ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM CỦA CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM CỦA CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thuận
Hà Nội – 2017
1.2.1. Khái niệm ........................................................................................................20
1.2.2. Đặc điểm .........................................................................................................20
1.2.3. Phân loại các vi phạm .....................................................................................22
1.3. Xử lý vi phạm pháp luật của công ty chứng khoán............................................23
1.3.1 Khái niệm .........................................................................................................23
1.3.2 Đặc điểm ..........................................................................................................23
1.4. Pháp luật về xử lý vi phạm của công ty chứng khoán. ......................................24
1.4.1. Khái niệm ........................................................................................................24
1.4.2 Nội dung pháp luật về xử lý vi phạm của công ty chứng khoán ......................25
1.5. Vai trò của pháp luật về xử lý vi phạm ..............................................................27
1.6. Pháp luật về xử lý vi phạm của công ty chứng khoán ở một số nước. .....................28
1.6.1.Pháp luật Mỹ ....................................................................................................28
1.6.2. Pháp luật Trung quốc ......................................................................................28
1.6.3.Pháp luật Hàn Quốc .........................................................................................29
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM .............................................32
2.1.Thực trạng các quy định pháp luật về xử lý vi phạm của CTCK .......................32
2.1.1. Xử lý vi phạm nghĩa vụ dân sự .......................................................................32
2.1.2.Xử phạt vi phạm hành chính ............................................................................35
2.1.3.Xử lý vi phạm hình sự ......................................................................................45
2.2 Thực trạng thực thi pháp luật ..............................................................................50
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT
NAM .........................................................................................................................58
3.1.Yêu cầu phải hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm của công ty chứng khoán. ....58
3.2.Nội dung hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm của CTCK...................................60
3.3.Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm của CTCK ........................62
KẾT LUẬN ..............................................................................................................70
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 2.2
Bảng các trƣờng hợp vi phạm đã bị xử phạt hành
chính trong năm 2014, 2015, 2016
51
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công ty chứng khoán (CTCK) là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói
riêng. CTCK là cầu nối giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư, là nhân tố
tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt, cung cấp cơ chế giá cả cho giao
dịch và tạo ra tính thanh khoản cho các chứng khoán đồng thời là nhà tạo
lập TTCK. Bởi lẽ, CTCK đóng vai trò vừa mua và vừa bán chứng khoán
cho chính mình, vừa mua chứng khoán cho khách hàng, vừa làm tư vấn
cho doanh nghiệp niêm yết, vừa tư vấn cho nhà đầu tư và bảo lãnh phát
hành cho tổ chức phát hành chứng khoán… Với đội ngũ hành nghề là các
chuyên gia kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán, có nghiệp vụ chuyên
môn cao, lành nghề và tổ chức bộ máy chặt chẽ để thực hiện vai trò trung
gian trên thị trường chứng khoán (TTCK).
CTCK ở Việt Nam đã ban hành khá đầy đủ và càng ngày quy định mức xử
phạt càng được nâng cao nhằm răn đe các hành vi vi phạm, trong đó có các
quy định tại các tội phạm trong Bộ luật Hình sự. Để đảm bảo sự phát triển ổn
định của TTCK, đảm bảo sự an toàn, minh bạch trong các giao dịch và quyền
lợi của các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của TTCK, các hành vi vi phạm ngày
càng tinh vi do mức xử phạt quá nhẹ, không mang tính răn đe, việc xử lý vi
phạm còn hạn chế. Vì vậy, việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật chứng
khoán và thị trường chứng khoán là cần thiết phải được xem xét lại nên tác
giả xin chọn đề tài: “ Pháp luật về xử lý vi phạm của CTCK ở Việt Nam”
nhằm góp phần đóng góp ý kiến, đê xuất cho các nhà làm luật hoàn thiện các
2
quy phạm pháp luật, điều chỉnh có hiệu quả hoạt động kinh doanh chứng
