Một số biện pháp giúp học sinh sửa lỗi viết câu trong phân môn luyện từ và câu lớp 5a ở trường tiểu học nga nhân - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI VIẾT CÂU CHO HỌC
SINH LỚP 5A TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA NHÂN

Người thực hiện: Lê Thị Lan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nga Nhân
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tiếng Việt

THANH HOÁ NĂM 2016
1


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

A . MỞ ĐẦU

1

I. Lí do chọn đề tài

1-2

II. Mục đích nghên cứu


6. Phương pháp thực nghiệm.

3

7. Phương pháp tổ chức trò chơi.

3

8. Xử lí thông tin bằng phương pháp thống kê

3

B. NỘI DUNG

4

I. Cơ sở lí luận

4

II. Thực trạng

5-8

III. Các biện pháp thực hiện

9-16

IV. Kiểm nghiệm

công việc giúp học sinh viết được câu văn đúng về ngữ pháp hay đúng về mặt nội
dung là một việc làm cấp thiết hơn bao giờ hết trong việc dạy Tiếng Việt. Đối với
Tiếng Việt, câu chính là tế bào đầu tiên giúp các em đạt hiệu quả cao trong quá
trình tư duy và giao tiếp, hay nói cách khác quá trình tư duy và giao tiếp của con
người chỉ đầy đủ và trọn vẹn đạt hiệu quả cao khi được cung cấp ngữ pháp đầy đủ
về câu.
Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt lớp 5 có vị trí đặc biệt quan
trọng ở bậc Tiểu học. Môn Tiếng Việt lớp 5 lấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm định
hướng cơ bản để hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
( nghe, nói đọc, viết), để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của
lứa tuổi.
Để học tốt, học sinh cần phải biết cách diễn đạt- nói, viết phải thành câu thì
người đọc, người nghe mới hiểu được, Vì thế, ở mỗi môn học, đặc biệt là môn
Tiếng Việt, trọng tâm là phân môn Luyện từ và câu đã rèn cho học sinh thực hành
viết câu sao cho đúng cấu tạo ngữ pháp, đủ ý, trọn nghĩa, hợp lô gíc.
Để viết được câu, đoạn văn hoặc bài văn cần có cách dùng từ, đặt câu sinh
động. Việc nhận ra lỗi câu mình viết sai để đặt câu đúng và hay sẽ giúp cho các em
3


tự tin hơn trong giao tiếp. Đồng thời, nó tạo điều kiện để học sinh phát huy hết khả
năng ngôn ngữ vốn có của mình, giúp các em tham gia lĩnh hội kiến thức, rèn tư
duy và giáo dục tính thẩm mĩ; giúp các em học tập tốt trong những cấp học trên.
Việc dạy học sinh sử dụng “ câu” để học tập và giao tiếp trong nhà trường
Tiểu học hiện nay, bên cạnh những thành công còn nhiều hạn chế. Hơn thế nữa,
việc hướng dẫn học sinh đặt câu, xác định thành phần câu, chữa câu sai trong quá
trình dạy học là một việc làm còn nhiều nan giải. Là giáo viên Tiểu học cũng đã
nhiều năm dạy lớp 5, tôi nhận thấy: Số học sinh sử dụng câu đúng trong thực hành
nói, viết văn bản là rất ít. Khả năng nhận thức và sử dụng Tiếng Việt của nhiều học
sinh còn hạn chế. Phần lớn học sinh đặt câu không đúng về cấu tạo ngữ pháp, sai về

