Pháp luật về bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp ở việt nam - Pdf 44

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HỒ ANH TUẤN

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG NƢỚC
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HỒ ANH TUẤN

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG NƢỚC
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Doãn Hồng Nhung

Hà Nội – 2016


Bảo vệ môi trường

2.

KKT

Khu kinh tế

3.

ĐTM

Đánh giá tác động môi trường

4.

KCN

Khu công nghiệp

5.

KCN

Cụm công nghiệp

6.

HTXLNTTT


Ủy ban nhân dân

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT...................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
NƢỚC TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM........................................9
1.1. Khái niệm cơ bản về môi trƣờng và pháp luật bảo vệ môi trƣờng nƣớc
trong khu công nghiệp ..............................................................................................9
1.1.1. Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường nước ......................................9
1.1.2. Khái niệm khu công nghiệp và ô nhiễm môi trường c trong khu công nghiệp .11
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công
nghiệp ....................................................................................................................13
1.2. Pháp luật về bảo vệ môi trƣờng và môi trƣờng nƣớc ở một số quốc gia trên
thế giới ......................................................................................................................15
1.2.1. Pháp luật bảo vệ môi trường nước của Nhật Bản .......................................15
1.2.2. Pháp luật bảo vệ môi trường nước của Singapore ......................................19
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG NƢỚC
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM ...................................................24
2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trƣờng nƣớc trong khu
công nghiệp ở Việt Nam ..........................................................................................24
2.1.1. Quy định về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường khu công nghiệp .24
2.1.2. Quy định về khai thác và sử dụng nguồn nước ..........................................26
2.1.3. Quy định về nước thải và xử lý nước thải trong khu công nghiệp .............27

3.1.4. Bảo đảm tính kế thừa giá trị của pháp luật và đáp ứng yêu cầu hội nhập ..61
3.2. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trƣờng nƣớc trong khu công nghiệp......62
3.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nước trong khu công
nghiệp ....................................................................................................................62
3.2.2. Tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường nước trong
khu công nghiệp ....................................................................................................65
3.2.3. Nâng cao năng lực quản lý môi trường nước khu công nghiệp ..................66
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................77

iv


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung và phát triển 2011) xác định: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn
dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện
đại, theo định hướng XHCN”. Để thực hiện mục tiêu trên, Đảng và Nhà nước đã
ban hành nhiều chính sách, pháp luật khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển
công nghiệp. Sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp tại Việt Nam là
một tất yếu. Khu công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển khu công nghiệp tạo điều kiện chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho nhân dân.
Hơn nữa, việc phát triển khu công nghiệp giúp tập trung nguồn thải, tận dụng nguyên
nhiên liệu, sử dụng tiết kiệm năng lượng nâng cao hiệu quả sản xuất và hiệu quả quản lí
nguồn thải và bảo vệ môi trường quốc gia.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hiện trạng môi trường trong các khu công
nghiệp đang diễn biến xấu đi, tình hình ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là
tình hình môi trường nước. Hầu hết công nghệ, phương pháp xử lí chất thải ra môi

việc tự nhận thức về vị trí, vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu
công nghiệp, việc lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường nước trong khu
công nghiệp ở Việt Nam” để nghiên cứu xây dựng luận văn thạc sỹ Luật học là cần
thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường nước nói riêng đã
được các nhà khoa học và nhà quản lý tiếp cận, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau. Những công trình nghiên cứu có thể kể đến là:
Sách chuyên khảo “Kiểm soát ô nhiễm nước: Hướng dẫn việc sử dụng quản
lý chất lượng nước” (Water Pollution Control – A Guide to the Use of Water
Quality Management Principles) do Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc
(UNEP) ấn hành lần đầu vào năm 1997. Nội dung sách chuyên khảo giải quyết các
vấn đề cụ thể của quản lý tài nguyên nước và kiểm soát ô nhiễm nước, giới thiệu
2


