1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
Cấp tiểu học là cấp học nền tảng, quan trọng trong hệ thống các cấp học ở
nước ta vì đây là cấp học mở đầu cung cấp những kiến thức cơ bản, ban đầu cho
học sinh đồng thời thông qua các hoạt động học tập đó người giáo viên còn dạy
cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn chuẩn bị cho các cấp học tiếp theo.
Trong quá trình công tác và giảng dạy ở trường Tiểu học Tam Chung,
huyện Mường Lát, nơi có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống, tôi đã nhận
thấy việc nói và viết Tiếng Việt của các em còn sai nhiều, đặc biệt là đọc thế nào
viết thế đó, sử dụng từ và đặt câu còn gặp nhiều khó khăn, vốn ngôn ngữ còn
nghèo nàn nên khi nói và viết chưa lưu loát, sai lỗi còn nhiều. Từ đó tôi thấy
một số điều bất cập sau:
- Học sinh đọc rất yếu (hầu hết các em phải đánh vần và đọc chậm).
- Học sinh ít hiểu nội dung bài đọc.
- Học sinh phát âm còn sai nhiều.
- Học sinh ngắt, nghỉ hơi chưa đúng chỗ.
- Học sinh chưa hiểu các từ ngữ trong văn bản, nhất là các từ ngữ mới.
- Nội dung bài tập đọc khá dài, trong khi đó học sinh đọc chậm dẫn đến
trong 35 phút rất khó cho giáo viên hoàn thành bài dạy.
- Học sinh còn đọc vẹt (đọc theo giáo viên, theo bạn mà một lúc sau
không đọc được, không hiểu nội dung bài đọc) khá nhiều.
Trong khi đó, tập đọc là phân môn rất quan trọng trong chương trình
Tiếng Việt lớp 2, rất nhiều bài tập đọc là ngữ liệu dạy học cho các phân môn
khác trong môn Tiếng Việt.
Những vấn đề trên luôn làm cho tôi suy nghĩ phải làm sao cho các em
nắm bắt được một cách nhanh nhất về kĩ năng đọc để áp dụng vào việc học các
môn học khác. Điều đó thôi thúc tôi không ngừng nghiên cứu học hỏi về vấn đề
này và bước đầu tôi đã áp dụng thành công ở lớp mình.
Ở trường, khi học trên lớp, các em chủ yếu được nghe cô giáo giảng bài,
những tuần đầu của năm học, giáo viên thường phải dùng cả hai thứ tiếng: Tiếng
Việt và tiếng mẹ đẻ của các em để các em hiểu được bài học; học sinh được
- Sử dụng phương pháp tìm tòi, nghiên cứu, thu thập, phân tích; phương
pháp phân tích tổng hợp với các nội dung kiến thức của hoạt động dạy học;
phương pháp kiểm tra, rút kinh nghiệm.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
- Đây là những giai đoạn đầu của bậc học tiểu học, ở lứa tuổi này các em
bước đầu đã biết quan tâm dến bản thân và mọi người. Các em chưa mạnh dạn
trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô giáo, không còn rụt rè, e sợ. Trong giai đoạn
này, các em đã có một suy nghĩ và hành động mới. Đó là diều kiện thuận lợi cho
các em trong học tập và cuộc sống. Các em chưa xác định được việc học là trọng
tâm. Chính vì vậy, khi dạy học giáo viên phải chú ý đến những đặc điểm tâm,
sinh lí này của các em.
Trong quá trình học tập, các kiến thức được các em ghi nhớ chưa chắc chắn
và chưa có lôgic. Các em có thể tìm hiểu được các nội dung bài học mà phải có
sự giúp đỡ, “cầm tay chỉ đường” của giáo viên. Vì vậy, trong quá trình dạy học,
giáo viên phải dựa vào trình độ học sinh để phát huy khả năng tư duy vốn có của
các em.
Nhiều em còn ham chơi: Vì các em chưa quan tâm đến việc học tập và do
phong tục tập quán của người dân, khi cần các em có thể bỏ học nhiều ngày để
đi chơi. Nhiều em đến lớp chỉ với mục đính đơn giản là có nhiều bạn để chơi.
