Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
“ Giáo dục là quốc sách” đó là lời khẳng định đã được ghi trong nhiều
Văn kiện Đại hội Đảng qua các thời kỳ, điều đó chứng tỏ vai trò của giáo dục
đã được Đảng và Nhà nước ta nhận thức và quan tầm trong nhiều năm qua.
Một đất nước phát triển không thể tồn tài một nền giáo dục yếu kém và ở
trình độ thấp, một doanh nghiệp thành công không thể không có những nhân
viên, nhà quản lý có trình độ học vấn cao, và một con người được coi là thành
đạt, có ích cho xã hội không thể là một con người không có giáo dục. Việt
Nam vốn là một dân tộc hiếu học, có truyền thống văn hiến từ ngàn đời, ở
thời kỳ nào dù là thời bình hay thời chiến , giáo dục luôn được chú trọng và
phát triển, đồng thời nhờ có giáo dục mà Việt Nam đã có được nhiều anh
hùng, danh nhân văn hoá kiệt xuất giúp nước đánh giặc và xây dựng đất nước.
Thời đại ngày nay, Việt Nam với tham vọng to lớn “ thực hiện sự nghiệp công
nghiệp hoá và hiện đại hoá trong những năm tới” đã xác định con đường để
đạt tham vọng đó là phải phát triển một cách toàn diện và mạnh mẽ nền giáo
dục và đào tạo của đất nước. Với nhận thức và tầm nhìn đó, toàn dân tộc ta
đang bắt tay vào sự nghiệp trồng người với quy mô lớn và chất lượng cao.
Tuy nhiên, với xuất phát ở trình độ thấp, lực lượng lao động ở Việt Nam hiện
nay vẫn còn thấp, chủ yếu là lao động giản đơn và chưa qua đào tạo trong khi
đó với sự phát triển của khoa học và công nghệ thì nhu cầu về lao động chất
lượng cao là rất bức thiết. Điều đó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục và đào tạo phải
được quan tâm ở mức độ cao hơn và đi vào chiều sâu.
Trong những năm qua, cùng với đất nước, ngành giáo dục và đào tạo
(GDĐT) Hà Nội nói riêng và uỷ ban nhân dân(UBND) thành phố đã quan tâm
và đề ra những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm giải quyết những vấn
đề cơ bản và lâu dài của sự nghiệp giáo dục Thủ đô. Mặc dù còn nhiều khó
khăn nhưng ngành giáo dục Thủ đô vẫn không ngừng phấn đấu, hoạt động
sáng tạo nhằm góp phần thực hiện mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra, đó là
Trần Huy Công LớpQLKT44A
1
Trần Huy Công LớpQLKT44A
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trọng của GD-ĐT và qua những năm học tập, nghiên cứu lĩnh vực quản lý
trong đó việc phân cấp quản lý trong lĩnh vực tài chính là vấn đề tôi quan tâm
nhất. Qua thờI gian tìm hiểu thực tế công tác chi NSNN cho sự nghiệp GD-
ĐT của Sở Tài chính Hà Nội, tôi chọn đề tài “ Phân cấp quản lý trong chi
NSNN cho các đơn vị giáo dục và đào tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội,
Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Đề tài bao gồm 3 chương :
Chương I : Phân cấp quản lý và sự cần thiết phải hoàn thiện phân cấp
quản lý trong chi NSNN cho các đơn vị Giáo dục – Đào tạo.
Chương II: Thực trạng phân cấp quản lý trong chi NSNN cho các đơn vị
giáo dục và đào tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình phân cấp quản
lý chi NSNN cho các đơn vị giáo dục và đào tạo trên địa bàn thành phố Hà
Nội.
Với sự tận tình giúp đỡ của các thầy, cô giáo bộ môn trong trường Đại
học Kinh tế quốc dân, sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Phan Kim Chiến và
sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ phòng Tổ chức cán bộ, phòng Tài chính
Hành chính- Sự nghiệp , Sở Tài chính Hà Nội, nhưng là một sinh viên sắp tốt
nghiệp , kinh nghiệm thực tế hạn chế, khả năng nhận thức lý luận và thực tiễn
còn chưa sắc bén xuất phát từ sự thiếu kinh nghiệm, thời gian thực tập hạn
hẹp, cho nên đề tài này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế. Vì vậy, tôi kính mong sự phê bình, góp ý của các thầy , cô giáo, các cán
bộ phòng Tài chính Hành chính sự nghiệp - Sở Tài chính Hà Nội để đề tài này
được hoàn thiện và phong phú về lý luận và thực tiễn tốt hơn.