nhiều nghiên cứu từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và nêu bật thành
công của mô hình quản lý nước thải và kiểm soát ô nhiễm. Đây là tài liệu tham khảo
quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách và quản lý môi trường khi tham gia
vào các chương trình chất lượng nước, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Báo cáo tổng quan môi trường quốc gia (năm 2010) của Bộ Tài nguyên và
Môi trường, được hoàn thành với sự hỗ trợ của cơ quan phát triển quốc tế Đan
Mạch (DANIDA). Báo cáo đánh giá tổng thể, toàn diện các vấn đề về môi trường
như: môi trường đất, nước, không khí,… tổng kết những kết quả đạt được, những
thách thức, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong giai đoạn 2005-2010. Đồng thời,
báo cáo đưa ra những định hướng hoạt động trong thời gian tới nhằm tạo ra bước
chuyển biến trong nhận thức, cũng như hành động của các tổ chức, cá nhân trong
công tác bảo vệ môi trường.
Bài báo khoa học “Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường khu
công nghiệp” của tác giả Doãn Hồng Nhung và Nguyễn Thị Bình đăng trên Tạp chí

Luận án đã làm rõ khái niệm kiểm soát ô nhiễm, trách nhiệm của các cơ quan quản
lý môi trường đối với việc xả thải ra môi trường đất, nước, không khí từ hoạt động
kinh tế của các làng nghề. Phân tích và bình luận được các khái niệm cơ bản, đưa ra
các tiêu chí cần thiết để xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về pháp luật
kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường do hoạt
động của làng nghề nói riêng.
Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2011 “Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt
Nam” của tác giả Đinh Phượng Quỳnh, Khoa Luật, ĐHQGHN. Đề tài đã hệ thống
hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam.
Nghiên cứu thực trạng của pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam: những thành
tựu của pháp luật bảo vệ môi trường; những vấn đề đặt ra hiện nay trong việc điều
chỉnh của pháp luật bảo vệ môi trường. Đề xuất, kiến nghị các giải pháp chủ yếu để
hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường.
Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2014 “Xử lí vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Thị Bình, Khoa Luật, ĐHQGHN. Đề tài đã giải quyết các vấn
đề lí luận và thực trạng pháp luật thực định và thực tiễn xử lí vi phạm hành chính
4


trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở
Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở những đánh giá đó, Đề tài đưa ra các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả công tác xử lí vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp.
Bài báo khoa học “Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt
động của các khu công nghiệp Việt Nam” của Vũ Thị Duyên Thủy, Tạp chí Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 09/2011, tr.60-64. Tác giả đã phân tích thực
trạng pháp luật về bảo vệ môi trường từ quá trình xây dựng khu công nghiệp, khu
công nghiệp đi vào hoạt động. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đưa ra các giải pháp
hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp ở

- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp ở Việt Nam.
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận, thiết chế pháp lý cho bảo vệ môi trường nước
trong khu công nghiệp ở Việt Nam.
5. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1. Cách tiếp cận:
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa
học và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa; về xây dựng và bảo vệ pháp luật, về bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng
tài nguyên thiên nhiên, chống biến đổi khí hậu và bảo đảm các quyền con người.
Dưới góc độ luật học:
- Tiếp cận từ cơ sở lý luận, tổng quan về pháp luật và hoàn thiện pháp luật nói
chung và pháp luật về bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp nói riêng.
- Tiếp cận từ thực tiễn, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường
nước trong khu công nghiệp và nhu cầu hoàn thiện pháp luật.
- Tiếp cận từ những định hướng, mục tiêu, chính sách về hoàn thiện pháp luật bảo
vệ môi trường và pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trên thực tế, hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và môi trường nước
trong khu công nghiệp nói riêng khá phức tạp, hệ thống pháp luật đa dạng, có nhiều
6


hạn chế nên để thấy rõ được bản chất, xu hướng vận động và phát triển của pháp
luật bảo vệ môi trường nước, cũng như các cơ chế thực thi các quy định của pháp
luật về bảo vệ môi trường nước cần phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác
nhau nhằm làm rõ các khía cạnh khác nhau của vấn đề đặt ra. Đề tài đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng xuyên suốt để nêu, phân

nghiệp ở Việt Nam

8


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
NƢỚC TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm cơ bản về môi trƣờng và pháp luật bảo vệ môi trƣờng nƣớc
trong khu công nghiệp
1.1.1. Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường nước
Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường
Môi trường là khái niệm có nội hàm rất rộng, được sử dụng trong nhiều lĩnh
vực khác nhau. Thông thường, môi trường được hiểu theo nghĩa:
“Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong
đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người
hay sinh vật ấy” [27, tr5]
Trong khoa học pháp lý, môi trường được hiểu là mối liên hệ giữa con người và
tự nhiên, là những yếu tố , hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người

.

