SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HƯỚNG DẪN
HỌC SINH LỚP 2 VIẾT ĐOẠN VĂN NGẮN
Người thực hiện: Bùi Thị Hiền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Quảng Tâm
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
THANH HOÁ NĂM 2016
1
MỤC LỤC
Trang
1.MỞ ĐẦU…………………………………………………………………..1
1.1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………........1
1.2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………….3
1.3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………........3
1.4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………...3
2. NỘI DUNG………………………………………………………………..3
2.1. Cơ sở lí luận liên quan đến việc dạy học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn...3
2.2. Thực trạng việc dạy học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn…………………5
2.3. Một số giải pháp để hướng dẫn HS lớp 2 viết đoạn văn ngắn…………...8
2.4. Kết quả đạt được………………………………………………………..16
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ………………………………………………17
giải một bài toán thì điều đầu tiên là các em phải đọc đầu bài sau đó bằng tư duy
sự hiểu biết về môn học, các em trình bày bài giải qua nói, viết, giúp cho người
khác hiểu được bài làm của mình.
1.1.2. Cơ sở lý luận
Bước vào kỉ nguyên mới, đất nước ta có nhiều đổi mới, đổi mới về kinh tế,
xã hội, giáo dục,… Sự phát triển giáo dục của nước ta tăng nhanh giúp cho
những chủ nhân tương lai của đất nước luôn được phát triển toàn diện, đầy đủ về
năng lực, trí tuệ, tính cách. Qua việc nắm bắt các kiến thức, tri thức khoa học
ban đầu để từ đó hình thành nên những kĩ năng cần thiết của cuộc sống, hành
động đúng cho bản thân. Trong trường Tiểu học, môn Tiếng Việt có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng đối với học sinh bởi nó là môn học cung cấp cho các em những
kiến thức cần thiết trong giao tiếp hàng ngày. Nó giúp các em phát triển toàn
diện, hình thành ở các em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn
luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con
người mới. Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ. Dạy học Tiếng Việt giúp
các em hình thành 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Tập làm văn
trong môn Tiếng Việt hội tụ đủ cả 4 kĩ năng trên. Nó là phân môn tổng hợp toàn
bộ kiến thức đã học ở trong tuần từ các phân môn: Tập đọc, Tập viết, Chính tả,
Kể chuyện, Luyện từ và câu. Đối với học sinh lớp 2 thì đây là một phân môn
3
khó. Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp. Bên
cạnh đó, còn có một số khó khăn khách quan như điều kiện hoàn cảnh sống của
học sinh ở địa bàn vùng ven của thành phố, gia đình không có điều kiện quan
tâm đến các em, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu kiến thức khá chậm,
học sinh nghèo vốn từ ngữ,… Điều này ảnh hưởng đến việc học tập nói chung,
học phân môn Tập làm văn nói riêng.Với mục tiêu rèn học sinh ở cả bốn kỹ
năng nghe, đọc, nói, viết trong đó kĩ năng viết “một đoạn văn ngắn” là yêu cầu
cơ bản khá trọng tâm ở phân môn Tập làm văn lớp 2.
ra? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng học
tập cho HS của lớp mình. Đây là lý do tôi chọn và áp dụng một số giải pháp để
“Giúp học sinh lớp 2 viết được đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu”, nhằm góp phần
nâng cao chất lượng dạy - học phân môn Tập làm văn lớp 2.
4
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Đề tài góp phần khắc phục được hạn chế về cách viết một đoạn văn ngắn
với câu văn cộc lốc, không đúng ngữ pháp, hay câu văn không rõ ràng, sự sắp
xếp các câu văn không lôgíc...Qua đó bồi dưỡng lòng say mê yêu thích con
người, cảnh vật xung quanh các em.