lớp 5A trường Tiểu học Nga Nhân”
* Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Trường Tiểu học Nga Nhân - Huyện Nga SơnThanh Hóa.
*Giới hạn khách thể khảo sát : Học sinh khối lớp 5 trường Tiểu học Nga Nhân Huyện Nga Sơn-Thanh Hóa. Tìm hiểu về việc viết câu và cách sửa lỗi viết câu cho
học sinh lớp 5A trường tiểu học Nga Nhân.
- Về thực trạng viết câu của học sinh lớp 5
- Một số lỗi khi viết câu và đề ra một số biện pháp sửa lỗi câu cho học sinh lớp
5A do tôi trực tiếp giảng dạy tại trường Tiểu học Nga Nhân.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Khi nghiên cứu phương pháp này tôi
đã nghiên cứu các tài liệu, giáo trình có liên quan như: SGK Tiếng Việt lớp 5, SGV
T.Việt lớp 5, đổi mới PPDH Tiếng Việt, các tài liệu có liên quan về T. Việt.
.Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh mô hình hoá để rút ra những vấn
đề lí luận có tính định hướng làm cơ sở để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:Nghiên cứu điều tra thực tiễn qua dự
giờ, phiếu điều tra, qua phỏng vấn học sinh và giáo viên để làm nền cho quá trình
nghiên cứu, đề ra những giải pháp mang tính khả thi nhất.
3. Phương pháp điều tra: Thông qua việc trao đổi bàn bạc với giáo viên, với
phụ huynh học sinh và học sinh nhằm nắm bắt thu thập tài liệu, các thông tin về
tình hình thực tế có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Tìm hiểu thực trạng về những
lỗi câu học sinh thường mắc phải, từ đó phát hiện các vấn đề cần nghiên cứu và
chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo.
4. Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với chị em đồng nghiệp về những
thuận lợi, khó khăn trong dạy học và cách sử dụng phương pháp hiện nay.
5. Phương pháp quan sát: Thông qua các tiết dự giờ, thao giảng trên lớp có
thể quan sát trực tiếp tình hình học tập của học sinh trong một tiết học qua đó biết
được khả năng tiếp thu bài, nắm bắt kiến thức qua bài làm của học sinh. Bên cạnh
đó học hỏi đồng nghiệp và chỉ ra những hạn chế trong giảng dạy của giáo viên.
6. Phương pháp thực nghiệm: Để kiểm nghiệm tính khả thi và tác dụng của
các bài đã thiết kế qua các bài điều chỉnh cho hợp lí nhằm đạt kết quả cao trong dạy
và học cũng như trong sửa lỗi câu cho học sinh.

Nói đến “câu”, trước hết ta biết: Câu là một đoạn lời, diến đạt một ý trọn
vẹn, là cấp độ nhỏ nhất của đơn vị giao tiếp bằng ngôn ngữ ( sau đoạn và văn bản).
Về hình thức, câu ứng với một kiểu cấu tạo nhất định. Trên chữ viết, câu được mở
đầu bằng một chữ viết hoa và kết thúc bằng một dấu chấm câu. Câu được học sinh
tiếp nhận qua từng giờ học.
Như vậy, dạy Luyện từ và câu cũng như dạy các môn học khác, giáo viên
cũng cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá các hoạt động của
học sinh. Lấy cơ sở của mỗi hoạt động là những việc làm của học sinh dưới sự
hướng dẫn gợi mở của thầy giáo, cô giáo. Nghĩa là trong giờ học, giáo viên cần lưu
ý đến các hình thức tổ chức dạy hấp dẫn phù hợp với nội dung bài và phù hợp với
đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh nhằm phát huy tính độc lập, tự giác của học
sinh, giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách vui vẻ, nhẹ nhàng và hiệu quả. Trong
giờ học các em phải được tham gia luyện tập thực hành nhiều và bộc lộ năng lực
của bản thân, làm sao tiết Luyện từ và câu thực sự là một tiết "học luyện từ và
câu".
II.Thực trạng dạy- học của giáo viên và học sinh lớp 5A trường Tiểu học
Nga Nhân.
6