Nhiều em rụt rè, nhút nhát: Cho dù các em đã học đến lớp 2, đã quen với
trường lớp, bạn bè, thầy cô, nhưng các em vẫn không tự tin vào mình. Nhiều em
thấy thầy, cô mới là tròn mắt ngạc nhiên, có em sợ đến phát khóc. Trong học tập,
thầy cô hỏi thì cứ ngồi lì một chỗ không dám đứng lên trả lời cho dù các em đã
biết câu trả lời. Nhiều em thấy thầy, cô đến nhà là bỏ chạy, thấy thầy cô là trốn.
2
Mặt khác, nhiều em do học lực yếu nên luôn bị áp lực và rồi cũng không đến
trường (trường hợp này là rất nhiều).
phát âm đúng ngay khi học âm, vần của tiếng Việt.
- Từ lúc mới chào đời, các em đã làm quen với ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ.
Ngôn ngữ đó đã ngự trị trong cuộc sống sinh hoạt của các em. Vì thế, việc học
Tiếng Việt đối với các em như chúng ta học tiếng nước ngoài vậy. cho dù một số
em có tiếp xúc với người Kinh hoặc nghe bố, mẹ, anh, chị,…nên có một số ít
ngôn ngữ Tiêng Việt, nhưng chừng đó quả là quá ít đối với việc học Tiếng Việt là một ngôn ngữ chính thống. Trong khi đó những học sinh người Kinh thì nhiều
em vào lớp 2 đã biết đọc, biết viết thành thạo.
- Mặt khác, các em học Tiếng Việt nhưng không giao tiếp bằng Tiếng Việt
nên học xong lại chóng quên. Nhiều em mới biết đọc thì sau 2 tháng hè đã
3
không còn nhớ mặt chữ nữa. Như Lê-nin nói: “Ngôn ngữ là phương tiện giao
tiếp quan trọng nhất của loài người”, vậy mà các em học Tiếng Việt mà lại giao
tiếp bằng tiếng của dân tộc mình thì học rồi cũng như không.
- Hơn nữa, trong ngôn ngữ của các em rất nặng, đa số những tiếng có thanh
trắc (hỏi, ngã, nặng) và rất ít thanh bằng (huyền, không); trong khi nói, đọc các
em thường kéo dài những tiếng cuối từ, cuối câu nên nhiều em phát âm sai với
chuẩn chính âm của Tiếng Việt.
Ví dụ:
+ Thênh thang - đọc thành: Thếnh thang, thếnh th…a..ng.
+ Thấm thía - đọc thành: Thắm thé, thăm thé, th…ắ…m thé.
Trong khi đọc, các em còn chẻ từ ra để ngắt, nghỉ hơi, ngắt câu. Đây là do
các em chưa hiểu về cấu tạo từ, đơn vị từ, cấu tạo câu của Tiếng Việt. Các em
đọc ngắt, nghỉ rất tự do, cứ khi nào hết hơi là các em ngắt, nghỉ để lấy hơi cho
dù giáo viên nhắc nhiều lần.
Ví dụ:
+ Có em mới có bập bùng bếp/ lửa nhà sàn.
( Bài: Chuyện bốn mùa)
+ Cậu có bao/ nhiêu trí khôn
dường như lại “ quên” mất đối tượng học sinh đọc chưa đạt yêu cầu còn những
học sinh đọc tốt thì lại quá vất vả. giáo viên chưa quan tâm sửa sai ngay những
lỗi mà học sinh mắc phải.
c. Do chương trình và sách giáo khoa mới:
- Chương trình – sách giáo khoa mới khá nặng về kiến thức đối với học
sinh, nhất là học sinh ở vùng bản. Nội dung kiến thức thì nhiều, trong khi vốn
ngôn ngữ Tiếng Việt của các em lại có hạn, nên việc truyền đạt kiến thức cho
học sinh trong 1 tiết phút là điều quá khó khăn. Ở nước ta, nền giáo dục đã có sự
điều chỉnh và giảm tải cho các đối tượng học sinh, dù thuận lợi hay khó khăn
đều học một chương trình và sách giáo khoa, nên vẫn còn thiệt thòi cho các học
sinh vùng khó. Nên chăng cần phải có sự chỉnh sửa hợp lí đối với học sinh vùng
khó và chuẩn kiến thức riêng, bởi lẽ yêu cầu tất cả học sinh đều còn phải đạt
theo chuẩn kiến thức kĩ năng đã quy định.