- Góp phần vào đổi mới cách dạy tiếng Việt, giúp học sinh có kĩ năng viết
đoạn văn ngắn trong phân môn Tập làm văn lớp 2 theo hướng phát huy tính cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Từ cách đổi mới phương pháp dạy của thầy góp phần đổi mới cách học
của trò. Phát huy hết khả năng tự phát hiện của học sinh thông qua cách tổ chức
câu, ý sao cho lôgíc, cách sử dụng từ chính xác và hay khi viết.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung, chương trình, Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, đặc biệt là phân
môn Tập làm văn lớp 2 và một số tài liệu tham khảo.
- Một số giải pháp để hướng dẫn học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn trong
giờ Tập làm văn.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết:
- Để thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu
đã có và bằng các thao tác tư duy logic để rút ra các kết luận khoa học cần thiết.
Lựa chọn những thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu. Liên kết, sắp
xếp các tài liệu, thông tin lí thuyết đã thu thập được để tạo ra một hệ thống lí
thuyết đầy đủ, sâu sắc về chủ đề nghiên cứu.
Sang đến học kỳ II các em được viết đoạn văn tả ngắn về bốn mùa, tả ngắn về
loài vật (chim ), tả cảnh (biển), tả cây cối, tả người (ảnh Bác Hồ). Tuần 34 và 35
học sinh được kể về những việc làm mà bản thân chứng kiến hoặc tham gia .
- Xen kẽ giữa các bài tập có yêu cầu kể (tả) nói trên có 2 dạng bài kể (tả)
con vật được viết đầy đủ song sáo trộn trật tự câu nhằm mục đích củng cố về
liên kết câu, gắn kết ý …
- Mở đầu ngay ở tuần 1, sách giáo khoa đã giới thiệu cách kể theo nội dung
tranh sau đó viết thành đoạn. Đây chính là hình thức giúp học sinh vận dụng linh
hoạt kỹ năng vốn hiểu biết khi học phân môn kể chuyện vào viết đoạn văn ngắn.
2.1.3. Vị trí , nhiệm vụ, nội dung của phân môn tập làm văn lớp 2:
- Vị trí : Ở tiểu học nhất là lớp 2, Tập làm văn là một trong những phân
môn có tầm quan trong đặc biệt (ở lớp 1 các em chưa được học, lên lớp 2 học
sinh mới bắt đầu được học, được làm quen). Môn tập làm văn giúp học sinh có
kỹ năng sử dụng Tiếng Việt được phát triển từ thấp đến cao, từ luyện đọc cho
đến luyện nói, luyện viết thành bài văn theo suy nghĩ của từng cá nhân. Tập cho
các em ngay từ nhỏ có những hiểu biết sơ đẳng đó cũng là rèn cho các em tính
tự lập, tự trọng. Con người văn hóa sẽ hình thành trong các em từ những việc
nhỏ nhặt, tưởng như không quan trọng đó.
- Nhiệm vụ : Làm văn có nghĩa là tạo lập văn bản. Nhiệm vụ chính của
phân môn Tập làm văn là rèn luyện cho học sinh kỹ năng tạo lập văn bản. Ở đây
thuật ngữ “ văn bản” được dùng để chỉ sản phẩm hoàn chỉnh của lời nói trong
một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Đó không nhất thiết là một bài văn gồm nhiều
câu; nhiều đoạn; cũng không nhất thiết phải ở dạng viết; càng không phải chỉ là
loại văn kể chuyện hay miêu tả theo phong cách nghệ thuật. Trong hoàn cảnh
giao tiếp cụ thể, sản phẩm lời nói mà một người tạo lập được có thể chỉ là một
câu chào, một lời cảm ơn hay một vài dòng thăm hỏi, chúc mừng trên tấm
thiếp…Đối với lớp 2, dạy Tập làm văn là trước hết là rèn luyện cho học sinh kỹ
năng phục vụ học tập và giao tiếp hàng ngày, cụ thể là:
* Dạy các nghi thức lời nói tối thiểu, như: chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn,
xin lỗi, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành…
trẻ, hết lòng vì học sinh thân yêu. Trường nhiều năm liền đạt danh hiệu là trường
Tiên tiến Xuất sắc, có nhiều thành tích đáng kể. Nhiều năm trường đã được công
nhận: Tập thể lao động xuất sắc. Trường có tổng số học sinh gần 650 em chia
làm 5 khối gồm 19 lớp. Khối 2 có 129 em, chia làm 4 lớp. tất cả các lớp đều
được học 2 buổi/ ngày nên giáo viên có điều kiện rèn cho các em học tập được
tốt hơn. Các em học sinh rất ham tìm tòi hiểu biết, ưa tham dự vào các hoạt động
Đội - Sao nhi đồng. Hầu hết các em học sinh là con em nông dân, công nhân
nhưng các em đều được gia đình, nhà trường quan tâm, giáo dục các em ngay từ
nhỏ nên các em đều ngoan và có ý thức tốt.