1.Giáo viên:
Ưu điểm: GV đã nắm được yêu cầu của việc đổi mới phương pháp một
cách cơ bản, việc sử dụng đồ dùng tương đối có hiệu quả. Sự chỉ đạo chuyên
môn của phòng giáo dục, BGH, Tổ chuyên môn có vai trò tích cực giúp GV đi
đúng nội dung, chương trình phân môn Luyện từ và câu. - Bản thân tôi đã nhiều
năm liền dạy lớp 5, ít nhiều cũng đúc rút được chút kinh nghiệm trong giảng
dạy. Qua hội thi văn hoá được huyện tổ chức hàng năm đã khuấy động nên
phong trào văn hoá văn nghệ cho giáo viên và HS các trường tham gia một cách
tích cực. Bản thân tôi luôn có ý thức rèn cho các em cách diễn đạt trong giao tiếp
thông qua các cuộc thi: thi kể chuyện, các giờ sinh hoạt tập thể... Nhiều năm nay,

7


hạn chế. Các cách dạy trên của giáo viên đều dẫn đến học sinh không biết làm bài,
ngại học Luyện từ và câu.
Nhiều giáo viên chưa đánh giá đúng mức vị trí của môn Tiếng Việt đặc biệt là
phân môn Luyện từ và câu trong chương trình Tiểu học. Nguyên nhân dẫn đến
những hạn chế trong việc dạy học về cách sửa lỗi viết câu một phần là do trình độ,
năng lực sư phạm của giáo viên, có thể chính giáo viên cũng thiếu những tri thức
khoa học, thiếu vốn sống thực tế. Việc đầu tư nghiên cứu về nội dung, phương pháp
dạy học chưa được chú trọng; việc xác định mục tiêu bài dạy chưa trọng tâm dẫn
đến học sinh không tích cực trong giờ học. Trong mỗi tiết dạy, giáo viên cho các
em xác định yêu cầu bài tập sau đó cho học sinh làm mẫu và các em làm tương tự
các trường hợp còn lại. Sau khi hoàn thành bài tập, giáo viên chưa chú trọng khắc
sâu về kiến thức chủ yếu của bài học gì.
Để tìm hiểu về thực trạng của việc dạy sửa lỗi viết câu tôi đã tiến hành một số
biện pháp thăm dò, tìm hiểu, dự giờ đồng nghiệp dạy lớp 5.
Tiến hành dự giờ 2 tiết Luyện từ và câu lớp 5.Năm học:2014-2015
*Đ/c: Hoàng Kim Hoa - GV dạy lớp 5B với bài Tuần 13 - Tiết 2 “Luyện tập
về quan hệ từ”
Bài tập 2: Hãy chuyển mỗi cập câu trong đoạn a hoặc đoạn b dưới đây thành
một câu sử dụng các cặp quan hệ từ vì...nên... hoặc chẳng những...mà...
Giáo viên tiến hành như sau:
Giáo viên cho học sinh xác định yêu cầu bài tập. Sau đó cho học sinh làm bài
rồi nêu kết quả. Cuối cùng giáo viên chốt kết quả.
Những tồn tại giáo viên chưa làm được: Giáo viên chưa củng cố chắc chắn về
tác dụng của quan hệ từ và vì sao lại sử dụng cặp quan hệ từ đó...
*Đ/c: Mai Thị Len - GV dạy lớp 5A với bài Tuần 17 - Tiết 2 “Ôn tập về câu”
Bài tập 2: Phân loại các kiểu câu kể. Xác định các thành phần của từng câu.
Tồn tại: Ở tiết này, giáo viên cũng tiến hành như trên. Giáo viên chưa cho