- Với học sinh miền núi như ở trường tôi, với đại đa số học sinh thì việc
nghỉ hè sẽ đồng nghĩa với việc vài tháng trời các em không hề quan tâm đến
sách vở và việc học hành của bản thân. Chính lẽ đó mà việc tái mù một số chữ
hoặc một số vần khó sẽ hiển nhiên diễn ra. Điều này sẽ gây cho giáo viên lớp 2
rất vất vả trong giai đoạn đầu năm học.
- Do đồ dùng học tập và sách giáo khoa còn thiếu nhiều nên học sinh ít
chuẩn bị, ít đọc trước bài học ở nhà.
Ngay từ đầu năm học, khi bắt đầu nhận lớp, tôi đã tiến hành khảo sát chất
lượng đọc của các em, cụ thể như sau :
Căn cứ vào kết quả khảo sát, tôi nhận thấy chất lượng đọc của lớp còn thấp,
kết quả như sau:
Đọc rõ ràng, mạch lạc, Đọc to, đôi chỗ ngắt Đọc nhỏ, chưa biết
Sĩ số
ngắt nghỉ đúng.
nghỉ chưa đúng
ngắt nghỉ
14
+ Đọc ngọng vần an/ang ; in/inh ; at/ac ; ut/uc…4… : em.
+ Đọc chậm, đánh vần : 5 em.
+ Đọc đúng, lưu loát : 1 em.
+ Số lượng các em đọc chưa ngắt nghỉ hơi đúng chỗ còn nhiều.
Có những em trình độ đọc còn yếu, đọc sai rất nhiều. Vì thế ngoài việc rèn
đọc ở các tiết chính còn phải bồi dưỡng ở những tiết rèn thêm trong tuần.
Biện pháp 3: Phương pháp rèn đọc trong phân môn Tập đọc :
a/ Nâng cao chất lượng dạy Tập đọc qua việc đọc mẫu của giáo viên:
- Việc đọc mẫu của giáo viên đòi hỏi phải chuẩn mực, chính xác, có tác
dụng làm cơ sở định hướng cho học sinh. Mặt khác không hạn chế việc đọc mẫu
chỉ một hoặc hai lần. Trong quá trình giảng, có thể đọc diễn cảm lại một câu hay,
một đoạn văn hay để diễn tả sắc thái tình cảm của nội dung thông tin. Khi luyện
đọc cá nhân, giáo viên có thể cho học sinh dừng lại để đọc một đoạn văn tập
diễn cảm cho học sinh.
- Giáo viên đọc mẫu phải tốt, diễn cảm để học sinh cảm nhận được cái hay,
cái đẹp của bài Tập đọc. Trong quá trình đọc mẫu giáo viên biết sử dụng các thủ
pháp ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ, dùng ngữ điệu, nhấn giọng, hạ giọng, lên giọng…
để làm nổi bật ý nghĩa và tình cảm của tác giả đã gửi gắm vào bài đọc đó. Từ đó
giúp học sinh thấy sôi nổi, hào hứng tham gia vào việc tìm hiểu, khám phá bài
Tập đọc hơn và học sinh có ý thức đọc diễn cảm tốt hơn.
b. Trong một tiết tập đọc, muốn học sinh đọc tốt cần đảm bảo các yếu tố
[2]
sau :
+ Hướng dẫn đọc thành tiếng : Đây là một bước hết sức quan trọng trong
tiết tập đọc. Ở bước này tôi thường dành khoảng 15 - 20 phút trong một tiết học
tập đọc để rèn đọc cho học sinh.
+ Tìm hiểu nội dung bài : Sau khi các em đọc trôi chảy bài tập đọc, tôi hướng
dẫn một cách tỉ mỉ giúp các em hiểu sâu sắc nội dung của bài, cảm nhận được cái
hay, cái đẹp trong bài văn ( bài thơ ). Từ đó sẽ thôi thúc các em thích bài văn( bài
thơ )đó và rất muốn đọc nó. Có như vậy, các em mới đọc được tốt hơn.