- Về kiến thức trong sách giáo khoa: Nói chung kiến thức trong sách giáo
khoa được sắp xếp một cách hợp lí, lôgic đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cách
nhìn thực tế đến sự vận dụng vốn sống, vốn hiểu biết để viết đoạn văn. Học sinh
được dạy các kĩ năng kể (tả) đơn giản. Song không phải kể lại hoặc tả lại câu
chuyện cảnh vật theo nội dung bài tập đọc dựa vào lời kể (tả) của tác giả mà các
em được kể (tả) những gì có và diễn ra trong cuộc sống xung quanh. Điều này
đã phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong kĩ năng viết
đoạn văn ngắn. Do đó, ta có thể khẳng định rằng: Sách giáo khoa Tiếng Việt 2
đặc biệt chú trọng tới rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh.
2.2.2. Những khó khăn hạn chế khi dạy học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn .
*Về phía giáo viên:
7
- Một số giáo viên chưa coi trọng việc rèn viết đoạn văn cho học sinh cách
dạy của giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên,
hầu như rất ít sáng tạo, chưa linh hoạt, chưa cuốn hút được học sinh. Cách dạy
của giáo viên có phần khuôn mẫu.
Ví dụ: Khi dạy học sinh bài Tập làm văn tuần 20 “ Tả ngắn về bốn mùa ".
Giáo viên đã hướng dẫn gợi mở các câu hỏi theo sách giáo khoa:
+ Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm ? (Mùa hè bắt đầu từ tháng tư
Ví dụ : Khi dạy bài Tập làm văn tuần 8 để viết đoạn văn kể về cô giáo (thầy
giáo) cũ của em sách giáo khoa có mấy câu hỏi gợi ý trong đó có câu hỏi:
+ Tình cảm của cô đối với học sinh như thế nào?
+ Em nhớ nhất điều gì ở cô ( thầy)?
+ Tình cảm của em đối với thầy (cô) như thế nào? Có em viết như sau :
Tình cảm của cô đối với em rất tốt. Em nhớ nhất điều là cô giáo rất dịu dàng và
viết chữ rất đẹp. Tình cảm của em đối với cô rất kính trọng.
2.2.3. Nguyên nhân của thực trạng
* Do học sinh chưa có kỹ năng quan sát. Do tâm lý lứa tuổi, do chưa được
rèn luyện thường xuyên nên các em chưa có cách quan sát cụ thể chi tiết. Các
em chỉ quan sát thoáng qua, hời hợt, thậm chí có em còn không để ý đến đối
tượng cần quan sát. Thêm vào đó khả năng tưởng tượng còn hạn chế, thiếu vốn
sống thực tế. Do vậy khi viết đoạn văn còn có những câu văn lạc lõng không sát
thực với yêu cầu của đề bài.
*Chưa biết dùng từ, đặt câu. Vốn từ của học sinh lớp 2 còn nghèo nàn,
chưa hiểu hết nghĩa của từ , chưa hiểu nhiều về cấu tạo của câu nên khi viết
đoạn văn các em còn nhiều hạn chế. Các em không biết viết thế nào, viết từ đâu
để thành một đoạn văn.