Trần Huy Công LớpQLKT44A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thể: khiển trách; thay thế nhân sự; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ quan và cá nhân.
Việc uỷ quyền quản lý kinh tế quốc dân có thể diễn ra dưới hai hình
thức :
1) Uỷ quyền chính thức thông qua luật định tổ chức bộ máy nhà nước
2) Uỷ quyền không chính thức là việc uỷ quyền mang tính tạm thời, theo
từng vụ việc diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định.
1.4 Các nguyên tắc phân cấp quản lý
Việc phân cấp quản lý kinh tế quốc dân gắn liền với tiến trình phát triển
của xã hội ( của lực lượng sản xuất, của trình độ dân trí, của các quan hệ quốc
tế mang tính dân chủ và toàn cầu v.v…), nó là sự biểu hiện cụ thể của nguyên
tắc tập trung dân chủ và kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa
phương và vùng lãnh thổ của quản lý kinh tế. Thông thường khi điều kiện
phát triển kinh tế và khoa học công nghệ còn thấp,các bộ, các địa phương rất
muốn được Nhà nước trung ương bảo hộ, che chắn cho họ - Khuynh hướng
quản lý tập trung được xã hội ủng hộ. Nhưng khi nền kinh tế đã phát triển
cao, các địa phương, các bộ ngành, các đơn vị, các cá nhân, đã có các nguồn
dư thừa để tích luỹ và phát triển thì họ lại mong được tự chủ để tự do cho
phân hệ của mình, nói cách khác mâu thuẫn giữa mục tiêu tối ưu của 4 cấp :
Nhà nước, bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp, công dân luôn luôn phải
được đặt ra để xử lý cho thoả đáng, đây chính là căn cứ để hình thành nên các
nguyên tắc phân cấp , quản lý kinh tế quốc dân. Các nguyên tắc phân cấp
quản lý kinh tế quốc dân là các quy tắc, các tiêu chuẩn hiệu quả mang tính xã
hội bắt buộc nhà nước phải vận dụng trong việc uỷ quyền quản lý kinh tế
quốc dân. Các nguyên tắc đó là:
Nguyên tắc hiệu quả và hiện thực : đây là nguyên tắc quan
trọng hàng đầu của việc phân cấp quản lý kinh tế quốc dân. Tập trung nguồn
lực có lợi nhất và được xã hội ủng hộ , chấp nhận nhất thì tập trung, còn uỷ
quyền có lợi hơn, được thực hiện nghiêm túc hơn thì uỷ quyền. Hiệu quả ở
nghiệp đang dần dần loại bỏ chức năng vốn có của Nhà nước, nhà nước đang
từng bước bị vô hiệu hoá.
Trần Huy Công LớpQLKT44A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyên tắc ổn định tương đối, là nguyên tắc phân cấp đòi hỏi :
thứ nhất, việc phân cấp phải được pháp chế hoá, đảm bảo tính ổn định tương
đối cho các cấp dưới trong quá trình quản lý của mình, tạo cơ sở tốt cho công
tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ tương xứng, tránh gây phiền hà cho các doanh
nghiệp và công dân trong các hoạt động kinh tế của mình. Thứ hai, việc phân
cấp phải luôn luôn nắm vững nguyên tắc thứ nhất để chỉnh lý kịp thời cho
việc phân cấp của các cấp dưới, tuân thủ nghiêm ngặt các đòi hỏi của quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của các lực lượng sản
xuất, nhưng sự điều chỉnh phải được cân nhắc kỹ lưỡng và cũng không nên
thay đổi tuỳ tiện nhanh chóng như đã xét.