Đọc vẫn sai vần ac/at Cho luyện đọc nhiều
các tiếng có vần
lần những tiếng có vần
10
ui/ôi , tốc độ đọc có
ac/at
tiến bộ
Đã phân biệt được
Đôi khi đọc vẫn còn Tiếp tục cho luyện đọc
cách đọc các tiếng
lẫn lộn như bát ngát
nhiều lần những tiếng
có vần ac/at
đọc thành bác ngác
có vần ac/at; giải nghĩa
11
các từ có vần ac/at để
học sinh phân biệt đọc
cho đúng.
Đọc to rõ ràng, trôi Đôi khi đọc còn
Hướng dẫn phân tích
chảy, đã nắm được
nhầm
cấu tạo của các tiếng,
12
cách phát âm các
các từ đọc nhầm để
vần dễ lẫn.
đọc lại cho đúng.
….. …………………… ……………………
Học sinh luyện đọc theo nhóm [1]
Bên cạnh đó, tôi còn rèn cho học sinh cách đọc diễn cảm. Khi đọc bài tập
đọc hay bất kì một bài văn, bài thơ nào tôi luôn lưu ý các em phải ngắt hơi ở dấu
phẩy, giữa các cụm từ, nghỉ hơi ở dấu chấm và các loại dấu câu khác.
8
Ví dụ: Nhưng kìa, / con voi quặp chặt vòi vào đầu xe / và co mình lôi mạnh
chiếc xe qua vũng lầy. // Lôi xong , / nó huơ vòi về phía lùm cây / rồi lững
thững đi theo hướng bản Tun. //
(Voi nhà- TV2-Tập 2)
Riêng đối với các đoạn thơ, bài thơ tôi còn hướng dẫn cho các em cách
ngắt nhịp đúng quy định sao cho thể hiện được ý đồ của tác giả.
Ví dụ:
Cây dừa xanh / toả nhiều tàu, /
Dang tay đón gió, / gật đầu gọi trăng. //
Thân dừa / bạc phếch tháng năm, /
Quả dừa – / đàn lợn con / nằm trên cao.//
Đêm hè / hoa nở cùng sao, /
Tàu dừa – / chiếc lược chải vào mây xanh. //
Ai mang nước ngọt, / nước lành, /
Ai đeo / bao hũ rượu / quanh cổ dừa. //
(Cây dừa- TV2-Tập 2)
Ảnh minh họa
Học sinh đọc diễn cảm [1]
Ngoài việc hướng dẫn các em đọc ngắt nghỉ đúng ở các dấu câu và các cụm
tư thì việc hướng dẫn các em cách thể hiện giọng khi gặp các dấu câu khác nhau
cũng là điều hết sức quan trọng.
hôm sau. Sau đó, tôi giao cho từng đôi bạn ( ngồi cùng một bàn ) kiểm tra lẫn
nhau vào đầu giờ học tới. Các em có thể nêu câu hỏi để kiểm tra lẫn nhau như :
Bài tập đọc đó có tựa là gì ? dài hay ngắn ? có mấy nhân vật ? ….. Hoặc các em
có thể yêu cầu lẫn nhau đọc lại một đoạn hoặc một khổ thơ trong bài. Bằng cách
kiểm tra như vậy, tôi luôn nắm rõ em nào về nhà có đọc bài, em nào chưa đọc
bài để nhắc nhở kịp thời.
b/ Luyện đọc thầm :
Sau khi đã rèn đọc thành tiếng, tôi tiến hành cho các em đọc thầm để tìm
hiểu nội dung bài. Thường thì khi giáo viên yêu cầu học sinh đọc thầm thì chỉ có
10
một số em đọc, còn một số em cũng nhìn sách nhưng không đọc. Để khắc phục
tình trạng này, tôi đã hướng dẫn các em :
+ Tập trung vào bài, phải đọc đầy đủ các tiếng trong câu. Đọc bằng mắt.
Khi đọc không dùng tay hay bất kì vật gì để chỉ từng dòng.