khoán của CTCK.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Về vấn này, tác giả được biết hiện tại có một số công trình và bài viết
như: Pháp luật về công ty chứng khoán ở Việt Nam, Lê Thị Thu Thủy, Nhà
xuất bản Tư pháp năm 2011; Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm trên thị
trường chứng khoán ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Bùi Thanh Ngà, 2007; Vi
phạm, xử lý vi phạm pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán tại
Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Nguyễn Ngọc Lương; Pháp luật về công ty
chứng khoán ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Nguyễn Hồng Nhung, khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009; Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán ở nước ta hiện nay –
thực trạng và giải pháp, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội ,
2009; Pháp luật về xử lý vi phạm chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt
Nam, Khóa luận tốt nghiệp Vũ Mai Hoa, Hà Nội, 2011; Quá trình xây dựng và
hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở
trong quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trên thị trường chứng
khoán để đưa ra kiến nghị, phương hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi
phạm chứng khoán và thị trường chứng khoán nói chung cũng như pháp luật
về xử lý vi phạm của công ty chứng khoán nói riêng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm hiểu các hành vi vi phạm quy định pháp luật
về kinh doanh chứng khoán, nguyên tắc xử lý vi phạm, các hình thức xử phạt vi
phạm, thẩm quyền xử phạt vi phạm, pháp luật về xử lý vi phạm của công ty
chứng khoán, thực tiễn vi phạm pháp luật về chứng khoán của công ty chứng
khoán và xử lý vi phạm pháp luật của công ty chứng khoán, chỉ ra những bất
4
cập, vướng mắc còn tồn tại nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm của
công ty chứng khoán để phát triển thị trường chứng khoán ổn định và bền vững.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ đặt ra:
Một là, cần làm rõ một số vấn đề lý luận về công ty chứng khoán và
pháp luật về xử lý vi phạm của công ty chứng khoán ở thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng. Cụ thể, tìm hiểu các khái niệm, đặc điểm, phân loại
CTCK, vi phạm pháp luật của CTCK, pháp luật về xử lý vi phạm của CTCK.
Hai là, qua việc nghiên cứu đó để đánh giá thực trạng pháp luật điều
chỉnh việc xử lý vi phạm của công ty chứng khoán và thực trạng thực thi
pháp luật và xử lý vi phạm, rút ra các ưu điển, hạn chế, bất cập, tồn tại trong
các quy định hiện hành trên cơ sở so sánh với các quy định trước đây và đảm
bảo phù hợp với các quy định pháp luật, thông lệ quốc tế.
Ba là, đề xuất phương hướng và các giải pháp, kiến nghị để phù hợp với
thực tế hoạt động của các CTCK và phương hướng hội nhập quốc tế sâu rộng.
khoán để chỉ ra những điểm bất cập, khó khăn cần khắc phục.
Việc nghiên cứu các vi phạm và biện pháp xử lý vi phạm đối với CTCK
có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về hạn chế vi phạm và
kiểm soát vi phạm của các CTCK. Từ đó, mạnh dạn kiến nghị hướng sửa đổi,
hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm của công ty chứng khoán cho phù hợp
với thực tế và phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công ty chứng khoán, vi phạm pháp
luật của công ty chứng khoán và pháp luật về xử lý vi phạm của công ty
chứng khoán.
6
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về xử lý vi phạm của công ty
chứng khoán ở Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử
lý vi phạm của công ty chứng khoán ở Việt Nam.
7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN, VI
PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ PHÁP
LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Công ty chứng khoán
luật của mỗi nước đưa ra khái niệm CTCK như sau:
Theo Luật Chứng khoán nhân dân Trung Hoa ban hành ngày
19/12/1998, đưa ra định nghĩa công ty chứng khoán như sau: “ CTCK là một
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần làm nghiệp vụ kinh doanh
chứng khoán”.
Còn Luật Chứng khoán và Giao dịch Hàn Quốc thì quy định: “ CTCK là
công ty cổ phần được Bộ Tài chính và kinh tế cấp phép kinh doanh chứng
khoán”.
Luật Chứng khoán Thái Lan định nghĩa CTCK là: “ CTCK là công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty hữu hạn đại chúng hoặc tổ chức tài chính được
cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán”.
Luật Chứng khoán Nhật Bản thì quy định: “CTCK là bất kỳ một công ty
cổ phần nào đó được Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp phép kinh doanh chứng
khoán”.
Luật Chứng khoán của Liên minh Châu âu EU mở rộng các hình thức
pháp lý, loại hình doanh nghiệp được phép kinh doanh lĩnh vực chứng khoán
quy định: “Công ty chứng khoán là pháp nhân hoặc không phải pháp nhân
thực hiện các dịch vụ đầu tư kinh doanh chứng khoán cho bên thứ ba như là
nghiệp vụ của chính mình”.
Luật chứng khoán Mỹ cho phép CTCK được thành lập dưới cả ba hình
thức đó là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh.