Nguyên tắc tuân thủ của mối quan hệ quản lý, đây là nguyên
tắc thể hiện tính dân chủ và đặc trưng của mỗi chế độ xã hội. Nếu nhà nước
của các nước tư bản chủ nghĩa chủ yếu là kẻ đại diện cho thế lực của những
giai cấp bóc lột, hoặc như hiện nay là của các nhóm, các tập đoàn kinh tế lớn,
các thế lực chính trị thao túng xã hội, thì nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà
nước bảo vệ lợi ích cho tuyệt đại đa số nhân dân lao động và cho cả xã hội,
mối quan hệ giữa cơ quan cấp trên và cấp dưới là mối quan hệ cũng chung lợi
ích dựa trên lợi ích tinh thần dân chủ , công bằng xã hội, thì trong việc tổ chức
vận hành cơ chế phân cấp quản lý phải đảm bảo đúng các mối quan hệ đó.
2.Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự quá trình phát triển kinh tế
2.1.Giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội
Thiên niên kỷ mới đã bắt đầu với một xu thế lớn và sự toàn cầu hoá dẫn
đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia về kinh tế, chủ yếu là kinh tế tri
thức và công nghệ. Đó cũng là tiền đề cho sự hình thành nền văn minh thứ ba
của nhân loại - Nền văn minh trí tuệ.
không thể thiếu được của bất kỳ xã hội nào, một thời đại nào để duy trì, phát
triển và tiến hoá đời sống xã hội loài người. Thông qua hoạt động giáo dục
thúc đẩy tài nguyên phát triển từ đó đưa tới những thành quả mà nhu cầu xã
hội cần . Vậy có thể nói hoạt động giáo dục là phương thức tái sản xuất và tái
sảnt xuất mở rộng sức lao động xã hội để phù hợp với điều kiện phát triển xã
hội trong từng thời kỳ.
Trần Huy Công LớpQLKT44A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiến pháp năm 1992 , điều 35 đã ghi rõ “Giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu.Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người
lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức,
có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Như vậy vai trò của giáo dục và
đào tạo đã được thể chế hoá trong các văn bản phạm pháp quy của nước ta.
Điều đó chứng tỏ sự quan tâm rất lớn của Đảng vgiaNhà nước ta đối với nền
giáo dục. Hiện nay, Hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta bao gồm :
(1). Giáo dục mầm non: gồm cả nhà trẻ mẫu giáo
(2). Giáo dục phổ thông: gồm cả hai bậc là tiểu học và trung học ; trong
đó bậc trung học có hai cấp là trung học cơ sở và trung học phổ thông.
(3). Giáo dục nghề nghiệp : gồm trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
(4). Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ : cao đẳng và đại học ; giáo
dục sau đại học : thạc sỹ và tiến sỹ.
Hệ thống giáo dục Việt Nam là một hệ thống 5-4-3-4, tức là một người
trải qua toàn bộ hệ thống giáo dục từ lớp một đến đại học mà không bỏ ,
không lưu ban lớp nào thì sẽ bắt đầu với 5 năm tiểu học, 4 năm trung học cơ
sở và 3 năm trung học phổ thông và kết thúc với 4 năm đại học ( có thể là 5
hoặc 6 năm tuỳ theo ngành nghề đào tạo ).
Chính sách xã hội về giáo dục đã được thực hiện tốt hơn và có
hiệu quả hơn
Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng
xa phát triển mạnh và có tiến bộ rõ rệt. Mạng lưới trường, lớp về cơ bản đã
đảm bảo cho các con em các dân tộc được học tập ngay tại xã, thôn, bản.
Chất lượng giáo dục đã có chuyển biến bước đầu
Nội dung giảng dạy và kiến thức của học sinh phổ thông có tiến bộ,
toàn diện hơn và tiếp cận dần với phương pháp học tập mới. Trong giáo dục
nghề nghiệp, chất lượng đào tạo của một số ngành nghề như y dược , nông
Trần Huy Công LớpQLKT44A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp cơ khí, xây dựng, giao thông vận tải về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu của
thực tế và đời sống hiện nay
Điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục được tăng cường hơn
Đã xây dựng được một đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
đông đảo với tổng số trên một triệu người( khoảng 950.000 giáo viên, giảng
viên và trên 90.000 cán bộ quản lý giáo dục ) với trình độ ngày càng nâng
cao. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các cấp , bậc học, ở mọi vùng miền đã
được cải thiện đáng kể trong 5-6 năm qua, nhất là từ khi thực hiện chủ trương
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và kiên cố hoá trường học.