*Chưa có kỹ năng sắp xếp câu thành đoạn. Từ chỗ nói chưa thành câu, nói
câu cộc lốc nên khi viết các em bị chi phối nhiều. Hơn nữa các em còn không
biết viết câu nào trước, câu nào sau, viết chưa thành câu đã chấm hết câu, viết
9
xuống dòng tùy tiện do vậy nhiều bài văn của các em viết không thành đoạn
theo nội dung yêu cầu.
*Giáo viên dạy phần lý thuyết chưa tốt. Nhiều giáo viên chưa chuẩn bị kĩ
nội dung bài trước khi lên lớp, chưa thực sự đổi mới phương pháp, chưa tự giác
tự nghiên cứu trau dồi thêm chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ công tác giảng
dạy.
em viết :"Cô giáo em tên là Loan. Cô Loan có dáng người cao, cô Loan có mái
tóc dài, cô Loan có đôi bàn tay rất khéo viết chữ rất đẹp...".
Hay có em viết: Cô giáo em có đôi mắt to tròn xoe như hai hòn bi ve.
+ Câu không rõ nghĩa, câu không đủ bộ phận, các câu trong đoạn văn còn
lộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả lời câu hỏi.
Ví dụ có em viết : "Cô giáo em dạy lớp 1. Có nụ cười tươi. Em rất yêu quý
cô. có hàm răng trắng. cô giảng dễ hiểu. Em rất quý cô"....
+ Có em viết đoạn văn theo cách trả lời nắp đuôi như sau: Tình cảm của cô
đối với em rất tốt.
Trước thực trạng đó tôi đã tìm tòi, tham khảo nghiên cứu và đưa ra một số
giải pháp cụ thể.
2.3. Một số giải pháp để hướng dẫn học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn trong
phân môn Tập làm văn
Giải pháp 1: Rèn các kỹ năng cơ bản cho học sinh viết đoạn văn ngắn.
Giáo viên cần chú trọng việc rèn các kĩ năng cơ bản để viết đoạn văn ngắn
cho học sinh. Cần coi đây là công việc có vị trí quan trọng trong chương trình
Tiếng Việt lớp 2. Vì có viết đoạn văn tốt thì học sinh mới có nền tảng vững chắc
để học văn sau này. GV cần rèn cho học sinh các kĩ năng cơ bản sau:
* Kĩ năng quan sát kết hợp với kĩ năng lựa chọn ngôn ngữ:
Giáo viên yêu cầu học sinh có thói quen quan sát những sự vật hiện tượng
xung quanh để ghi nhận lại và sử dụng khi thật cần thiết. Quan sát trên lớp theo
gợi ý, hướng dẫn của giáo viên, giáo viên cũng cần sưu tầm những phim ảnh để
10
có thể trình chiếu cho các em quan sát hoặc tự quan sát khi chuẩn bị bài
Giáo viên cần khai thác kỹ tranh ảnh, hình ảnh, tập trung quan sát đặc điểm nổi
bật của đối tượng, mục đích là giúp HS tránh được kiểu kể theo kiểu liệt kê. GV
chú ý khơi gợi ở mỗi em những nhận xét, những từ ngữ diễn tả đúng điều quan
sát được, tiến tới tìm từ hay, có hình ảnh, gợi cảm. Bên cạnh đó, tôi cũng hướng
* Giúp học sinh nắm chắc bố cục của đoạn văn: Tạo cho các em thói quen
làm văn phải có bố cục 3 phần :
Phần 1: Câu mở đầu: Giới thiệu đối tượng cần viết (Có thể diễn đạt bằng
một câu)
Phần 2: Phát triển đoạn văn : Kể về đối tượng: Có thể dựa theo gợi ý , mỗi
gợi ý có thể diễn đạt 2,3 câu tùy theo năng lực học sinh.
11
Phần 3: Câu kết thúc: Có thể viết một câu thường là nói về tình cảm, suy
nghĩ, mong ước của em về đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích
lợi của đối tượng đó đối với cuộc sống, với mọi người.
Ví dụ: Viết về một con vật:
- Con vật em định kể là con vật gì?
- Nó sống ở đâu? Hình dáng nó như thế nào?
- Hoạt động của nó có gì nổi bật?