Khoản 1, Điề u 3, Luâ ̣t Bảo vê ̣ môi trường2014 định nghĩa môi trường:
“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động
đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” [35, tr2]
Định nghĩa này có điểm khác biệt so với định nghĩa môi trường của Luật Bảo
vệ môi trường 2005, coi con người là một thành tố của môi trường chứ không phải
là trung tâm trong mối quan hệ giữa môi trường và con người [31, tr2].
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con
người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất,

nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.” [35, tr2]
Hoạt động bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển
của các quốc gia và được thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau như:
Thứ nhất, cấp độ cá nhân: cá nhân có trách nhiệm tuân thủ quy định pháp
luật về môi trường và bảo vệ môi trường, tuân thủ các quy tắc cộng đồng về bảo vệ
môi trường. Từng hành động riêng lẻ của cá nhân có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực
đến môi trường. Hiện nay, các quốc gia ngày càng chú trọng việc nâng cao hiểu biết của
cộng đồng về bảo vệ môi trường, đưa hoạt động bảo vệ môi trường tới trường học và
10


từng gia đình, từ đó nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường của toàn xã hội thay vì chỉ tập
trung vào công tác quản lý của Nhà nước như trước đây. [40, tr34]
Thứ hai, cấp độ cộng đồng: cộng đồng dân cư, do có sự ràng buộc về lợi ích
và chịu tác động chung của môi trường, có vai trò to lớn trong bảo vệ môi trường. Ở
cấp độ cộng đồng, biện pháp giáo dục và hành động tập thể được chú trọng. [40, tr 34]
Thứ ba, cấp độ địa phương, vùng: Do đặc điểm của môi trường, đặc biệt là
các yếu tố môi trường như nước, không khí, việc bảo vệ môi trường sẽ trở nên hiệu
quả hơn nếu thực hiện ở phạm vi lớn có sự tham gia của nhiều cộng đồng. Ở Việt
Nam, việc bảo vệ môi trường ở cấp độ địa phương được thực hiện theo nguyên tắc
địa giới hành chính, cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện bảo vệ môi trường là cơ
quan hành chính nhà nước địa phương. [40, tr35]
Thứ tư, cấp độ quốc gia: Việc bảo vệ môi trường ở cấp độ quốc gia được thực
hiện thông qua hoạt động quản lý thống nhất của Nhà nước. Nhà nước thông qua các
công cụ và hình thức khác nhau để thực hiện việc bảo vệ môi trường. Cấp độ quốc gia về
bảo vệ môi trường được xem xét kỹ trong toàn bộ giáo trình này. [40, tr35]
Thứ năm, cấp độ quốc tế: Thông qua các tổ chức, công ước quốc tế, hội nghị
quốc tế. [38, tr35]
Bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp
Từ các cơ sở lý luận nêu trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm bảo vệ môi trường

tầng tương đối đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ
tầng trên cả nước [6, tr4].
Đặc biệt , khu công nghiệp, khu chế xuất có đóng góp không nhỏ vào tăng
trưởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh
của nền kinh tế; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả
nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa..
Các khu công nghiệp đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp 2 triệu USD/ha;
giá trị xuất khẩu 1,27 triệu USD/ha; nộp ngân sách khoảng 1,38 tỷ đồng/ha; tốc độ
gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều cao hơn
tốc độ của cả nước. [6, tr5]

12


Viê ̣c phát triể n các khu công nghiệp, khu chế xuất cũng đã góp phần quan trọng
trong việc giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và
trình độ của người lao động; góp phần tích cực vào bảo vệ môi trường sinh thái.
Khái niệm ô nhiễm môi trường khu công nghiệp
Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về ô nhiễm môi trường như sau:
“Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không
phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh
hưởng xấu đến con người và sinh vật”. [35, tr2]
Hoạt động sản xuất kinh doanh của khu công nghiệp thải ra một lượng lớn
chất thải vào môi trường đất, nước, không khí. Có thể hiểu ô nhiễm môi trường khu
công nghiệp là sự biến đổi của các thành phần môi trường gây ảnh hướng xấu đến
con người và sinh vật do hoạt động của khu công nghiệp gây ra.
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công
nghiệp
Nước vừa là nguồn tài nguyên thiên nhiên, vừa là một thành phần môi trường
gắn liền với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như sự sống trên hành tinh. Dưới