+ Trong khi các em đọc thầm, để kiểm tra xem các em có thực sự đọc hay
không, tôi sử dụng nhiều hình thức : Yêu cầu em nào đọc xong thì giơ tay, giáo
viên cùng đọc thầm và theo dõi. Hoặc học sinh đang đọc, yêu cầu cả lớp dừng lại ở
một đoạn nào đó rồi dùng câu hỏi kiểm tra( Em đọc đến đâu ? ….. ) có như vậy các
em mới chú ý tập trung trong đọc thầm. Cứ như vậy lâu ngày thành quen, các em
dần có ý thức đọc thầm và tự giác đọc thầm không cần giáo viên nhắc nhở.
Ảnh minh họa
Học sinh luyện đọc thầm [1]
c/ Luyện đọc lại ( học thuộc lòng) :
Ở phần này, tôi để các em tự do thể hiện để phát huy hết khả năng đọc của
bản thân, miễn là các em đảm bảo được theo các phần luyện đọc thành tiếng ở trên.
Thông thường tôi yêu cầu cho các em tự chọn một đoạn văn hay một khổ
hoạt động cùng với các bạn, đã tăng cường lên thư viện nhiều hơn. Nhờ đó, các
em đã khích lệ nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Biện pháp 5: Đổi mới phương pháp dạy học[6]
Đổi mới phương pháp dạy học là một hiện tượng xã hội cái gì cũ kỹ, lọc
hậu thì không thể tồn tại và phải được thay thế bằng sự tiến bộ phù hợp với xu
thế cảu thời đại mới. Phương pháp dạy học cũng nằm trong quy luật đó.
Đổi mới phương pháp dạy học xong điều kiện hiện nay được hiểu là trên
cơ sở phát huy tính tích cực của phương pháp truyền thống vận dụng những biện
pháp dạy tiên tiến vào nhà trường tiểu học nhằm nâng cao, chất lượng và hiệu
quả giáo dục mà vẫn đảm bảo tính hoạt động ổn định của nhà trường.
Đổi mới phương pháp dạy học chính là sự tích cực hoá hoạt động của
người học lấy người học làm trung tâm trong đó thầy cô giáo đóng vai trò là
người tổ chức các hoạt động của học sinh thông qua hoạt động học mỗi học
sinh đều được hoạt động, đều được bộc lộ mình và đều có cơ hội phát triển.
Dạy học Tiếng việt bên cạnh các phương pháp đặc biệt gắn với từng loại
bài là các phương pháp dạy học có thể sử dụng nhiều loại bài học.
+ Phương pháp thực hành:
Thực hành là phương pháp được sử dụng nhiều trong dạy học nói chung
và trong dạy học Tiếng việt nói riêng. Hình thức cốt lõi thực hiện phương pháp
12
thực hành là làm bài tập có thể dùng phương pháp này để dạy tri thức, để rèn
luyện kỹ năng và khả năng giao tiếp Tiếng việt cho học sinh. Hình thức phổ biến
để hình thành kiến thức cho học sinh Tiểu học là thông qua thực hành. Dạy thực
hành Tiếng việt trong giao tiếp là xây dựng nên các tình huống giao tiếp. Sau đó,
dùng biện pháp sắm vai để thực hiện các tình huống giao tiếp này.
+ Phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề:
Dạy học việc vấn đề là đòi hỏi học sinh tham gia giải quyết các vấn đề do
tình huống đặt ra. Tình huống có vấn đề đóng vai trò quan trọng dạy học nêu
- Học theo lớp: Tổ chức học chung toàn lớp
- Học theo nhóm: Tổ chức nhiều nhóm để trao đổi bàn bạc về một nội dung
bài học.
13
- Học cặp đôi: Hai cá nhân gần nhau cùng trao đổi thảo luận về một nội
dung, về một câu hỏi được giáo viên nêu ra.
- Học cá nhân: Tạo điều kiện phát huy tối đa năng lực của học sinh. Từng
cá nhân làm việc độc lập để cùng thực hiện một nhiệm vụ học tập nào đó.
Sự phối hợp các hình thức tổ chức lớp học khác nhau tạo nên sự mềm
dẻo, linh hoạt và sinh động cho quá trình dạy học. Nó cho phép giáo viên có thể
sử dụng nhiều biện pháp và phương pháp dạy học khác nhau.