- Vì sao em thích con vật đó?
Ví dụ:
Câu mở đầu: Giới thiệu Trong thế giới loài chim, em thích nhất là chim
chim cánh cụt
cánh cụt.
Phát triển: Kể về chim Chim cánh cụt sống ở những nơi lạnh giá, đầy
cánh cụt
băng tuyết. Nó có đôi cánh giống như hai mái
chèo. Dáng đi của nó lũn chũn, trông rất buồn
cười. Là một loài chim nhưng em chẳng thấy nó
bay bao giờ. Thế nhưng nó có thể lặn sâu dưới
văn dẫn lời nói của người khác em phải cho trong ngoặc kép.
Ví dụ : - Muốn kể lại lời nói của Dì trong đoạn viết về người thân của em, cần
phải viết trong ngoặc kép như: Dì em bảo: “Cháu cứ lấy kẹo ra mà ăn ". Hoặc
khi trích dẫn lời nói của chú vẹt khi viết về một loài chim mà em thích. Mỗi khi
có khách đến chơi chú lại nhanh nhảu: "Có khách! Có khách !".
- Việc rèn cho học sinh viết đoạn cần tạo điều kiện phát huy tính tích cực,
chủ động của học sinh. Phải làm sao cho mỗi đoạn văn là một cơ hội sáng tạo
cho học sinh thâm nhập, quan sát, phân tích từ thực tế.
* Giúp học sinh lập sơ đồ trước khi thành lập đoạn văn:
Đây là một việc làm có vị trí quan trọng trong việc dạy học sinh viết đoạn
văn ngắn. Nó phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh, khơi gợi
hứng thú học tập cho các em.
Tôi xin gợi ý một cách lập sơ đồ thông qua một trò chơi “Em và chú gà”
như sau . Ví dụ : Khi tả một chú gà, giáo viên cho hai em lên sắm vai, một em là
“chú gà”, một em là “người tả”. Cùng lúc đó, giáo viên cho học sinh vẽ sơ đồ
trên vở nháp.
“Người tả” sẽ nói một câu để giới thiệu chú gà “ Nhà em có nuôi một chú
gà”
Còn “chú gà” thì vừa nói vừa diễn tà : “Tôi có bộ lông nhiều màu sắc. Tôi
có cái mào trên đầu. Tôi gáy rất to …”
Người tả lúc này nói về tình cảm của mình đối với chú gà : “Em thường rải
thóc cho gà ăn …” Hoặc có thể tinh giảm em “người tả” chỉ cần một em sắm vai
“chú gà”.
- Sau khi nghe tả và quan sát xong các em thành lập ra một sơ đồ như sau :
Chú gà ở nhà em mào đỏ, gáy to. Con gà lông nhiều màu, ăn thóc. Từ đó các em
đã nắm được các đặc điểm của con vật cần tả mà phát triển thành một đoạn văn.
- Từ sơ đồ đã thành lập ở trên, giáo viên yêu cầu học sinh tạo thành câu, cứ
thể nối tiếp nhau thành lập thành đoạn văn. Trong lúc đó, giáo viên có thể ghi lại
trên bảng, thế là đã có những đoạn văn mẫu. Có thể câu văn lúc ấy còn lủng
củng nhưng ta có thể sửa chữa.
Hay khi học về chủ đề “ Ông bà“ “Cha mẹ”, “Anh em” ( từ tuần 10 đến
tuần16), với rất nhiều những bài đọc thắm đượm tình cảm thương yêu trong gia
đình, cùng với những tiết học phân môn Luyện từ và câu cung cấp, mở rộng vốn
từ ngữ cho HS, ngoài việc giúp HS hiểu rõ và nắm chắc người thân của mình là
những ai, ngoàiviệc khai thác và giáo dục tình cảm cho HS thông qua các nhân
vật trong bài Tập đọc, nhấn mạnh cái hay, cái đẹp của nội dung bài, hướng cho
HS liên hệ đến bản thân, gia đình, người thân của mình, tôi còn cung cấp thêm
từ ngữ, hướng dẫn các em hệ thống lại, lựa chọn, ghi nhớ các từ ngữ phù hợp
với đề tài ( ông bà, cha mẹ, anh em ) để chuẩn bị cho bài làm văn sắp tới ( viết
về người thân ), tôi luôn nói với các em sự cần thiết phải học thuộc và lựa chọn
những từ ngữ đã học để các em vận dụng vào bài tập làm văn, khơi gợi và kích
thích tinh thần học tập của các em.