5A

30

HTT

HT

Chưa HT

SL

TL

SL

TL

SL

TL

8

26,66
%

12

40%

hoặc chưa biết cách đặt câu có các thành phần phụ.
Ví dụ: các em viết: “Cô giáo chữa bài”.
Câu này cũng là một câu vì nó có đủ cả hai bộ phận chính, chủ ngữ là “cô
giáo” , vị ngữ là “chữa bài” và nếu ta thêm thành phận phụ vào câu và được viết là:
“Sáng nay cô giáo chữa bài tập Tiếng Việt” . Câu này sẽ hay hơn và ý nghĩa hơn
câu cũ vì thành phần phụ “sáng nay” bổ sung ý nghĩa cho cả khối chủ - vị, nó thông
báo cho ta biết cô giáo chữa bài tập vào sáng nay ( chứ không phải chiều nay ).
“ Bài tập” bổ sung ý nghĩa cho động từ “chữa” nó cho biết đối tượng của
hoạt động là gì “ chữa bài tập chứ không phải chữa bàn ghế”.
“Tiếng Việt” bổ sung ý nghĩa cho bài tập nó cho biết đây là bài tập gì “Bài
tập Tiếng Việt chứ không phải là bài tập Toán”.
*Ba là : Khi viết bài các em chưa biết cách sắp xếp cho phù hợp dẫn đến bài
văn diễn đạt lủng củng, cách lập luận còn yếu, lúng túng, chưa thoát ý và dẫn đến
câu sai. Đây có lẽ là nguyên nhân chính gây ra lỗi câu sai rất nhiều ở các em.Trong
giờ Luyện từ và câu, giáo viên mới chú trọng đến việc chấm lỗi về câu, nhưng
trong các môn học khác việc kiểm tra bài giáo viên gần như không để ý đến điều
này
+ Nhiều học sinh chưa có kĩ năng sử dụng dấu câu..
+ Nhiều học sinh chưa có biết cách nhận diện câu và sửa lỗi viết câu.
Số học sinh sử dụng câu sai với nhiều dạng lỗi khác nhau là tương đối nhiều:
- Học sinh viết sai về cấu tạo ngữ pháp như: Câu thiếu thành phần chủ ngữ,
vị ngữ hoặc cả chủ ngữ, vị ngữ; câu thừa thành phần; câu sắp xếp sai vị trí các từ,
không hợp lô gíc, không hợp với ý muốn nói trong câu.
- Câu sai nghĩa: Câu sai hoặc không rõ nghĩa; câu sai do chủ ngữ, vị ngữ
không tương hợp về nghĩa; câu có trạng ngữ và nòng cốt câu không tương hợp.
- Biết cách đặt câu đúng nhưng chưa hay, ý chưa sinh động.
Qua quá trình dạy, điều tra, khảo sát, tôi nhận thấy học sinh thường mắc lỗi
và các nguyên nhân như tôi đã nêu trên.
Vậy, làm sao để khắc phục được những nguyên nhân cơ bản nêu trên nhằm
khắc phục các lỗi viết câu để giúp các em đặt câu đúng và hay, phục vụ cho việc


C

V

Khi học sinh nêu ý kiến, giáo viên nhấn mạnh: Vì sao em lại xác định “Bọn bất
lương ấy” và “ chúng” là chủ ngữ ?
Biện pháp thứ 2: Rèn một số kĩ năng giúp học sinh sử dụng câu đúng.
- Kỹ năng đọc: Trong tất cả các giờ học, giáo viên phải luôn luôn chú trọng
rèn đọc cho học sinh ( đọc văn bản bài tập đọc, đọc yêu cầu, nội dung bài tập...),
đọc đúng chuẩn chính âm, khắc phục tiếng địa phương, hiểu nội dung vừa đọc...
Đây là một trong những kỹ năng giúp học sinh bước đầu học tập cách viết câu đúng
ngữ pháp.
- Kỹ năng nói: Nói phải đủ ý, trọn câu thì người nghe mới hiểu được. Vì thế,
trong quá trình học tập, giáo viên cần rèn cho học sinh nói rõ ràng, mạch lạc, nói
thành câu. Trên cơ sở học sinh nói tốt sẽ giúp cho việc thực hành viết câu tốt hơn.
- Kỹ năng viết: Một kỹ năng quan trọng trong thực hành đặt câu. Việc rèn
cách viết câu cần được chú trọng nhiều ở phân môn Luyện từ và câu. Trong mỗi
11


giờ học, giáo viên phải hướng dẫn kĩ cho học sinh về cấu trúc câu, dùng từ, đặt câu
cho đúng ngữ pháp, hợp nghĩa; cách sắp xếp câu thành đoạn văn cho hợp lô gíc
( viết đoạn văn).
Để rèn kỹ năng trên, trước hết giáo viên phải là người làm gương cho học
sinh noi theo. Trong các giờ học cũng như hoạt động ngoại khóa, giáo viên phải nói
lưu loát, rõ ràng, chuẩn tiếng phổ thông, nói thành câu, rõ ý để học sinh học tập.
Giáo viên phải có hành văn tốt, có kiến thức Tiếng Việt rộng để hướng dẫn học sinh
đặt được những câu đúng, sinh động; sửa những câu văn cụt, câu tối nghĩa thành
câu đúng ngữ pháp và hay về nghĩa.

