PHẠM QUANG KHÁNH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
PHẠM QUANG KHÁNH
2015 - 2017
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
PHẠM QUANG KHÁNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Phạm Quang Khánh
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI
THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
6
1.1.
Những vấn đề lý luận về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
6
1.1.1.
Khái niệm và đặc trưng của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
6
17
1.2.3.
Cấu trúc và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về ưu đãi thuế thu
nhập doanh nghiệp
21
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ
28
2.1.
Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
28
2.1.1.
Thực trạng quy định về chủ thể và quyền, nghĩa vụ của các chủ thể
tham gia quan hệ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
2.1.2.
Thực trạng quy định về điều kiện áp dụng ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp và các hình thức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Các yêu cầu cơ bản đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp
58
Một số đề xuất cụ thể
60
65
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
66
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thuế luôn đóng một vai trò quan
trọng trong việc tạo nguồn thu thường xuyên và ổn định cho ngân sách nhà nước,
đồng thời là công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế, định hướng tiêu dùng
trong xã hội theo các mục tiêu chiến lược về kinh tế - xã hội do mình đặt ra.
Trong hệ thống thuế vốn rất tinh vi và phức tạp ở mỗi quốc gia, vấn đề ưu
đãi thuế luôn được nhà làm luật đặt ra như là một chế định quan trọng nhằm giúp
nhà nước thực hiện được các mục tiêu về phát triển kinh tế và ổn định xã hội
trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Mặt khác, về thực tiễn, ưu đãi thuế
cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm của toàn xã hội nói chung, trong đó có đối
tượng là doanh nghiệp. Vì thế, việc nghiên cứu về chế độ ưu đãi thuế hiện hành,
trong đó có chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp – được xem là vấn đề
có tính cần thiết và cấp bách.
Đại học Luật Hà Nội năm 2011. Luận văn này chủ yếu phân tích, đánh giá thực
trạng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp năm 2008, trong đó có đề cập đến quy định về ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp, nhưng không phải là nội dung trọng tâm của đề tài nghiên cứu;
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lưu Thị Tuyết về đề tài: “Pháp luật
về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam”, bảo vệ năm 2012 tại Khoa
Luật Đại học quốc gia Hà Nội. Đề tài này tuy cũng nghiên cứu về pháp luật ưu
đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam nhưng đối tượng và phạm vi
nghiên cứu của đề tài luận văn này đều liên quan đến các quy định về ưu đãi thuế
thu nhập doanh nghiệp theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 – là văn
bản đã bị sửa đổi lần 1 năm 2013 bởi Luật số 32/2013/QH13 ngày 19 tháng 6
năm 2013 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014; sửa đổi
lần 2 năm 2014 bởi Luật số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của
2
Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường về: “Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế” do TS. Nguyễn Thị Ánh Vân làm chủ nhiệm đề
tài, nghiệm thu năm 2007.
Ngoài ra, có một số khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học hoặc cử nhân
kinh tế có đề cập trực tiếp đến vấn đề thuế thu nhập doanh nghiệp, tuy nhiên, các
công trình này chưa phải là luận văn thạc sĩ luật học. Như vậy, có thể nhận thấy
rằng mặc dù đã có một số công trình ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học trực tiếp
nghiên cứu về vấn đề pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
nhưng các luận văn này chủ yếu nghiên cứu về chế độ ưu đãi thuế theo Luật thuế
thu nhập doanh nghiệp năm 2008 chứ không phải là Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp sửa đổi, bổ sung năm 2014. Vì thế, có thể cho rằng đề tài luận văn mà tác
doanh nghiệp của Nhà nước thông qua việc thiết lập các chế độ ưu đãi thuế thu
nhập doanh nghiệp đối với các chủ thể kinh doanh nói chung và doanh nghiệp
nói riêng ở Việt Nam.