Để hỗ trợ cho học sinh, giáo viên cần cung cấp cho học sinh : Nhiều từ ngữ
gợi tả, từ láy, từ tượng thanh, tượng hình, từ đồng nghĩa …phù hợp với bài văn.
Chẳng hạn khi viết đoạn văn kể về người thân thì HS sẽ có nhiều bài làm
khác nhau, GV cần giúp HS chọn lựa từ ngữ cho phù hợp, khi kể về bố là thầy
giáo thì từ ngữ sử dụng phải khác với bài viết bố là bộ đội; viết về tình cảm của
em đối với với cha mẹ, ông bà thì từ dùng phải khác với viết về tình cảm của
14
mình đối với bạn bè; Viết về cảnh biển buổi sáng có thể dùng các từ đồng nghĩa
như: bình minh, hừng đông, sớm mai; viết về gia đình có các từ như đoàn tụ,
sum họp, sum vầy, quây quần…; Để diễn tả mặt trời mùa hè có các từ: chói
chang, gay gắt, đỏ rực, như mâm lửa khổng lồ, như quả cầu lửa…Tả về tiếng hót
của chim: hót líu lo, hót véo von, hót vang lừng …Tả về hình dáng người: Thân
hình ( mảnh khảnh, gầy gò, béo tròn, thon thả … ); Nước da ( đen sạm, trắng
hồng, bánh mật, xanh xao, đỏ đắn, ngăm đen …); Mái tóc (đen bóng, óng mượt,
bồng bềnh, loăn xoăn…); Khuôn mặt ( trái xoan, đầy đặn, tròn trịa, xương
xương, vuông vức...)...GV cần chuẩn bị kỹ với mỗi bài để hướng dẫn HS vận
Bài tập viết đoạn văn ngắn là loại bài sản sinh lời nói. Học sinh tập viết
đoạn văn là tập sản sinh lời nói, văn bản. Vì vậy, giáo viên cần dựa vào các bước
sau để hướng dẫn học sinh làm bài tâp .
Bước 1: - Xác định yêu cầu bài.
15
+ Học sinh nêu yêu cầu bài tập.
+ Giáo viên phân tích yêu cầu.
- Định hướng học sinh viết.
+ Tả (kể) về ai (cái gì) ?
+ Viết mấy câu ?
+ Viết với tình cảm như thế nào ?
+ Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý.
- Dù mới là học sinh lớp 2, bài viết chưa yêu cầu cao với bố cục một bài văn như
lớp 4 - 5, cũng chưa có khái niệm lập dàn ý. Song với đoạn viết từ 3 đến 5 câu
với 2 đến 3 ý cũng cần sự sắp xếp ý. Ở học kỳ I học sinh được kể về những
người thân thiết với mình như: Cô giáo, thầy giáo, ông, bà, anh, chị, em… Do
đó giáo viên nên gợi ý học sinh trước tiên tự giới thiệu về người đó (Tên là gì?,
mối quan hệ với bản thân?). Tiếp đó là hình dáng, tính cách, công việc hoặc ý
thích của người kể và cuối cùng là tình cảm của học sinh đối với người mình kể.
- Sang học kỳ II, học sinh được tả về một số con vật, cảnh vật xung quanh mình.
Đầu tiên cần gợi mở cho học sinh giới thiệu về vật (cảnh vật) định tả. Chi tiết
nổi bật của cảnh, vật đó. Cuối cùng là tình cảm của bản thân đối với cảnh vật và
con vật đó…
- Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn. Ở khâu này học sinh bộc lộ rất
rõ nhược điểm về tư duy cách viết câu, sử dụng từ. Giáo viên không nên làm
thay cho học sinh mà nên trang bị một số tình huống, một số cách dùng từ, một
số cách liên kết phù hợp với nội dung đoạn viết để học sinh vận dụng viết bài.