c, Những cô bé ngày nào nay đã trở thành ( sử dụng từ chưa đúng “ trở thành”)
12


Vậy yêu cầu cơ bản khi viết câu là nội dung phải hợp lí về mặt logic và ngữ
nghĩa. Câu phải có nghìa , vì có nghĩa ta mới hiểu được nội dung thông báo.Cấu
trúc cú pháp của câu phải phù hợp với quy tắc Tiếng Việt: câu phải đủ nồng cốt là
một chỉnh thể độc lập. Câu có hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ.
* Chủ ngữ nêu tên sự vật, hiện tượng có hành động, đặc điểm, trạng thái ...
được miêu tả ở vị ngữ. Chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ. Ví dụ: Con bò đang
gặm cỏ CN VN Chủ ngữ thường do danh từ đảm nhiệm, nhưng cũng có thể do
động từ, tính từ đảm nhiệm. Chủ ngữ có thể được cấu tạo từ một từ hoặc một cụm
từ.
* Vị ngữ chỉ ra hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ của sự vật, hiện tượng
nêu ở chủ ngữ. Vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ, do động từ, tính từ (cụm động từ,
tính từ) hoặc do các từ, cụm từ khác đảm nhiệm.
* Giữa chủ ngữ và vị ngữ phải đảm bảo quan hệ hợp lí, chặt chẽ. Thường thì
trong câu chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau. Chỉ trong những trường hợp hạn
hữu, trong câu mới có hiện tượng đảo trật tự giữa chủ ngữ và vị ngữ. Khi muốn
nhấn mạnh ý, làm cho câu có tính gợi hình, gợi cảm người ta đảo vị trí của vị ngữ
lên đầu câu.
2. Nhận dạng các lỗi câu sai về cấu tạo ngữ pháp và cách sửa.
Như chúng ta đã biết, câu đúng về cấu tạo ngữ pháp là câu có đủ thành phần
câu ( đặc biệt là hai thành phần chính chủ ngữ và vị ngữ), không thừa hay thiếu
thành phần câu, câu phải rõ nghĩa, hợp lô gíc... Thực tế dạy học cho thấy, học sinh
đặt câu sai về cấu tạo ngữ pháp với rất nhiều dạng khác nhau. Nếu giáo viên không
giúp học sinh (đặc biệt là học sinh yếu) phân biệt các dạng lỗi viết câu thì các em
rất khó nhận ra lỗi trong câu và cách sửa. Vì vậy, giáo viên cần từng bước hướng
dẫn học sinh phân biệt lỗi câu mình viết sai, ghi nhớ các dạng lỗi và cách sửa để đặt
được câu đúng ngữ pháp.

