MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………………1
1.2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………..1
1.3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………2
1.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………2
PHẦN 2: NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của đề tài………………………………………………...........3
2.2. Thực trạng của đề tài………………………………………………..............5
2.3. Giải pháp thực hiện đề tài…………………………………………………..7
2.4. Kết quả thực nghiệm
2.4.1. Kết quả định lượng…………………………….................……………15
2.4.2. Kết quả định tính…………………...……………………………….......16
2.4.3. Kết luận chung về thực nghiệm……………………………………........17
PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận…………………………………………………………………18
3.2. Kiến nghị …….……………………..……………………………………19
PHÂN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Công nghệ là một môn khoa học ứng dụng, nghiên cứu việc vận dụng
những quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu
vật chất và tinh thần của con người. Nội dung trong sách giáo khoa (SGK) Công
nghệ 10 là những kiến thức cơ bản về nông, lâm, ngư nghiệp và tạo lập doanh
nghiệp. Do đó nếu người dạy không đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo
hướng cho học sinh (HS) tìm tòi khám phá, từ đó tìm ra tri thức và tiếp nhận tri
thức một cách chủ động mà cứ giảng dạy theo phương pháp truyền thống sẽ gây
1.4. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu và các công trình nghiên cứu đổi mới PPDH theo
hướng tích cực hóa việc học của học sinh.
- Nghiên cứu về cấu trúc và nội dung chương trình Công nghệ 10 (phần
Nông, Lâm, Ngư nghiệp).
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về các phương pháp, biện pháp thiết kế và sử
dụng phương pháp đóng vai trong nội dung bài 12. “Đặc điểm, tính chất, kỹ
thuật sử dụng một số loại phân bón thông thường - Công nghệ 10” theo hướng
phát huy tính tích cực học tập của học sinh.
b. Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi, tiếp thu ý kiến của các đồng nghiệp để tham khảo ý kiến
làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài.
c. Phương pháp thực tập sư phạm
Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT, tiến hành theo quy trình của đề tài
nghiên cứu khoa học giáo dục để đánh giá hiệu quả của đề tài nghiên cứu.
d. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này để thống kê, xử lý, đánh giá kết quả thu được.
3
PHẦN 2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1. Phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ
những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh
- Khích lệ sự thay đổi, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo
đức và chính trị xã hội.
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các
vai diễn.
- Phát huy được những kinh nghiệm thực tế và tư duy sáng tạo của từng cá
nhân cũng như sự phối hợp chặt chẽ của cá nhân với tập thể nhóm.
- Lớp học sinh động, người học tiếp thu kiến thức thông qua những hoạt
động tích cực trong "vai diễn" của họ.
b. Hạn chế của phương pháp đóng vai
- Mất nhiều thời gian.
- Phải suy nghĩ "kịch bản", "diễn viên"...
- Đối tượng học sinh có tỷ lệ khá giỏi phải nhiều
- Nếu số lượng học sinh nhiều hiệu quả không cao.
c. Phương pháp tổ chức phương pháp đóng vai
Cách thức tiến hành phương pháp đóng vai thường theo các bước sau:
- Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm một cách
tương đối đơn giản, không quá phức tạp và quy định rõ thời gian chuẩn mực,
thời gian đóng vai.
- Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công sắm vai
- Thứ tự các nhóm đóng vai
- Các HS khác theo dõi phóng vấn, nhận xét, đánh giá, bổ sung (nếu cần).
Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp? Chưa phù hợp ở điểm
nào?
- Cuối cùng GV kết luận chốt lại về cách ứng xử cần thiết trong tình huống
nên sự cố gắng của HS và rút kinh nghiệm.
5
dụng các phương pháp trên không thường xuyên, đa phần giáo án chủ yếu là nội
dung bài học chứ chưa chú trọng đến phương pháp, rất ít câu hỏi tư duy. Chỉ sử
dụng hệ thống sơ đồ trong SGK để minh học cho bài học, mà không có thêm các
sơ đồ tự thiết kế từ nội dung SGK hay liên hệ thực tiễn. Chưa chú ý sử dụng các
phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
2.1.2. Việc học của học sinh
Qua thực tế giảng dạy cho thấy, chất lượng giờ dạy môn Công nghệ 10
chiếm tỷ lệ trung bình rất cao. Hoạt động các em chủ yếu là nghe giảng, ghi
chép chứ chưa có ý thức phát biểu xây dựng bài. Một số em còn làm việc riêng
trong giờ học, có khi lớp 48-52 học sinh nhưng trong suốt giờ học chỉ tập trung
4-5 em phát biểu xây dựng bài. Các em hầu như không có hứng thú vào việc học
tập bộ môn Công nghệ 10.
