
- Trẻ 4 tuần – 3 tháng: 25 mg/kg mỗi 6 giờ
Bảng 1.6 dưới đây trình bày liều của meropenem trên trẻ em [3], [33], [37].
Bảng 1.6. Liều khuyến cáo của meropenem trên trẻ em
Đối tượng
Cân nặng > 50 kg
Liều khuyến cáo
Tương tự người lớn
Tùy theo loại và mức độ nhiễm khuẩn:
- Viêm phổi nặng (bao gồm viêm phổi bệnh viện, viêm
phổi thở máy), nhiễm trùng tiết niệu biến chứng, nhiễm
3 tháng - 11 tuổi và cân trùng ổ bụng biến chứng, nhiễm trùng da mô mềm biến
chứng: 10 hoặc 20mg/kg mỗi 8 giờ
Thời
gian
Dung
môi
Sự ổn
định
Imipenem
Meropenem
- Tiêm tĩnh mạch: hòa 500 mg hoặc
1g meropenem trong 10 hoặc 20 ml
nước cất pha tiêm để tạo dung dịch có
nồng độ khoảng 50 mg/mL.
- Truyền tĩnh mạch: hòa tan trong
dung dịch NaCl 0,9% hoặc dextrose
5% đạt nồng độ 1 - 20 mg/mL.
Tốc độ truyền tùy liều lượng: - Tiêm IV chậm trong 3-5 phút
20-30 phút với liều < 0,5g và 40- - Truyền IV trong 15-30 phút
60 phút với liều > 0,5g.
Dung môi pha truyền: NaCl Dung môi pha tiêm: nước cất
0,9%, glucose 5% hoặc mannitol Dung môi pha truyền: NaCl 0,9%,
10%.
glucose 5%.
Dung dịch sau khi pha nên được Dung dịch sau khi pha nên được sử
sử dụng ngay lập tức. Khoảng dụng ngay lập tức. Khoảng thời gian
thời gian giữa lúc bắt đầu pha và giữa lúc bắt đầu pha và kết thúc
kết thúc truyền tĩnh mạch không truyền tĩnh mạch không nên quá 1
các nhiễm khuẩn bệnh viện và trên các bệnh nhân nhiễm khuẩn nằm tại bệnh viện là
các vi khuẩn thuộc nhóm ESKAPE bao gồm: E.faecium kháng vancomycin, S.aureus
kháng methicilin, K.pneumoniae và Enterobacter spp tiết ESBL/KPC/AmpC,
A.baumannii và P.aeruginosa đa kháng [15]. Gần đây, các nghiên cứu cũng đã cho
thấy tình trạng đề kháng kháng sinh của các chủng này cũng ngày càng gia tăng trong
đó có tỷ lệ cao các chủng Enterobacteriaceae bao gồm: E.coli, K.pneumoniae và
Enterobacter tiết ESBL. Năm 2009, một nghiên cứu đa trung tâm về tình hình đề
kháng kháng sinh của các chủng Gram (-) đã chỉ ra tỷ lệ đề kháng của các chủng
E.coli, K.pneumoniae, Enterobacter đáng báo động, lần lượt là 64%, 66%, 46% .
Nghiên cứu này cũng chỉ ra các chủng này một khi đã tiết ESBL thì không chỉ đề
kháng với các kháng sinh cephalosporin các thế hệ mà còn đề kháng các kháng sinh
12
aminoglycosid và fluoroquinolon với tỉ lệ cao. Chính vì vậy, carbapenem là lựa chọn
cuối cùng cho các vi khuẩn Enterobacteriaceae tiết ESBL. Các thách thức hiện nay
không chỉ liên quan đến các chủng trực khuẩn đường ruột sinh ESBL, mà còn liên
quan đến tình trạng đề kháng của các trực khuẩn Gram (-) không lên men như
P.aeruginosa và Acinetobacter ngày càng gia tăng, thậm chí đã có đa kháng diện rộng
với cả imipenem. Một số chủng đã kháng với hầu hết các kháng sinh, kể cả các
carbapenem như imipenem và meropenem [6], [15], [16], [77].
Nói chung, với đặc tính hiệu quả cao, ít tác dụng phụ và an toàn hơn so với các
kháng sinh lựa chọn cuối cùng khác (last-line) như polymyxin, carbapenem là nhóm
kháng sinh cuối cùng được ưu tiên lựa chọn trên các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng
và nhiễm khuẩn bệnh viện do các chủng Gram (-) sinh ESBL, các chủng đa kháng
[19], [57], [61].