(khi, lúc...) bao giờ cũng là bộ phận phụ định ngữ. Học sinh dễ nhầm lẫn định ngữ
được phát triển dài nên đã là câu.
Cách sửa:
Cách 1: Bỏ từ “ khi”: Những hạt mưa đầu xuân nhè nhẹ rơi trên lá non.
Cách 2: Thêm hai thành phần chính chủ ngữ và vị ngữ vào sau trạng ngữ,
chẳng hạn: Khi những hạt mưa đầu xuân nhè nhẹ rơi trên lá non, cây cối trong
vườn lại thêm sức sống.
2.2. Câu thừa thành phần hoặc không xác định được thành phần.
Ví dụ: Cái thước đối với em là đồ dùng học tập của em.
Lúc này, tôi giúp học sinh phân tích câu trên để thấy rõ trong câu từ được
lặp lại “em”. Câu có thành phần câu lặp lại một cách không cần thiết nên có thể bỏ
bộ phận thừa “đối với em” để trở thành câu đúng:
“ Cái thước là đồ dùng học tập của em”.
“Cái thước đối với em là đồ dùng học tập cần thiết”
Hoặc có học sinh viết câu: “Tôi lưỡng lự rất muốn đi chơi lâu cùng bố mẹ.”
Đây là dạng câu có kết cấu câu rối nát, cấu tạo khó xác định, quan hệ ý nghĩa
không rõ ràng. Muốn sửa, tôi trao đổi trực tiếp với học sinh để biết các em muốn
diễn đạt điều gì, từ đó sẽ có cách sửa hợp lí:
“Tôi rất muốn đi chơi lâu cùng bố mẹ.”
14


“Tôi lưỡng lự không biết có nên đi chơi lâu cùng bố mẹ không?”
2.3 Câu sắp xếp sai trật tự các từ, vị trí các thành phần câu.
Như chúng ta đã biết, trong câu, các từ phải được sắp xếp theo những quy tắc
nhất định đã được sử dụng rộng rãi, được công nhận trong văn viết và nói. Những
quy tắc, ngữ nghĩa về trật tự các từ chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình đặt
câu. Các từ, cụm từ cần được sắp xếp theo một trật tự phục vụ cho việc biểu hiện
các ý nghĩa, các chức năng ngữ pháp nhất định. Nếu thay đổi trật tự sắp xếp thì
phương diện này có thể thay đổi hoặc làm cho tổ hợp từ trở nên vô nghĩa, không



Hoặc lại có học sinh đặt câu: Hằng ngày, em ăn sáng.
Ở câu trên, học sinh dặt câu không rõ nghĩa, mặc dù đúng về cấu tạo ngữ
pháp, đúng về quan hệ ngữ nghĩa song thiếu thành phần phụ dẫn đến câu tối nghĩa.
Cách sửa: Thêm thành phần phụ cho câu để câu rõ nghĩa hơn.
Ví dụ: Hằng ngày, em ăn sáng lúc 6 giờ.
4.2.Câu có chủ ngữ, vị ngữ không tương hợp về nghĩa.
Chẳng hạn: Có học sinh viết: Cái cửa đã rách nát.
Hoặc đặt câu với từ “bạn bè”, học sinh viết: Em luôn đầm ấm với bạn bè.
Ở đây, học sinh không hiểu hết nghĩa của từ được dùng và khả năng kết hợp
của từ. Vì thế, giáo viên cần chỉ rõ để học sinh thấy được cần sửa bằng cách thay
các từ làm vị ngữ cho tương hợp về nghĩa.
Ví dụ: Thay từ “rách nát” trong câu: “Cái cửa đã rách nát”. Bằng từ “ cũ”.
Thay từ “đầm ấm” trong câu: “Em luôn đầm ấm với bạn bè”. Bằng từ
“đoàn kết”.
4.3. Câu có vế câu không tương hợp về nghĩa.
Chẳng hạn: Trong tiết Luyện từ và câu - Tiết 2 - Tuần 21, có bài tập 4 yêu
cầu: Thêm vế câu vào chỗ chấm để tạo thành câu ghép?
Có học sinh viết: Vì bạn Dũng không thuộc bài nên bạn rất vui.
Do nó chủ quan nhưng nó làm bài sai.
Để chữa câu trên, giáo viên cần yêu cầu học sinh đọc câu lên rồi nhận xét
xem hai vế câu đã tương hợp về nghĩa chưa? Từ đó, học sinh sẽ nhận ra chỗ sai:
Câu thứ nhất dùng vế câu sai còn câu thứ hai sai do dùng cặp quan hệ từ sai. Lúc
này, giáo viên khắc sâu thêm cho học sinh: Cần dùng cặp quan hệ từ cho đúng hoặc
thay một số từ ở vế câu vừa thêm cho phù hợp với dạng câu ghép chỉ nguyên nhân
– kết quả.
Vậy, hai câu trên được sửa như sau:
Vì bạn Dũng không thuộc bài nên bạn rất buồn.
Do nó chủ quan nên nó làm bài sai.