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu mà đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu truyền thống trong khoa học xã hội và nhân văn như:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp: Được sử dụng
trong toàn bộ nội dung luận văn, từ nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng, rút
ra những vấn đề thuộc về bản chất, các quan điểm liên quan đến vấn đề nghiên
cứu, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp ở Việt Nam.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Được sử dụng nhằm làm rõ sự tương
đồng và khác biệt giữa pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp giữa Việt
Nam với một số nước trên thế giới để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho
4
Việt Nam trong quá trình hình thiện khung pháp lý về môi trường kinh doanh nói
chung và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng.
- Phương pháp thống kê, khảo sát: Được sử dụng nhằm chứng minh cho
các nhận định, kết luận khoa học của tác giả trong luận văn khi giải quyết các
yêu cầu đặt ra của đề tài.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được kết cấu gồm 2 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
và pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở
Việt Nam và một số kiến nghị.
với nhà nước nếu thu nhập phát sinh từ hoạt động của họ là đối tượng chịu thuế
thu nhập doanh nghiệp và việc không thực hiện nghĩa vụ thuế sẽ phải chịu chế
tài theo quy định của pháp luật. Về tính chất bắt buộc của thuế nói chung và thuế
thu nhập doanh nghiệp nói riêng, hiện có những quan điểm khác nhau xung
quanh tính chất này của thuế.
Quan điểm thứ nhất cho rằng tính chất bắt buộc của thuế nói chung và
thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng bắt nguồn từ quan hệ hành chính giữa Nhà
nước với người nộp thuế, theo đó Nhà nước là chủ thể có quyền thu thuế, còn
người nộp thuế có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế cho Nhà nước theo quy định của
pháp luật. Đây là quan niệm có tính cách truyền thống lâu nay về thuế, xuất phát
từ lập luận cho rằng thuế là một sự cưỡng bức của Nhà nước đối với người nộp
thuế. [13, tr.29]
Quan điểm thứ hai cho rằng tính chất bắt buộc của thuế xuất phát từ quan
hệ có tính chất “thỏa thuận” hoặc “trao đổi” bình đẳng giữa Nhà nước với người
nộp thuế - giống như nghĩa vụ hợp đồng, bởi lẽ những học giả theo trường phái
này cho rằng bản chất của thuế là một “khế ước” hay “hợp đồng” được giao kết
giữa Nhà nước với người đóng thuế, thường được gọi là “khế ước thuế” hay
“hợp đồng thuế”. [13, tr.328]
Theo ý kiến của tác giả luận văn, quan điểm thứ hai thể hiện tư tưởng tiến
bộ hơn so với quan điểm thứ nhất, bởi lẽ nếu coi thuế như là một “khế ước thuế”
hay “hợp đồng thuế” thì việc nộp thuế sẽ có tính chất như là một nghĩa vụ hợp
đồng và tính chất bắt buộc đối với các bên giao kết hợp đồng. Mặt khác, theo
quan điểm này thì Nhà nước cũng phải có trách nhiệm trở lại đối với người nộp
thuế thông qua việc cung cấp các hàng hóa công cộng và dịch vụ công cộng cho
xã hội, trong đó có những người đóng thuế và Nhà nước cũng không thể tùy tiện
trong việc ban hành các sắc thuế gây bất lợi cho xã hội nói chung và người nộp
thuế nói riêng.
8
này. Tất nhiên, thực tiễn cho thấy rằng không phải mọi khoản thu nhập hợp pháp
của doạnh nghiệp và tổ chức kinh tế đều là đối tượng chịu thuế thu nhập doanh
nghiệp nhưng phần lớn các khoản thu nhập của chủ thể này đều là đối tượng chịu
thuế (ngoại trừ một số khoản thu nhập không phải chịu thuế như: thu nhập là lãi
góp vốn của bên liên doanh đã chịu thuế một lần bởi doanh nghiệp liên doanh; thu
nhập từ các hoạt động được nhà nước khuyến khích và hỗ trợ để phát triển...).