Tựu chung lại, pháp luật của các quốc gia đều quy định rõ về hình thức pháp
lý của CTCK có thể là mô hình trách nhiệm hữu hạn, cổ phần hoặc hợp danh
được cấp phép kinh doanh và hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Không ngoại lê, pháp luật Việt Nam về chứng khoán đưa ra định nghĩa
CTCK tại Điều 2 khoản 13 Nghị định 48/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày
9
11 tháng 7 năm 1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán là: “Công ty
vấn đầu tư chứng khoán và được cung cấp các dịch vụ tài chính theo quy định
của pháp luật chứng khoán.
Qua các quy định cụ thể của pháp luật chứng khoán có thể khái quát định
nghĩa về CTCK như sau: Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công
ty TNHH được thành lập, hoạt động theo quy định pháp luật chứng khoán để
thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán.
1.1.2
Đặc điểm
Công ty chứng khoán là loại hình doanh nghiệp được thành lập, hoạt
động trên cơ sở các quy định của pháp luật doanh nghiệp và Luật chứng
khoán nên có đầy đủ đặc điểm của doanh nghiệp nói chung. Bên cạnh đó, do
công ty chứng khoán kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù nên có những đặc
điểm pháp lý riêng biệt giúp chúng ta nhận biết và phân biệt chúng với các
doanh nghiệp kinh doanh khác, cụ thể:
Thứ nhất, về hình thức tổ chức pháp lý: Công ty chứng khoán được tổ
chức dưới hai hình thức phổ biến là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm
hữu hạn. Pháp luật các nước đều có những quy định riêng về loại hình, hình
thức pháp lý của CTCK để phù hợp với tính chất thị trường tài chính của từng
nước. Nhưng hình thức chủ yếu đó là theo mô hình công ty trách nhiệm hữu
hạn và công ty cổ phần.
Quy định công ty chứng khoán là trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ phần vì
đây là mô hình phổ biến trong nền kinh tế thị trường, có quy chế pháp lý, tổ
chức hoạt động chặt chẽ và đảm bảo cho công tác quản lý, giám sát hoạt động
của CTCK so với các loại hình doanh nghiệp khác. Bởi lẽ, loại hình này có
nhiều ưu điểm trong việc huy động vốn so với công ty hợp danh, khả năng
quản trị và giảm thiểu rủi ro tốt, chỉ đòi hỏi trách nhiệm của các thành viên
trong số vốn góp.
11
CTCK được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh gồm
môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng
khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Trong các hoạt động kinh doanh thuộc về
công ty chứng khoán, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép một công ty chứng
khoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi thực hiện
nghiệp vụ tự doanh chứng khoán [17, Điều 60].
Như vậy, CTCK có thể thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng
khoán nếu có đủ điều kiện và được UBCKNN cấp giấy phép cho tất cả các
hoạt động đó. Đây là đặc trưng cơ bản để nhận biết với các chủ thể kinh
doanh khác trên thị trường chứng khoán như: Công ty quản lý quỹ, công ty
đầu tư chứng khoán…
Thứ ba, kinh doanh chứng khoán là ngành nghề kinh doanh có điều kiện,
vì vậy công ty chứng khoán phải thoả mãn những điều kiện cấp giấy phép
thành lập và hoạt động mà pháp luật quy định và được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp giấy phép. Điều kiện để cấp giấy phép bao gồm điều kiện về
vốn, nhân sự và cơ sở vật chất, trang thiết bị. Điều kiện về vốn được đưa ra
căn cứ vào mức độ rủi ro tương ứng với từng hoạt động nghiệp vụ, những
nghiệp vụ rủi ro cao thì đòi hỏi vốn cao và ngược lại.
Điều kiện về nhân sự được đặt ra do tính chất đặc thù của hoạt động
kinh doanh chứng khoán, cụ thể đó là người điều hành và nhân viên thực hiện
nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có lý lịch tốt, có trình độ chuyên môn
và tuân thủ đạo đức nghề nghiệp. Những người quản lí hay nhân viên của
công ty chứng khoán phải có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và độ tín nhiệm.
Điều kiện cơ sở vật chất được đạt ra vì công ty chứng khoán thường có
chức năng lưu giữ các chứng khoán và giấy tờ cần thiết, phải công bố thông
tin cho người đầu tư…vì vậy cần có phương tiện cần thiết để bảo đảm an toàn
và công bố thông tin đầy đủ, thuận tiện.