Các bất cập, yếu kém và khuyết điểm trong giáo dục
Chất lượng giáo dục đại trà, đặc biệt ở bậc đại học còn thấp;
phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới.
Kiến thức cơ bản về xã hội, kỹ năng thực hành và khả năng tự học của
số đông học sinh phổ thông còn kém. Nhà trường phổ thông vẫn chưa khắc
phục được tình trạng thiên về dạy chữ, nhẹ về dạy người. Công tác hướng
nghiệp, phân luồng học sinh sau THCS và THPT còn chưa được quan tâm
đúng mức. Chất lượng đào tạo đại trà của giáo dục nghề nghiệp và đại học
còn thấp, tình trạng người học thiếu cố gắng, thiếu trung thực khá phổ biến;
Chi đầu tư phát triển
Chi thường xuyên
Theo luật NSNN quy định thì chi cho sự nghiệp GD-ĐT được xếp vào
khoản chi thường xuyên. Trên thực tế, nếu xét về hiện tượng bên ngoài thì chi
NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT là khoản chi mang tính chất tiêu dùng hiện tại ,
không mang tính hoàn trả trực tiếp và không trực tiếp tạo ra của cải vật chất
song xét về tác dụng lâu dài của nó là khoản chi mang tính chất tích luỹ đặc
biệt. Khoản chi này là một trong những nhân tố quyết định đến việc tăng
trưởng kinh tế trong tương lai vì nó không hoàn toàn mất đi sau quá trình tiêu
dùng mà được tạo thành “chất xám” của con người cho tiêu dùng tương lai.
Chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT là việc đảm bảo nguồn lực Tài chính
để thực hiện việc phát triển sự nghiệp GD-ĐT.
Trần Huy Công LớpQLKT44A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu phân chia NSNN cho sự nghiệp giáo dục theo nội dung từng nhóm
mục chi thì chi NSNN cho giáo dục bao gồm những khoản sau :
• Nhóm 1: Chi thanh toán cá nhân :
Thuộc nhóm chi bao gồm : tiền lương, tiền công, đồng thời các khoản
về phụ cấp lương, BHXH, BHYT, phúc lợi tập thể cho cán bộ giáo viên, cán
bộ của trường. Trong kế hoạch chi thường xuyên của NSNN cho GD-ĐT thì
khoản này thường chiếm tỷ trọng lớn, mục đích của nhóm chi này nhằm đảm
bảo được hoạt động giảng dạy và cơ cấu tổ chức bộ máy nhà trường. Qua các
khoản chi thuộc nhóm này Nhà nước đảm bảo duy trì đội ngũ cán bộ quản lý
hành chính; giáo viên giảng dạy từ đó đảm bảo sự tồn tại của hệ thống giáo
dục quốc dân.