(iii) Bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, đánh
trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế. Với tư cách là thuế trực thu, thuế thu
nhập doanh nghiệp luôn thể hiện được tính chất công bằng hơn so với các loại
thuế gián thu nhưng cũng khó thu hơn do trực tiếp điều tiết thu nhập của người
nộp thuế và bản thân người nộp thuế cũng biết rằng họ chính là người chịu thuế
nên thường có động thái trốn, tránh việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp khi
phát sinh thu nhập chịu thuế. Do bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp là
thuế trực thu nên chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cũng đồng thời là chủ
thể chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa thuế
trực thu so với thuế gián thu như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế giá trị gia
tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường...
1.1.1.2. Khái niệm và đặc trưng của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo Từ điển Việt Nam của tác giả Thanh Nghị, “ưu đãi” là thuật ngữ
dùng để chỉ sự ưu tiên đãi ngộ hơn cả. [15, tr.1420].
Theo Từ điển Hán Việt của tác giả Đào Duy Anh, “ưu đãi” là thuật ngữ
dùng để chỉ sự đãi ngộ hơn của một người này đối với người khác nhằm một
mục đích nhất định. [1, tr.530).
Nói cách khác, ưu đãi là thuật ngữ dùng để chỉ sự ưu ái, ưu tiên đãi ngộ
hay đối xử tốt của chủ thể này đối với chủ thể khác về phương diện vật chất hoặc
tinh thần.
Thứ nhất, chủ thể được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp chính là
người chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (cũng chính là người nộp thuế thu nhập
10
doanh nghiệp), bao gồm các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thỏa
mãn các điều kiện được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Để được
hưởng quyền ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, chủ thể chịu thuế thu nhập
doanh nghiệp (đồng thời là chủ thể nộp thuế) phải thỏa mãn một số điều kiện
nhất định do pháp luật quy định (gọi là điều kiện được hưởng ưu đãi thuế), chẳng
hạn như: Muốn được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nói chung (bao
gồm ưu đãi về thuế suất, ưu đãi về miễn, giảm thuế, ưu đãi về chuyển lỗ...), [9]
chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp phải thực hiện đúng và đầy đủ chế độ kế
toán, hóa đơn, chứng từ và nộp thuế theo kê khai; hoặc, trong cùng một thời gian
ưu đãi thuế, nếu doanh nghiệp được hưởng nhiều mức ưu đãi thuế khác nhau đối
với cùng một khoản thu nhập thì doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng mức ưu
đãi thuế có lợi nhất. Đặc điểm này cho phép phân biệt ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp với ưu đãi thuế thu nhập cá nhân (vốn dĩ dành cho chủ thể được
hưởng ưu đãi là cá nhân có thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân). Mặt khác, đặc
điểm này cũng giúp phân biệt giữa ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với ưu đãi
thuế gián thu như thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (vốn dành sự ưu
đãi cho chủ thể nộp thuế - người sản xuất, kinh doanh, bán hàng chứ không phải
cho chủ thể chịu thuế - người mua hàng).
Thứ hai, việc ưu đãi không chỉ gắn với loại thu nhập, mà còn có thể gắn
với chủ thể (ví dụ như Hợp tác xã, Doanh nghiệp nhỏ và vừa), lĩnh vực và địa
bàn ưu đãi. Tùy thuộc vào mỗi loại thu nhập chịu thuế của người nộp thuế cần
ưu đãi mà Nhà nước quy định mức thuế suất ưu đãi khác nhau nhằm tạo ra động
lực thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế vì mục tiêu
tái cấu trúc nền kinh tế. Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng mỗi loại thu nhập có thể
ý nghĩa khuyến khích người nộp thuế là doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh vào
những lĩnh vực, ngành nghề được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trên nguyên tắc, mức ưu đãi thuế càng cao thì càng có tác dụng khuyến khích
mạnh mẽ người nộp thuế tăng cường đầu tư, kinh doanh vào những ngành nghề,
lĩnh vực cỉa mức độ ưu đãi cao, từ đó giúp nhà nước tái cấu trúc các ngành nghề,
12
lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế theo định hướng chủ trương, chính sách của
mình về phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, vai trò của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chủ thể là
Nhà nước.
Việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tuy có làm giảm phần nào nguồn
thu của ngân sách nhà nước nhưng về khía cạnh quản lý vĩ mô, Nhà nước có thể
thu được nhiều lợi ích khác lớn hơn, đó là đạt được mục tiêu điều tiết sản xuất,
tái cấu trúc nền kinh tế, ổn định xã hội theo các chủ trương, chính sách lớn mang
tầm chiến lược của mình. Điều quan trọng hơn, việc ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp còn thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với cộng đồng doanh nghiệp,
từ đó tạo lòng tin của cộng đồng nghiệp đối với Nhà nước và góp phần cải thiện
mối quan hệ vốn khá căng thẳng trong nhiều năm nay giữa Nhà nước (người thu
thuế) với doanh nghiệp (người nộp thuế) trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
Thứ ba, vai trò của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với nền kinh tế
- xã hội.
Việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mặc dù hướng đến đối tượng
được hưởng ưu đãi là doanh nghiệp nhưng thực chất chính sách này lại có tác
dụng rất lớn đến quá trình tái cấu trúc nền kinh tế. Điều này thể hiện ở chỗ, nhờ
có việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các ngành nghề, lĩnh vực khác
nhau mà Nhà nước có thể điều tiết một cách hiệu quả hơn đối với nền kinh tế
theo các mục tiêu chiến lược của mình. Thực tế cho thấy, Chính phủ nước nào
nghiệp bằng cách xem xét giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh
nghiệp kinh doanh những ngành nghề, lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích
đầu tư hoặc khuyến khích phát triển. Việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
dưới hình thức giảm thuế thu nhập doanh nghiệp thực chất là Nhà nước giảm
gánh nặng về thuế cho doanh nghiệp, từ đó tăng phần lợi nhuận sau thuế (lợi
nhuận ròng) của doanh nghiệp để tiếp tục tái đầu tư trở lại các hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, thông qua đó khuyến khích doanh nghiệp phát triển
14
kinh doanh trong các ngành, nghề được hưởng ưu đãi thuế. So với hình thức ưu
đãi thuế bằng miễn thuế thì hình thức ưu đãi thuế bằng giảm thuế tuy có tác dụng
ít hơn trong việc tác động đến thái độ của nhà đầu tư – doanh nghiệp chịu thuế
thu nhập doanh nghiệp nhưng rõ ràng nó cũng có những tác động rất tích cực
đến quá trình điều tiết kinh tế, hướng dẫn tiêu dùng trong dân cư và tạo nguồn
thu ngân sách của Nhà nước.
Thứ ba, Nhà nước có thể xây dựng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp bằng cách quy định mức thuế suất thấp hơn so với mức thuế suất thông
thường (thuế suất tiêu chuẩn) đối với những doanh nghiệp kinh doanh các ngành
nghề, lĩnh vực Nhà nước thấy cần ưu đãi để thúc đẩy sự phát triển của các
ngành, nghề, lĩnh vực đó. Việc quy định mức thuế suất thấp hơn (gọi là thuế suất
ưu đãi) so với mức thuế thuế thông thường (gọi là thuế suất tiêu chuẩn) sẽ góp
phần kích thích các doanh nghiệp trong việc đầu tư, kinh doanh trong những
ngành nghề, lĩnh vực được hưởng thuế suất thấp – thuế suất ưu đãi, thậm chí, vì
mục tiêu gia tăng lợi nhuận ròng, doanh nghiệp có thể sẵn sàng từ bỏ lĩnh vực
kinh doanh đang phải chịu thuế suất cao để chuyển sang kinh doanh ngành nghề,
lĩnh vực đang được hưởng mức thuế suất thấp – thuế suất ưu đãi.