1.2.1.2. Đề kháng kháng sinh carbapenem
Cơ chế đề kháng carbapenem
Do đặc tính ổn định với hầu hết các beta-lactamse trong đó có cả beta-lactamse
được chăm sóc đặc biệt như thở máy hay đặt catheter mạch máu. Các chủng này có
thể gây nên các tình trạng nhiễm trùng nặng và thường dẫn tới tử vong như nhiễm
khuẩn huyết và viêm phổi. Những vi khuẩn này trở nên kháng với đa số kháng sinh
như carbapenem và cephalosporin thế hệ 3, 4 - những loại kháng sinh tốt nhất hiện
nay để điều trị vi khuẩn đa kháng thuốc [80].
Trong tổng quan này, phụ lục 4 và phụ lục 5 chúng tôi tóm tắt tình hình kháng
thuốc của các vi khuẩn với carbapenem của một số khu vực trên thế giới và tại Việt
Nam dựa trên các số liệu thống kê cùng với các nghiên cứu khảo sát tình hình sử dụng
kháng sinh. Nhìn chung, kháng carbapenem đã bắt đầu xuất hiện và có xu hướng tăng
trong những năm trở lại đây tại hầu hết các khu vực. Yêu cầu tất yếu đặt ra phải có
những chính sách quản lý cũng như các chiến lược sử dụng kháng sinh hợp lý đặc
biệt là nhóm kháng sinh dự trữ này.
14
1.2.2. Chiến lược xuống thang khi sử dụng carbapenem
Nhằm hạn chế sử dụng kháng sinh phổ rộng kéo dài, tối ưu hóa hiệu quả sử
dụng kháng sinh trong điều trị kinh nghiệm khởi đầu, liệu pháp xuống thang được
khuyến cáo trong rất nhiều nghiên cứu và là mục tiêu của các chương trình quản lý
kháng sinh [43], [45], [46], [53], [54], [65]. Trong chiến lược này, khởi đầu với phác
đồ kháng sinh phổ rộng nhằm tăng hiệu quả và giảm thiểu đề kháng. Khi đã định danh
được tác nhân gây bệnh và có kết quả kháng sinh đồ, loại kháng sinh, số lượng kháng
sinh và thời gian sử dụng kháng sinh sẽ được điều chỉnh phù hợp. Thông thường
giảm thang xuống kháng sinh phổ hẹp hơn. Kháng sinh cũng có thể ngưng dùng nếu
chẩn đoán xác định không phải nhiễm khuẩn [46], [53], [54]. Chú ý tập trung lựa
chọn phác đồ kháng sinh xuống thang nhằm giảm thiểu đề kháng và độc tính, làm
tăng hiệu quả kinh tế [47]. Với đặc tính phổ rộng nhất hiện nay, carbapenem là lựa
chọn đơn trị liệu ưu tiên cho phác đồ kinh nghiệm khởi đầu trong liệu pháp xuống
thang, đặc biệt là các nhiễm khuẩn nặng và nhiễm khuẩn bệnh viện [25], [46], [47],
của PAE khoảng 2 - 4 giờ với imipenem và 4 - 5 giờ với meropenem [4], [61], [84].
1.2.3.2. Áp dụng chiến lược tối ưu hóa chế độ liều carbapenem trong lâm sàng
Áp dụng nguyên tắc dược động học/dược lực học, một số chiến lược tối ưu hóa
chế độ liều thông qua chỉ số T>MIC bao gồm: sử dụng liều cao hơn, rút ngắn khoảng
đưa liều, truyền liên tục hoặc kéo dài [19], [52], [56].
Cách dùng theo khuyến cáo của nhà sản xuất chủ yếu dừng lại ở việc truyền
30 phút - 1 giờ với meropenem và khoảng 20 phút -1 giờ với imipenem. Tuy nhiên,
liên quan đến lợi ích của chế độ truyền kéo dài (3 giờ - 4 giờ), thậm chí truyền liên
tục (24 giờ) carbapenem từ lâu đã quan tâm và được áp dụng nhiều trong cả nghiên
cứu cũng như trong thực hành lâm sàng. Trong nhiều nghiên cứu, dữ liệu dược động
học bệnh nhân đích dùng thuốc được tích hợp với dữ liệu dược lực học – thường là
trị số MIC của vi khuẩn gây bệnh thực sự, một dải trị số MIC từ thấp đến cao hoặc
các dữ liệu phân bố MIC của các chủng vi khuẩn công bố bởi CLSI hoặc EUCAST,
đánh giá khả năng đạt được các đích T>MIC hoặc Cmin>MIC đặt ra trước của các chế
độ liều và chế độ truyền. Từ đó, đề xuất những chế độ liều tối ưu nhìn nhận từ khía
cạnh PK/PD cho các nhóm bệnh nhân đặc thù khác nhau. Phụ lục 6 trình bày tóm tắt
các kết quả chính ghi nhận được trong một số nghiên cứu dược động học/dược lực
học quần thể mô phỏng các chế độ liều của meropenem và imipenem. Phần lớn các
16