Bước 2: Học sinh viết bài vào vở. (Trước khi viết vào vở cho học sinh nêu
+ Học sinh thường làm gì vào dịp nghỉ hè? (Học sinh được đi tham quan, thắng
cảnh, thăm ông bà…).
- Đây chính là ý 3 của đoạn viết.
+ Đoạn viết có mấy ý? (3 ý)
- Giáo viên giảng mùa hè đến khiến cho cây tươi tốt trái trĩu cành và học sinh
được nghỉ hè.
+ Ý nào là kết quả của ý nào đem tới? (ý 2 và ý 3 là kết quả của ý 1 đem tới).
Vậy đoạn văn có thể viết : Ý1----- Ý2------- Ý3 Hoặc: Ý1----- Ý3------- Ý2
Hoặc: Ý1----- Ý3 lồng Ý2
+ Hướng dẫn học sinh phát triển thành đoạn văn. Với 3 ý này học sinh có thể
phát triển mỗi ý thành 1 hoặc 2 câu. Từ câu này sang câu khác phải có sự liên
kết tránh lặp lại từ ý này phát triển tiếp ý kia.
Giáo viên gợi ý: Với ý 1 nói về thời điểm và đặc điểm tiêu biểu của mùa hè các
em cần lưu ý không nên lặp lại từ mùa hè trong 2 câu liên tiếp. Khi viết về ánh
nắng mặt trời nên dùng cách so sánh như: Nắng như thiêu như đốt, nắng cháy da
cháy thịt, nắng chang chang, nắng rát cả mặt…
+ Ánh nắng mùa hè em đã cảm nhận bằng những giác quan nào? (Em đã cảm
nhận bằng mắt, da…).
+ Em có ngửi thấy mùi hương của hoa không? (Có).
+ Có được ăn hoa quả trong mùa hè không? (Có).
+ Đó là hương vị ta cảm nhận được bằng gì? (Cảm nhận được bằng mũi và
lưỡi).
+Vậy với nội dung ý 2 các em cần lưu ý điều gì? (Em cần đội mũ nón…) Tóm
lại: Không nhất thiết cứ mỗi câu hỏi viết được một câu trong đoạn văn. Cần viết
với sự cảm nhận bằng nhiều cách: Nhìn, ngửi, ăn… xen lồng với tình cảm của
bản thân về mùa hè.
Bước 2: Học sinh làm bài vào vở.
- Giáo viên hướng dẫn cách trình bày một văn bản. Khi bắt đầu viết đoạn cách lề
một ô, viết hết câu này tiếp sang câu khác, ý này tiếp sang ý kia, viết hết đoạn
mới xuống dòng.
quan trọng trong quá trình giáo dục. Khen thưởng giúp học sinh tự khẳng định
mình, tin tưởng vào những gì bản thân các em đã làm, củng cố vững chắc kết
quả học tập, không ngừng cố gắng vươn lên để tiếp tục hoàn thiện nhân cách.
Trong giảng dạy, GV nên động viên, khen thưởng HS kịp thời khi các em có
tiến bộ (đơn giản chỉ là một tràng vỗ tay của cả lớp hay lời khen của cô giáo).
Đây chính là động lực lớn giúp các em phấn chấn về tinh thần, tích cực tham gia
vào các hoạt động trên lớp.
Để khen thưởng mang lại hiệu quả giáo dục tích cực thì giáo viên cần tuân
thủ một số yêu cầu sau: Khen thưởng phải đảm bảo tính khách quan, công bằng,
hợp lí. Khen thưởng đúng lúc, đúng chỗ, kịp thời, phải kết hợp chặt chẽ giữa
khen và thưởng, giữa động viên và khuyến khích tinh thần tương ứng với sự
đóng góp của học sinh. Khen thưởng phải cụ thể, làm cho học sinh được khen
thưởng cảm thấy xứng đáng, tự hào về quá trình phấn đấu của mình và mong
muốn sẽ cố gắng nhiều hơn. Cần đặc biệt khen thưởng những em có tính rụt rè,
nhút nhát khi các em có cố gắng.