13
Theo pháp luật Việt Nam, CTCK chịu sự điều chỉnh của pháp luật
doanh nghiệp nói chung và pháp luật chuyên ngành đó là luật chứng khoán
và các quy định của pháp luật có liên quan. Pháp luật về doanh nghiệp quy
định cụ thể, chi tiết và chặt chẽ về điều kiện thành lập, cơ cấu sở hữu vốn,
quản trị công ty, các vấn đề về đăng ký, công bố công khai tài chính…
1.1.3 Phân loại Công ty chứng khoán
(i) Căn cứ vào loại hình tổ chức: Căn cứ vào hình thức tổ chức pháp lý
doanh nghiệp, CTCK có hai loại hình tổ chức cơ bản đó là công ty cổ phần và
công ty trách nhiệm hữu hạn. Ngày nay, hai mô hình này được lựa chọn phổ
biến hơn vì những ưu điểm trong việc huy động vốn, chuyển đổi quyền sở
hữu và niêm yết chứng khoán.
(ii) Căn cứ vào phạm vi hoạt động: Hiện nay, trên thế giới có 3 loại mô
hình công ty chứng khoán cơ bản và phổ biến gồm:
Công ty chứng khoán chuyên doanh là công ty chỉ chuyên kinh doanh
trong lĩnh vực chứng khoán không được thực hiện nghiệp vụ ngân hàng và
bảo hiểm. Hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập,
chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận và các ngân hàng
không được tham gia vào kinh doanh chứng khoán. Đây là loại hình này được
áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ, Nhật, Canada, Hàn Quốc, Thái
Lan…Nhằm hạn chế rủi ro cho tổ chức tài chính, hệ thống ngân hàng và tạo
điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển mang tính chuyên môn hóa
cao, vì vậy các tổ chức tài chính, ngân hàng hay công ty bảo hiểm không được
tham gia kinh doanh chứng khoán.
Công ty chứng khoán đa năng một phần là sự kết hợp của hai mô hình
đó là công ty chứng khoán chuyên doanh và công ty chứng khoán đa năng
toàn phần. Vì vậy, các ngân hàng, công ty bảo hiểm muốn kinh doanh chứng
khoán phải thành lập công ty chứng khoán trực thuộc có tư cách pháp nhân để
tiến hành kinh doanh chứng khoán độc lập. Hay nói cách khác, các ngân hàng
trực thuộc có tư cách pháp nhân đề kinh doanh chứng khoán.
16
(iii) Căn cứ vào hình thức đầu tư và nguồn vốn chủ sở hữu, CTCK được
chia làm bốn loại, gồm: CTCK 100% vốn trong nước, CTCK 100% vốn nước
ngoài, CTCK hỗn hợp và chi nhánh CTCK tại Việt Nam.
(iv) Công ty chứng khoán niêm yết và công ty chứng khoán chưa niêm yết.
Do CTCK được thực hiện kinh doanh nghiệp vụ tự doanh chứng khoán là việc
kinh doanh chứng khoán của chính mình gồm việc mua và bán chứng khoán.
Công ty chứng khoán niêm yết là công ty có chứng khoán được niêm yết
trên thị trường giao dịch tập trung sau khi đáp ứng đủ các điều kiện, tiêu
chuẩn về niêm yết.
Công ty chứng khoán chưa niêm yết là công ty chưa đáp ứng các điều
kiện, quy định của pháp luật để đưa cổ phiếu, trái phiếu giao dịch trên thị
trường chứng khoán.
1.1.4 Vai trò của công ty chứng khoán trên thị trƣờng chứng khoán
CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán, có vai
trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành đối với các
cơ quan quản lý thị trường và đối với thị trường chứng khoán nói chung.
Bởi lẽ, một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng
khoán là nguyên tắc trung gian. Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và
những nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải
thông qua các trung gian mua bán. Vì vậy, CTCK sẽ thực hiện vai trò trung
gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành, là cầu nối quan trọng giữa nhà đầu
tư và tổ chức phát hành.
Thứ nhất, vai trò của CTCK đối với tổ chức phát hành: Để việc phát
hành chứng khoán được thành công thì tổ chức phát hành chứng khoán phải
bán được chứng khoán cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, việc xác định giá bán, số
lượng, thời điểm phát hành, các thủ tục đăng ký phát hành và phân phối nếu
là cơ sở để các nhà đầu tư thực hiện được các quyết định mua bán của mình.
18