bộ phận lặp lại “vì mẹ lúc nào cũng lo lắng vất vả vì chúng em”
5.2. Lỗi không phù hợp với phong cách.
Chẳng hạn, học sinh viết: Cô giáo em dạy rất chi là hay.
Hoặc: Bạn Lan mắt phượng mày ngài.
Lúc này, gáo viên lưu ý học sinh: Đây là những câu không phù hợp với phạm
vi, lĩnh vực giao tiếp. Ở câu thứ nhất “rất chi là” chỉ dùng trong phong cách sinh
hoạt, không đưa vào văn viết. Ở câu thứ hai “mắt phượng mày ngài” là chỉ người
con gái đẹp, nhưng đó là cách nói của văn chương cũ, cụm từ này sử dụng ở đây
không hợp tạo nên sự bắt chước, khuôn mẫu, sáo rỗng. Cần sửa câu bằng cách thay
thế các từ ngữ cho phù hợp với phong cách giao tiếp.
VD:

Cô giáo em dạy rất hiểu bài.
17


Bạn Lan rất đẹp.
Biện pháp thứ 6: Viết câu phải đúng và hay về từ tránh dùng từ sai với
hoàn cảnh giao tiếp.
Câu do từ tạo thành. Vì thế, khi nói và viết phải dùng từ cho chính xác. Tức là
cách dùng từ cần phải có sự chọn lựa để tìm ra từ đúng và hợp nhất có giá trị nghệ
thuật, phù hợp với dụng ý cần diễn đạt.
VD1: Dì tôi là người có “ tiếng tăm”, được mọi người mến phục.
Không thể viết: Dì tôi là người có “ tai tiếng”, được mọi người mến phục.
Vì“tiếng tăm” là chỉ những điều tốt, người có tiếng tăm là người tài giỏi, làm
nhiều việc tốt được nhiều người mến phục. Còn “tai tiếng” là chỉ người làm việc
xấu, bị người đời chê trách. Cho nên câu trên phải dùng từ “tiếng tăm” mới phù
hợp.
VD2: Với tấm lòng nhân hậu, mẹ đã giúp đỡ nhiều người có hoàn cảnh khó
khăn.


- Con bằng 4 /2 bố.

- Cho đủ câu, rõ ý của bài

+ Tuổi bố và tuổi con là 42 tuổi

- Cho HS nhắc lại câu trả lời.

+ Tuổi con bằng 4 /2 tuổi bố

+ Bài toán hỏi gì?

+ Số người tuổi là?

- Giáo viên HD HS sửa lại cách trả lời + Tìm số tuổi mỗi người là bao nhiêu?
như thế nào cho đúng câu
IV. Kiểm nghiệm.
Thấy được tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu, tôi đã áp dụng các biện
pháp nêu trên trong quá trình dạy học ở lớp 5A trường Tiểu học Nga Nhân đối với
việc dạy và học về cách sửa lỗi viết câu và đã thu được kết quả:
* Giáo viên: Tôi đã xác định được tầm quan trọng của việc sửa sửa lỗi viết câu,
đầu tư nghiên cứu nội dung, phương pháp dạy học, mạnh dạn đổi mới phương pháp
dạy học, đã tập trung rèn các kĩ năng cho học sinh.
*Học sinh: Để kiểm nghiệm kết quả qua quá trình vận dụng các biện pháp mà
tôi đã rút kinh nghiệm, tôi tiến hành dạy thực nghiệm và khảo sát chất lượng của
học sinh lớp mình. Kết quả như sau :
Lớp