Nhờ động viên, khen thưởng HS trong các tiết học tôi đã thu được kết quả
đáng mừng: Từ tâm lí sợ học các tiết Tập làm văn, nay các em đã rất hào hứng,
tích cực tham gia vào các tiết học này và học môn Tiếng Việt tốt hơn. Chính vì
vậy giải pháp này có thể áp dụng cho các lớp ở Tiểu học nói chung.
2.4. Kết quả đạt được:
Sau khi sử dụng các giải pháp trên, tôi đã tìm thấy niềm vui trong công việc
và càng thấy yêu nghề hơn. Tôi nhận thấy các em học sinh không còn sợ học
18
phân môn Tập làm văn nữa vì bản thân các em đã được đóng vai trò chủ đạo
trong các tiết học. Giờ đây các em học sinh ở lớp tôi đã tiến bộ rất nhiều, chất
lượng học tập ngày càng được nâng lên. Số lượng học sinh yêu thích phân môn
Tập làm văn ngày càng tăng. Chất lượng khảo sát cuối năm ở lớp tôi thật đáng
mừng. Tỉ lệ bài viết ở mức chưa hoàn thành không còn nữa. Nhiều bài viết đạt
- Trong quá trình dạy học người giáo viên phải luôn có sự sáng tạo, tự cải
tiến phương pháp dạy học của mình để nâng cao chất lượng dạy học.
- Ngay từ đầu năm học, phải trao đổi kĩ với giáo viên chủ nhiệm lớp trước
về năng lực học tập của từng học sinh. Phải trò chuyện, trao đổi với từng học
sinh và phụ huynh để tìm ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc sử dụng từ
ngữ của các em, đưa ra các giải pháp cụ thể phù hợp với từng đối tượng học
sinh.
- Khi tổ chức các tiết học GV cần tiên liệu những tình huống có thể xảy ra
để có hướng giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của học sinh, tránh
nhận xét và trả lời chung chung, không mang tính thuyết phục. Quá trình hướng
dẫn học sinh thực hành, GV cũng phải hết sức kiên trì, khéo léo, nhất là trong
bước đánh giá và nhận xét. Làm sao để từng bước giúp HS tìm ra, thu nhận được
vốn từ nhiều hơn. Dùng từ và viết được những câu văn hay hơn, chính xác hơn.
- Cần tạo ra môi trường học tập thân thiện cho các em.
- Giúp HS nắm vững yêu cầu của bài tập ( bằng lời giải thích, bằng phương
pháp trực quan…)
- Chọn cách tổ chức hoạt động phù hợp với từng bài, có khả năng kích
thích hứng thú học tập của học sinh.
- Khuyến khích học sinh thể hiện, bộc lộ khả năng của mình .
- Hình thành cho các em thói quen học tập, làm việc một cách khoa học.
- Quan sát thực tế, sử dụng đồ dùng dạy học, câu hỏi gợi ý, dẫn dắt học
sinh hình thành kĩ năng và kiến thức mới.
19
- Đặt các tình huống có vấn đề giúp học sinh luôn suy nghĩ, tìm tòi để phát
triển tư duy, học cách ghi nhớ để nhớ lâu kiến thức.
- Sử dụng nhiều hình thức: thi đua , động viên khen thưởng HS để khuyến
khích các em nỗ lực học tập. Đây chính là động lực lớn giúp các em phấn chấn
về tinh thần, tích cực tham gia vào các hoạt động học tập. Nhờ động viên HS
Bùi Thị Hiền
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt Lớp 2 tập 1, 2
2. Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2
3. Tạp chí Giáo dục Tiểu học tập 32
4. Tạp chí Giáo dục Tiểu học tập 37
21