Pháp luật về bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp là tổng hợp các
quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát
sinh giữa các chủ thể trong hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn nước, môi
trường nước trong khu công nghiệp.
Đặc điểm pháp luật bảo vệ môi trường nước trong khu công nghiệp:
Một là, có phạm vi và đối tượng điều chỉnh rộng, đa dạng, phức tạp, bao gồm
các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước
trong khu công nghiệp; các quan hệ pháp luật phát sinh giữa các chủ thể trong việc
quản lý, xử lý nước thải ra môi trường; các quan hệ xã hội liên quan đến quản lý
nhà nước về bảo vệ môi trường nước; xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường
nước; các quan hệ xã hội liên quan đến quan hệ quốc tế về bảo vệ môi trường nước.
Hai là, chứa đựng các loại quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành Luật khác
nhau như Luật Dân sự, Luật Hành chính, Luật tố tụng dân sự, Luật Đất đai, Luật
Bảo vệ môi trường, Luật Hình sự…
Ba là, có hình thức thể hiện phong phú, gồm các văn bản luật và các văn bản
dưới luật do nhiều cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành.

14


1.2. Pháp luật về bảo vệ môi trƣờng và môi trƣờng nƣớc ở một số quốc gia trên
thế giới
1.2.1. Pháp luật bảo vệ môi trường nước của Nhật Bản
Kế hoạch bảo vệ môi trường mang tính quốc gia lần đầu tiên được Chính phủ
Nhật Bản thông qua vào năm 1994. Theo đó, những mục tiêu từ trung hạn đến dài
hạn về bảo vệ môi trường sinh thái được xác định trong vài thập niên tới Nhật Bản
sẽ là quốc gia đạt các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường. Và nước này cố gắng đạt
tới là một trong những quốc gia thực hiện tốt các cam kết quốc tế về bảo vệ môi
trường. Dưới đây là một số nét khái quát về pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở
Nhật Bản:

vào ngày 16/12/1994, đây là một kế hoạch quốc gia tổng hợp dài hạn về bảo vệ môi
trường, phù hợp với Ðiều 15 của Luật Môi trường (Luật số 91, 1993). [13, tr10]
Cơ quan môi trường, thuộc Chính phủ Nhật bản chịu trách nhiệm quy hoạch,
điều phối và thúc đẩy các chính sách và kế hoạch môi trường quốc gia, theo các
hướng dẫn trong Kế hoạch môi trường cơ bản đã được nội các Chính phủ phê chuẩn
vào tháng 12/1994.
Phối hợp với chính quyền các địa phương, Cơ quan môi trường Nhật Bản thi
hành các luật quốc gia trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm không khí, nước và đất,
chống tiếng ồn và chấn động đất, kiểm soát mùi và lở đất. Các bộ luật quốc gia về
bảo tồn công viên quốc gia và bảo vệ sự sống hoang dã cũng do Cơ quan môi
trường Nhật Bản thi hành.
Từ kinh nghiệm của Nhật Bản, Việt Nam có thể học hỏi một số bài học kinh
nghiệm sau:
- Nhật Bản đã ban hành Bộ luật chuyên ngành về bảo vệ môi trường nước là
Đạo luật “Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất và môi trường nước” năm 1989. Việt
Nam đã có Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên nước nhưng chưa có bộ luật
chuyên ngành điều chỉnh riêng lĩnh vực ô nhiễm môi trường nước.
- Nhật Bản cũng cho phép chính quyền địa phương chủ động hơn trong công
tác bảo vệ môi trường nước như: Xây dựng các kế hoạch thường niên bảo vệ nguồn
nước (kể cả nước ngầm) phù hợp tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nguồn nước;
quyền sử dụng các biện pháp đặc biệt và phù hợp với yêu cầu của địa phương mình
trong việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Trong sự cố môi trường biển tại Hà Tĩnh
tháng 4/2016, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh đã xứ lý rất chậm và thụ động, chủ yếu xin
ý kiến chỉ đạo từ các cơ quan trung ương chứ không có các biện pháp tại chỗ để hạn
chế thiệt hại. Đây là điểm yếu trong việc thực thi chính sách môi trường ở Việt
Nam.
18


1.2.2. Pháp luật bảo vệ môi trường nước của Singapore



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status