Số HS


0

0

Qua kết quả bài kiểm tra cho thấy đã có nhiều học sinh làm bài đạt điểm
giỏi, số học sinh đạt điểm khá tăng lên rõ rệt, học sinh đạt điểm trung bình giảm,
điểm yếu không còn.
Việc vận dụng các biện pháp như trên vào quá trình dạy thực hành sửa lỗi
viết câu cho học sinh cả lớp, tôi đã tạo điều kiện để cho tất cả các em tham gia thực
hành viết câu, phân biệt các dạng lỗi câu sai và cách sửa chủ yếu ở các tiết học
Luyện từ và câu và ở một số tiết học khác. Đồng thời phát huy hết khả năng học tập
cũng như vốn ngôn ngữ giao tiếp của học sinh. Sau thời gian thực nghiệm và đi dự
giờ của đồng nghiệp, tôi nhận thấy: Chất lượng học sinh đặt câu đúng ngữ pháp, đủ
ý, hợp nghĩa tương đối cao. Số học sinh yếu đã tiến bộ rõ rệt, biết được những lỗi
19


câu mình dùng sai và tự sửa được thành câu đúng. Số học sinh còn lại ( đặc biệt là
học sinh khá, giỏi) sử dụng câu trong viết đoạn văn, bài văn không những đúng mà
còn sinh động hơn nhiều. Vì vậy, các tiết học trở nên nhẹ nhàng hơn, các em tự tin
hơn trong học tập và giao tiếp. Kết quả trên đây đã phản ánh chất lượng dạy học
của giáo viên, kết quả học tập của học sinh, đồng thời phản ánh kết quả của quá
trình nghiên cứu đề tài.
Như vậy, chứng tỏ các biện pháp mà tôi đã đề ra ở trên là thiết thực, phù hợp
và có hiệu quả, mang lại những tác động tích cực tới bản thân của từng học sinh.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
I. Kết luận:
Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thực tế tôi thấy người giáo viên muốn
thực hiện tốt nhiệm vụ của mình thì phải miệt mài nghiên cứu tài liệu và điều quan

dụng linh hoạt các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học phù hợp.
II. Ý kiến đề xuất:
Để góp phần cho việc dạy tốt các môn học nói chung, phân môn Luyện từ và
câu nói riêng, tôi xin có một số ý kiến đề xuất như sau:
1. Đối với giáo viên:
- Giáo viên cần nắm vững quy trình và phương pháp giảng dạy LTVC cho
phù hợp với các hình thức luyện tập để hướng dẫn học sinh thực hiện đúng yêu cầu
bài tập LTVC đề ra.
- Trong khi dạy học giáo viên nên thường xuyên quan tâm tới tất cả đối tượng
học sinh, đặc biệt là giao việc thêm cho học sinh khá, giỏi để giúp các em phát triển
kiến thức cơ bản tiếp thu được thêm kiến thức nâng cao ngay trong từng bài học.
- Cần trang bị cho mình một số tài liệu tham khảo cần thiết để bổ sung hỗ trợ
trong quá trình giảng dạy.
- Mỗi giáo viên phải nhận thức đúng đắn về việc sửa lỗi câu sao cho có hiệu
quả, giải quyết được những tồn tại của học sinh.
2. Đối với nhà trường:
- Tăng cường bổ sung sách và tài liệu tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy.
- Tổ chức các chuyên đề, các buổi ngoại khóa hội vui học tập để thay đổi
không khí học tập cho học sinh.

21


- Nhà trường cần tổ chức hội thảo viết sáng kiến kinh nghiệm trong mỗi năm
học và đánh giá nghiêm túc các sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên để từ đó được
học tập lẫn nhau trong giảng dạy.
3. Đối với cấp quản lí:
Mỗi năm, PGD nên mở hội nghị khoa học để chỉ đạo cho giáo viên cách tiến
hành một công trình khoa học và cho chúng tôi được tham khảo, học tập một số
sáng kiến kinh nghiệm có chất lượng.

Tác giả: Nguyễn Trí - NXB GD
5. SGK Tiếng Việt lớp 5 - NXB GD.
6. SGV Tiếng Việt lớp 5 - NXB GD.

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status