• Nhóm 2 : Chi cho nghiệp vụ chuyên môn:
Thuộc nhóm chi này bao gồm các khoản chi về công tác giảng dạy, học
tập chủ yếu chi về mua sắm sách giáo khoa, giáo trình tài liệu tham khảo cho
giáo viên, đồ dùng học tập, vật liệu hoá chất thử nghiệm… Đây là khoản chi
Hiện nay phân cấp quản lý đang là xu hướng chung đã và đang diễn ra
mạnh mẽ trên thế giới ở các tổ chức nhà nước , các tập đoàn kinh tế và các
doanh nghiệp. Vai trò của phân cấp quản lý ngày càng rõ nét hơn khi quy mô
của tổ chức ngày càng lớn dần và phát triển cả về bề rộng và chiều sâu. Một
doanh nghiệp tư nhân có thể không cần phân cấp trong hoạt động kinh doanh
của nó , tuy nhiên việc phân cấp sẽ phải diễn ra khi doanh nghiệp tư nhân đó
muốn phát triển. Trong lĩnh vực tài chính mà cụ thể là lĩnh vực chi NSNN của
các cơ quan quản lý nhà nước thì việc phân cấp quản lý là rất cần thiết và có
vai trò to lớn. Như ở mục 1 đã nêu , thì hệ thống kinh tế quốc dân có quy mô
hết sức to lớn và được bố trí trong một không gian rộng lớn với các hoạt động
và quá trình sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế khác nhau, thì trong
hệ thống tài chính của quốc gia , cụ thể hơn là hệ thống tài chính của một
thành phố ( Hà Nội ) không gian , các hoạt động cũng hết sức sôi động và
phức tạp. Đặc biệt quản lý chi NSNN cho lĩnh vực giáo dục , lĩnh vực được sự
Trần Huy Công LớpQLKT44A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quan tâm của người dân và chính quyền địa phương, cần có sự phân cấp để
việc quản lý hiệu quả hơn . Vai trò đó được thể hiện ở các khía cạnh sau :
Phân cấp quản lý chi ngân sách là để xác định phạm vi trách
nhiệm và quyền lợi của chính quyền nhà nước các cấp trong việc quản lý
NSNN, nhằm tập trung đầy đủ, kịp thời đúng chính sách các nguồn thu của
ngân sách nhà nước, phân phối, sử dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, hiệu
quả cao, phục vụ các mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch phát triển giáo dục của
thành phố.
Phân cấp quản lý trong chi NSNN cho các đơn vị GD-ĐT sẽ hạn
chế tình trạng tập trung, ôm đồm quá nhiều việc của cơ quan chủ quản quản lý
ngân sách thành phố( Sở tài chính thành phố) đồng thời tăng tính chủ động ,
trách nhiệm của các cơ quan được phân cấp ( các phòng giáo dục , phòng tài
chính cấp quận, huyện), và tăng tính thực tế, hiệu quả trong việc sử dụng ngân
Theo hệ thống NSNN, hiện nay NSNN ta bao gồm : cấp NSTW và
NSĐP trong đó NSĐP bao gồm ngân sách Tỉnh, thành phố, ngân sách Quận,
huyện và ngân sách xã, phường. Mỗi cấp ngân sách đảm đương những nhiệm
vụ khác nhau và được quy định trong luật ngân sách. Trong những giai đoạn
khác nhau, nhiệm vụ chi cũng khác nhau và chi NSNN cho sự nghiệp giáo
dục tuỳ thuộc vào sự biến động trong quá trình hoàn thiện cơ chế phân cấp
quản lý chi NSNN ở nước ta.
Từ khi luật NSNN ra đời, các khoản chi cho sự nghiệp GD-ĐT trên địa
bàn thành phố được cân đối vào Ngân sách cấp Quận, Huyện từ năm 1993 các
thành phố đã chuyển nhiệm vụ chi giáo dục cho ngân sách thành phố đảm bảo
vì ngân sách các Quận, huyện không thể đảm bảo được trách nhiệm này khi
nhu cầu phát triển ngày càng gia tăng. Từ đây ngân sách cấp Quận, huyện chỉ
đóng vai trò hỗ trợ cho sự nghiệp GD-ĐT, chi đảm bảo một số khoản chi như
mua sắm, sửa chữa.
Sửa chữa nhỏ chi cho tất cả các trung tâm dạy nghề. Kể từ đó, Sở tài
chính kết hợp với Sở giáo dục và đào tạo quản lý nguồn kinh phí cho sự
nghiệp này.
Trần Huy Công LớpQLKT44A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Từ khi luật NSNN ra đời và thực hiện, việc chi cho các đơn vị GD-ĐT,
trên địa bàn Thành phố đã thay đổi và quy định như sau: Chi thường xuyên
cho sự nghiệp GD-ĐT được phân cấp cho Ngân sách thành phố đảm nhiệm và
thực hiện cấp phát theo hình thức cấp phát kinh phí, theo cơ quan tài chính
cấp Quận, huyện. Thực hiện cơ chế phân cấp này có thể tránh tình trạng
không thống nhất trong công tác quản lý theo ngành và lãnh thổ, đồng thời
chính quyền cấp Quận, huyện có thể nắm được tình hình Ngân sách cho sự
nghiệp giáo dục trên địa bàn Quận, huyện quản lý.