Từ thực tế trên dẫn đến kết quả học tập bộ môn chưa cao. Số học sinh giỏi
ít, khá và trung bình nhiều, yếu vẫn còn. Qua thực tế giảng dạy nếu sử dụng các
PPDH phát huy tính tích cực như: thảo luận nhóm, phiếu học tập, sử dụng băng
hình… cùng với những câu hỏi tìm tòi, kích thích tư duy, gây tranh luận thì
không khí học tập sôi nổi hẳn, các em tích cực phát biểu xây dựng bài. Ngược
lại, ở một số lớp giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình, đàm thoại tái hiện,
thông báo… lớp học trở nên trầm, ít học sinh phát biểu xây dựng bài.
2.2. Những nguyên nhân của thực trạng dạy và học Công nghệ 10 ở
trường THPT hiện nay
Giáo viên ngại áp dụng các phương pháp mới vào quá trình dạy học. Bởi để
dạy học theo các phương pháp mới phát huy được tính tích cực của HS đòi hỏi
phải đầu tư thời gian, trí tuệ vào việc soạn giáo án. Đồng thời giáo viên phải có
năng lực tổ chức, điều khiển quá trình dạy học. Đây là khó khăn đối với giáo
viên hiện nay vì một số trường chưa có giáo viên chuyên ngành kỹ thuật nông
nghiệp. Ở một số trường THPT chưa có đủ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động
học tập của bộ môn như: chưa có phòng thực hành bộ môn, chưa có các đồ dùng
dạy học cần thiết…
nghệ xem các bác có đoán ra không nhé. “Đất vắng cây đất ngừng ngừng hơi
thở. Cây thiếu đất cây sống sống với ai? Chuyện chăm năm ân tình cây và đất.
Cây bám rễ sâu đất ôm chặt tận đáy lòng”....Nào các bác đoán đi!
(Phía dưới lớp: Tưởng tên gì hóa ra là đất).
Ấy! Ấy! Đất cũng có nhiều loại đất còn em đây có tên riêng là “Đất xám
bạc màu” đấy các bác ạ!
8
Họ đất xám bạc màu nhà em không phải tự nhiên mà có đâu. Chúng em chỉ
được hình thành ở những vùng có độ dốc thoải, nơi mà người nông dân vẫn giữ
lối canh tác lạc hậu như thâm canh, du canh,...và gần đây em còn có cơ hội
xuất hiện nhiều thêm nữa khi con người tăng cường chặt phá rừng bừa bãi.
Đấy, các bác nhìn thì thấy ngay.
Đố các bác biết chúng em tập trung đông đảo ở đâu nào?
(Phía dưới lớp: Ở đâu?)
Chúng em phân bố chủ yếu ở vùng Trung du Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và
Tây Nguyên. Có mặt ở những vùng đấy thì không cần nói các bác cũng biết
chúng em trông như thế nào rồi: tầng mặt mỏng, chủ yếu là cát, lượng sét và
9
keo ít cho nên thường bị khô hạn; người lúc nào cũng chua hoặc rất chua,
nghèo dinh dưỡng, nghèo mùn. Chính vì thế ngay cả các bác vi sinh vật cũng
chẳng muốn sống cùng nên số lượng thường ít, hoạt động yếu.
(Phía dưới lớp: Xấu thế thì ai muốn sống cùng cũng chịu thôi.)
Đúng thế đấy các bác ạ. Nhưng đó là chuyện trước đây thôi, còn bây giờ
Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư ký. Giáo viên phát đồ dùng gồm 1 giấy A 0,
1 bút xạ và yêu cầu trong thời gian 10 phút cả nhóm cùng nghiên cứu, xây dựng
“kịch bản”, sau đó cử đại diện lên bảng “đóng vai” chính là loại phân bón đó.
Giới thiệu “về mình” cho cả lớp (xem như là bà con nông dân) trong thời gian 5
phút.
Bước 2: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công đóng vai.
Bước 3: Thứ tự các nhóm lên đóng vai
Bước 4: Các học sinh khác theo dõi, phỏng vấn, nhận xét, bổ sung (nếu
cần).
Bước 5: Giáo viên kết luận, nhận xét, đánh giá
Sau đây tôi xin giới thiệu “kịch bản” của học sinh Nguyễn Thị Ngọc Anhlớp 10C1 lên đóng vai:
“…Xin chào tất cả bà con, tôi xin tự giới thiệu tôi là phân hóa học, là loại
phân bón được sản xuất theo quy trình công nghiệp, có sử dụng nguyên liệu tự
nhiên hoặc tổng hợp. Nếu xét theo số nguyên tố tham gia tôi thường được chia
làm 2 loại đó là: phân đa nguyên tố và phân đơn nguyên tố, phân đơn nguyên tố
ví dụ như: đạm, lân, kali… phân đa nguyên tố ví dụ như NPK...