Thứ tư, Nhà nước có thể xây dựng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp bằng cách tạo những thuận lợi hơn cho người nộp thuế là doanh nghiệp
nhằm tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp về phương diện thuế mà còn nhằm
mục đích cao cả hơn là giúp Nhà nước điều tiết các hoạt động kinh tế, định
hướng tiêu dùng trong dân cư và thiết lập công bằng xã hội.
Thứ hai, chế định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có nội
dung cơ bản là ghi nhận các hình thức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và điều
kiện được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chủ thể nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, chế định này cũng có nhiệm vụ quy định rõ các
quy trình, thủ tục xét và cho hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, việc xử
lý vi phạm về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và giải quyết tranh chấp về ưu
16
đãi thuế thu nhập doanh nghiệp giữa Nhà nước với người nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp.
Thứ ba, chế định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp thể hiện
sự cam kết đơn phương của Nhà nước đối với người nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp về các hình thức ưu đãi thuế, mức ưu đãi thuế và điều kiện hưởng ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp. Do là cam kết đơn phương của Nhà nước nên về
nguyên tắc, chủ thể cam kết bị ràng buộc về mặt pháp lý với lời cam kết đó,
không thể đơn phương hủy bỏ hoặc thay đổi nội dung cam kết dẫn đến hậu quả
xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người được hưởng ưu đãi thuế.
Thứ tư, chế định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có nhiệm
vụ thể chế hóa ưu đãi thuế như là một quyền năng của Nhà nước đối với người
nộp thuế (Nhà nước có quyền cho người nộp thuế được hưởng ưu đãi thuế hay
không và cho hưởng ưu đãi đến đâu, ưu đãi như thế nào, trong thời gian nào... vì
mục tiêu quản lý kinh tế - xã hội), đồng thời khi đã cam kết cho người nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thì Nhà nước có nghĩa vụ phải
thực hiện cam kết đó theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ năm, chế định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được
vai trò là bên được hưởng ưu đãi thuế trong quan hệ pháp luật về ưu đãi thuế,
trên cơ sở thỏa mãn các điều kiện được hưởng ưu đãi thuế theo quy định của
pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
Khách thể của quan hệ pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là
các lợi ích mà các bên chủ thể nhằm hướng tới khi tham gia quan hệ pháp luật về
ưu đãi thuế. Về lý thuyết cũng như thực tiễn, khi tham gia quan hệ pháp luật về
ưu đãi thuế, các bên có thể hướng tới những lợi ích giống nhau, nhưng cũng có
thể hướng tới những lợi ích khác nhau. Chẳng hạn, đối với chủ thể là Nhà nước,
khi tham gia quan hệ ưu đãi thuế, lợi ích mà Nhà nước hướng tới chính là những
thành tựu, kết quả tích cực có được từ việc điều tiết nền kinh tế, định hướng tiêu
dùng trong dân cư và thiết lập công bằng xã hội thông qua việc sử dụng chính
18
sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Còn đối với chủ thể nộp thuế, khi tham
gia quan hệ pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, họ nhằm hướng đến lợi
ích cơ bản là được giảm hoặc miễn thuế sự thuận lợi thu nhập doanh nghiệp,
hoặc được hưởng các điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện nghĩa vụ
thuế thu nhập doanh nghiệp.
Nội dung của quan hệ pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
chính là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Về lý thuyết, mỗi chủ thể
tham gia quan hệ pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có những
quyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về các quyền và nghĩa vụ của chủ thể là Nhà nước.
Khi tham gia quan hệ pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp,
Nhà nước có một số quyền, nghĩa vụ cơ bản như:
- Quyền xem xét các điều kiện ưu đãi thuế và quyết định cho người nộp
thuế được hưởng ưu đãi thuế theo hình thức nào, ưu đãi trong thời gian bao lâu