Quá trình tổ chức quản lý các khoản chi NSNN cho các đơn vị giáo dục
và đào tạo Quận, huyện được cấp phát theo hình thức cấp phát kinh phí có thể
triển giáo dục.
Đối với ngân sách Quận, huyện mặc dù không phải đảm đương nhiệm
vụ chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục Quận, huyện như trước đây
nhưng ngân sách Quận, huyện hàng năm phải có trách nhiệm hỗ trợ về kinh
phí đối với nhiệm vụ chi xây dựng cơ bản, chống xuống cấp và mua sắm tài
sản cố định giáo dục cho hoạt động giáo dục ở Quận, huyện theo sự phân cấp
của Uỷ ban thành phố và quản lý theo chế độ đầu tư của Nhà nước.
Có thể tóm tắt việc phân cấp quản lý chi NSNN cho các đơn vị GD-ĐT
như sau :
Mô hình phân cấp quản lý chi NSNN cho GD ở các địa phương
Trần Huy Công LớpQLKT44A
18
Sở giáo dục và đào
tạo
Sở tài chính
Phòng tài chính
Các đơn vị giáo dục
và đào tạo
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Từ sơ đồ trên ta có thể thấy vai trò quản lý của Sở tài chính đối với
ngân sách Thành phố là rất lớn , chưa phát huy được vai trò, chức năng của
các phòng tài chính cấp Quận, huyện. Trên thực tế , các phòng tài chính Quận
huyện chỉ là đơn vị nhận kinh phí trực tiếp từ Ngân sách thành phố sau đó
phân bổ về các đơn vị giáo dục và đào tạo . Các phòng tài chính hiện nay chỉ
đóng vai trò hỗ trợ trong việc quản lý chi NSNN , chưa thực sự phát huy được
vai trò quản lý của mình. Mọi khâu trong quá trình quản lý chi NSNN: như
lập kế hoạch chi NS, tổ chức thực hiện chi NS, và kiểm tra việc chấp hành chi
NS đều không có sự tham gia trực tiếp của các đơn vị cơ sở : đơn vị giáo dục
và các phòng tài chính. Việc phân cấp quản lý này đã tạo ra nhiều quyền lực
cho cơ quan quản lý về tài chính cao nhất của Thành phố nhưng đồng thời
nhóm còn lại nên không thể đáp ứng yêu cầu phục vụ nâng cao chất lượng
đào tạo.
Từ thực tế trên, cần thiết phải có sự tham gia của các phòng tài chính,
phòng giáo dục cấp quận, huyện và các đơn vị giáo dục và đào tạo trong công
tác quản lý chi NSNN , đặc biệt là khâu lập dự toán chi và kiểm tra chấp hành
chi NSNN.
2 . Những thay đổi về cơ chế quản lý chi NSNN cho các đơn vị giáo dục và
đào tạo hiện nay đến quá trình phân cấp quản lý.
Hiện nay , Hà Nội đang thực hiện cơ chế khoán thu chi tài chính cho
các đơn vị sự nghiệp hành chính trên địa bàn . Vì vậy, việc quản lý chi NSNN
đòi hỏi phải thay đổi cho hợp lý.
2.1 Về công tác lập dự toán chi NSNN cho sự nghiệp GD-ĐT
Luật NSNN được thông qua tháng 11 năm 2002 quốc hội khoá 11 bắt
đầu có hiệu lực từ năm NS 2004, công tác lập dự toán NSNN nói chung và
lập dự toán kinh phí của ngành GD-ĐT Hà Nội nói riêng sẽ có những thay đổi
cơ bản sau :
Trách nhiệm trong xét duyệt dự toán kinh phí cho các cơ sở GD-
ĐT do thủ trưởng các cơ quan quản lý giáo dục tuỳ theo cơ chế quản lý phân
cấp quản lý NS hiện đang có hiệu lực
Trần Huy Công LớpQLKT44A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cơ quan có trách nhiệm tổng hợp dự toán kinh phí, chấp nhận
tổng mức kinh phí mà đơn vị dự toán cấp dưới đề nghị sau khi đã được thẩm
tra bởi các cơ quan chức năng là hợp lý . Sau đó sẽ được ghi vào dự toán chi
ngân sách cho GD-ĐT.