Bà con nông dân nên sử dụng tôi bởi tôi có những đặc điểm sau: thứ nhất,
chứa ít nguyên tố nhưng tỷ lệ chất dinh dưỡng cao nên chỉ cần bón lượng ít. Thứ
hai, tôi phần lớn dễ tan (trừ lân) nên cây dễ hấp thụ và cho hiệu quả nhanh. Tuy
nhiên, tôi lại có nhược điểm là bón nhiều và liên tục nhiều năm sẽ làm đất chua,
do đó để sử dụng tôi có hiệu quả bà con cần lưu ý một số vấn đề sau: Đạm, kali
12
bón thúc là chính. Lân (khó tan) chủ yếu bón lót. Đất dễ bị chua hóa nên cần kết
hợp bón vôi cải tạo.
Bà con lựa chọn tôi chính là đầu tư có hiệu quả, tôi hy vọng sẽ là người bạn
đưa lại năng suất cao cho các bác. Chúc bà con có một vụ mùa bội thu và thắng
lợi…”.
+ Nhóm 3: Cửa hàng bán phân vi sinh vật
Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư ký. Giáo viên yêu cầu trong thời gian 10
phút cả nhóm cùng nghiên cứu, soạn thảo xây dựng “kịch bản”. Sau đó mời đại
diện 3 nhóm lên 3 vị trí đã sắp xếp trước, lần lượt người đóng vai nông dân sẽ
ghé thăm hỏi mua và nghe 3 “cơ sở” giới thiệu về phân bón của mình (mỗi cơ sở
trình bày 3 phút).
Bước 2: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công đóng vai.
Bước 3: Đóng vai “kịch bản”. Người nông dân lần lượt ghé vào 3 “cơ sở”
phân bón.
Bước 4: Các học sinh khác theo dõi, phỏng vấn, nhận xét, bổ sung (nếu
cần).
Bước 5: Giáo viên kết luận, nhận xét, đánh giá
Lưu ý: “Cơ sở” sản xuất và bán phân hữu cơ có thể là hộ gia đình hoặc
trang trại chăn nuôi.
Sau đây tôi xin giới thiệu một “kịch bản” được soạn thảo làm ví dụ:
Bác An là một nông dân ở xã A, gia đình bác làm 3 sào ruộng nhưng bác
chưa biết lựa chọn sử dụng phân bón nào cho phù hợp nên bác đã đi xin “tư
vấn” của 3 cơ sở sản xuất và bán phân bón.
- Bác vào cửa hàng bán phân hóa học, được người bán hàng giới thiệu:
Bác nên dùng phân hóa học vì đây là loại phân bón ……… (thông tin về phân
hóa học) (3 phút).
- Bác vào cơ sở sản xuất phân hữu cơ, được người chủ cơ sở giới thiệu:
Bác nên dùng phân hữu cơ vì đây là loại phân bón ………… (thông tin về phân
hưu cơ) (3 phút).
- Bác vào cửa hàng bán phân vi sinh vật, được người bán hàng giới thiệu:
Bác nên dùng phân vi sinh vật vì đây là loại phân bón … (thông tin về phân vi
sinh vật) (3 phút).
Sau khi bác An nghe lời tư vấn của 3 cơ sở, bác rất băn khoăn chưa biết
Số
HS
40
43
42
42
10C1
10C2
10C3
10C4
1
2
4
3
9
6
10
0
0
2
1
7
Số học sinh đạt điểm xi
4
5
6
7
8
4
7
12
8
4
3
6
15
6
6
0
5
8
10
8
2
3
6
15
9
0
1
1
4
0
0
0
Số học sinh đạt điểm xi
4
5
6
7
8
7
13
17
14
10
2
8
14
25
9
khá giỏi đều cao hơn 2 lớp đồi chứng. Ngược lại, tỷ lệ điểm trung bình và dưới
trung bình của 2 lớp đối chứng lại cao hơn. Điều đó phần nào cho thấy học sinh
2 lớp thực nghiệm tiếp thu kiến thức nhiều hơn và tốt hơn. Một trong những
nguyên nhân đó là: Ở lớp thực nghiệm, lớp học diễn ra nghiêm túc, học sinh
hứng thú học tập, tích cực, chủ động “đóng vai”, số lượng học sinh tham gia xây
dựng bài nhiều làm cho không khí lớp học sôi nổi kích thích sự sáng tạo, chủ
động nên khả năng hiểu và nhớ bài tốt hơn.
Còn ở lớp đối chứng, lớp học vẫn diễn ra nghiêm túc, học sinh vẫn chăm
chú tiếp thu bài giảng, nhưng các em tiếp thu thụ động về kiến thức, giáo viên sử
dụng phương pháp truyền thống như thông báo, giải thích nên quá trình làm việc
thường nghiêng về giáo viên.
2.4.2. Kết quả định tính
Qua quá trình phân tích bài kiểm tra ở 2 lớp thực nghiệm và 2 lớp đối
chứng và theo dõi trong suốt quá trình giảng dạy, tôi có những nhận xét sau:
- Ở 2 lớp đối chứng:
16
+ Phần lớn học sinh chỉ dừng lại ở mức độ nhớ và tái hiện kiến thức. Tính
độc lập nhận thức không thể hiện rõ, cách trình bày rập khuôn trong SGK hoặc
vở ghi của giáo viên.
+ Nhiều khái niệm các em chưa hiểu sâu nên trình bày chưa chính xác,
thiếu chặt chẽ.
+ Việc vận dụng trí thức đối với đa số các em còn khó khăn, khả năng khái
quát hóa và hệ thống hóa bài học chưa cao.
+ Giờ học trầm lắng, kém hứng thú, các em vẫn trả lời câu hỏi nhưng chưa
nhiệt tình.
Tuy nhiên, vẫn có một số học sinh hiểu bài khá tốt, trình bày khá lôgic, chặt
chẽ.
việc đưa HS vào trung tâm của hoạt động dạy học. Thông qua phương pháp
đóng vai, HS trong nhóm và giữa các nhóm phát biểu ý kiến, tranh luận, bổ sung
cho những người “đóng vai” tạo không khí học tập rất tích cực, nâng cao hiệu
quả tiếp thu, lĩnh hội tri thức của HS.
- Kiến thức được cung cấp thêm, bổ sung và làm rõ SGK, đồng thời gắn với
thực tiễn nhiều hơn.
Do giới hạn về thời gian cũng như các điều kiện khác nên chúng tôi chưa
thực hiện thực nghiệm được trên quy mô lớn hơn. Chính vì thế mà kết quả thực
nghiệm chắc chắn chưa phải là tốt nhất.
Mặc dù vậy, qua thời gian giảng dạy, chúng tôi nhận thấy rằng, việc sử
dụng phương pháp đóng vai vào dạy học Công nghệ 10 là điều rất cần thiết, góp
phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, phát huy tính tích cực học tập của học sinh,
đáp ứng được yêu cầu đổi mới về nội dung và phương pháp trong dạy học hiện
nay.
18
PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Từ những kết quả nghiên cứu chúng tôi rút ra những kết luận chính sau:
- Bước đầu hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng
phương pháp đóng vai trong dạy học Bài 9.“Biện pháp cải tạo và sử dụng đất
xám bạc màu, đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá” và Bài 12. “Đặc điểm, tính chất,
kỹ thuật sử dụng một số loại phân bón thông thường - Công nghệ 10”. Nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh.
- Xây dựng được quy trình thiết kế và sử dụng phương pháp đóng vai gồm
7 bước trong dạy học Bài 9.“Biện pháp cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu,
đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá” và 5 bước trong dạy học Bài 12. “Đặc điểm, tính
chất, kỹ thuật sử dụng một số loại phân bón thông thường - Công nghệ 10” theo
sinh hứng thú và học tập tốt hơn.
- Do thời gian có hạn nên chúng tôi mới đi sâu thiết kế, sử dụng phương
pháp đóng vai vào bài nghiên cứu theo cách 1. Vì vậy có thể mở rộng thêm đề
tài theo các cách 2,3 và 4 để đánh giá so sánh kết quả thu được.
- Ngoài ra có thể nghiên cứu áp dụng phương pháp đóng vai vào dạy học
mục I và II bài 29. “Sản xuất thức ăn cho vật nuôi - Công nghệ 10”.
Do khả năng và thời gian có hạn nên kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở
những kết luận ban đầu và nhiều vấn đề chưa đi sâu. Vì vậy không thể tránh
khỏi những thiếu sót, do đó chúng tôi kính mong nhận được sự góp ý của quý vị
để đề tài dần hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh hoá, ngày 20 tháng 4 năm 2016
CAM KẾT KHÔNG COPY
Người viết
Nguyễn Thị Hạnh
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chuẩn kiến thức kĩ năng môn Công nghệ THPT.
2. Đảng cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ
8 (Khóa XI).
3. Ngô Quang Đê, Giáo trình Lâm sinh học, NXB Nông nghiệp Hà Nội (2001).
4. Ngô Quang Đê, Giáo trình Trồng rừng, NXB Nông nghiệp Hà Nội (2001).
5. Nguyễn Thế Đặng, Giáo trình Đất, NXB Nông nghiệp Hà Nội (2001).