Trần Huy Công LớpQLKT44A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2 Công tác chấp hành chi NSNN cho các đơn vị GD-ĐT
tỉnh : Thái Nguyên ở phía Bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, Hà Tây
và Vĩnh Phúc ở phía Nam và phía Tây. Hà Nội có diện tích xấp xỉ 1000km2,
khoảng cách từ cực Bắc xuống cực Nam thành phố dài trên 50 km và từ cực
Tây sang cực Đông gần 30 km. Dân số hiện nay toàn thành phố là gần 4 triệu
người với mật độ dân số trung bình cao nhất Việt Nam là 4000 người/km2
trong đó dân số nội thành chiếm 40% và dân số ngoại thành chiếm 60%.
Hà Nội có 9 quận nội thành là : Quận Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà
Trưng, Tây Hồ, Ba Đình, Cầu Giấy , Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long Biên vơi
diện tích nội thành là gần 70 km2 chiếm 8% diện tích toàn thành phố.
Có 5 huyện ngoại thành là : Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn,
Thanh Trì với diện tích là 930km2 chiếm 92% diện tích toàn thành phố.
Với vị trí địa lý và diện tích như vậy, từ lâu Hà Nội đã có ưu thế rất đặc
biệt so với các địa bàn khác trên cả nước . Là đầu tàu phát triển kinh tế của
đất nước, là nơi giao lưu văn hoá , là nơi hội tụ nhân tài và cũng là nơi có
những điều kiện thuận lợi bậc nhất cả nước: giao thông đường bộ, đường sắt,
đường hàng không, đường thuỷ , và khí hậu thời tiết.
Hà Nội là nơi tập trung của rất nhiều trường đại học, cao đẳng, viện
nghiên cứu... nơi tập trung đội ngũ các nhà khoa học, các chuyên gia đầu
Trần Huy Công LớpQLKT44A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ngành trên nhiều lĩnh vực. Là mảnh đất có truyền thống hiếu học , từ lâu
ngành giáo dục và đào tạo Hà Nội đã có những phát triển vượt bậc về quy mô
và chất lượng. Đồng thời là một thành phố đông dân, trình độ dân trí cao hơn
so với các địa phương trong cả nước ( mặc dù thu nhập GDP/người của Hà
NộI chưa phải cao nhất) điều đó chứng tỏ sự quan tâm của người dân đến giáo
dục là rất lớn. Do mật độ dân số đông lại phân bổ không đồng đều, chủ yếu
tập trung ở nội thành nên số học sinh, sinh viên ở nội thành chiếm tỷ trọng
lớn, mạng lưới trường lớp cũng chủ yếu tập trung ở nội thành trong khi diện
tích nhỏ ở nội thành dẫn tới kết quả là cơ sở vật chất nghèo nàn , thiếu thốn so
trường
(05/04)
Đạt
chuẩn
QG
Số lớp
(05/04)
Số học
sinh
(05/04)
Số HS
tuyển
mới
đầu cấp
Giáo
viên
(05/04)
Phòng
học
Mầm
non
341
/331
16 4.145
/3.648
113.035
/106.918
26.009 7.045
/6.596
4.341
(nguồn số liệu: Sở giáo dục và đào tạo thành phố Hà Nội)
Từ bảng trên , chúng ta thấy được sự phát triển về quy mô giáo
dục của giáo dục Thủ Đô trong 2 năm vừa qua. Từ giáo dục mầm non cho đến
giáo dục trung học phổ thông, Trung học chuyên nghiệp đều có số lượng học
sinh nhập học tăng. Số trường đạt chuẩn quốc gia tăng lên nhanh chóng trong
đó cấp THPT - cấp học quan trọng trong hệ thống giáo dục đã có một số
trường đạt chuẩn quốc gia , điều này chứng tỏ giáo dục Hà NộI phát triển khá
toàn diện , trải đều ở tất cả các bậc học. Số lượng giáo viên năm 2005 so với
năm 2004 tăng lên nhiều- đây là tín hiệu tốt cho chất lượng của giáo dục thủ
đô.
Trần Huy Công LớpQLKT44A
25