Quan trọng hơn nó tạo điều kiện cho giáo viên cá thể hoá việc dạy học,
tạo cơ hội cho mọi học sinh đều được tham gia vào hoạt động học tập, tạo cho
học sinh cách làm việc tập thể theo nhóm cách phối hợp với bạn bè trong công việc
cách chủ động tự tin trình bày ý kiến cá nhân. Đối với việc dạy học Tiếng việt, phối
hợp các hình thức tổ chức lớp học nêu trên tạo môi trường thuận lợi cho việc giao
tiếp, cho việc rèn luyện 4 kỹ năng sử dụng Tiếng việt.
Đổi mới phương pháp dạy học đã vận dụng quan điểm tích hợp:
Vừa hình thành kỹ năng vừa cung cấp tri thức trong các tri thức cung cấp
cho học sinh ngoài những tri thức Tiếng việt còn có các tri thức về khoa học tự
nhiên và xã hội. Việc hình thành các kỹ năng sử dụng Tiếng việt muốn có hiệu
quả cao phải được thực hiện không chỉ ở bài học Tiếng việt mà còn có ở những
bài học thuộc những môn học khác như nội dung dạng từ trong phân môn tập
đọc (tích hợp phân môn luyện từ và câu) dùng từ đặt câu.
Tập đọc: Luyện đọc là kỹ năng trung tâm (luyện đọc thành tiếng và đọc
hiểu) có kết hợp ôn luyện âm vần, nghe, nói, vốn từ… Trong các bài chính tả kết
hợp cho học sinh làm quen với dấu câu; các bài kể chuyện: Luyện kể kết hợp
với luyện nghe, nói…
Khi dạy tập đọc chúng ta cần hướng cho các em những kỹ năng, những
hiểu biết gần gũi nhất trong kinh nghiệm trong vốn sống của các em. Từ đó nâng
dần lên kỹ năng giao tiếp hình thành nhân cách con người mới.
- Rèn luyện cho học sinh khả năng đọc thể hiện bằng giọng điệu của riêng
mình, làm sao cho người nghe hiểu được ý văn bản được đọc.
- Thường xuyên rèn kỹ năng đọc đúng để tránh được sự phát âm sai theo
vùng miền.
- Việc áp dụng phương pháp mới để dạy 4 kỹ năng (nghe - nói - đọc - viết)
nhằm đáp ứng được nhu cầu nhận thức của thế hệ trẻ ngày nay đòi hỏi phải có
những nét đổi mới tư duy, nên mỗi giáo viên chúng ta phải đổi mới cách dạy là một
điều tất yếu.
Kết quả thực nghiệm ban đầu cho thấy những biện pháp chúng tôi đề xuất đã
có tính khả thi. Tuy nhiên ở quy mô nhỏ hẹp (ở đơn vị trường miền núi) nếu được
phổ biến trên diện rộng hiệu quả đạt được như mong muốn. Đây chính là dấu hiệu
phát triển tốt của việc dạy tập đọc nói riêng. Tiếng việt nói chung và môn học này
cũng chính là bàn đạp mạnh mẽ cho việc học các môn học khác. Đáp ứng được
nguyện vọng và nhu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục nước nhà.
3.2. Kiến nghị.
Từ những việc làm cụ thể và thực tế đạt được, tôi đã rút ra bài học kinh
nghiệm cho bản thân như sau:
* Đối với giáo viên:
Nắm rõ hoàn cảnh của từng học sinh.
Nắm chắc chất lượng đọc của lớp mình.
Phân loại và quan tâm đến mọi đối tượng học sinh trong lớp ngay từ đầu
năm học.
Nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy và phương pháp đọc, giáo viên đọc mẫu
phải chuẩn, hay để lôi cuốn học sinh vào bài học.
Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc đọc của học sinh, ghi nhận kết
quả của các em dù chỉ là một tiến bộ rất nhỏ.
* Đối với phụ huynh học sinh:
Hà Thị Nguyên
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tranh ảnh, số liệu của lớp 2 khu Lóng, trường Tiểu học Tam Chung
năm học: 2016 – 2017.
2. Dạy tập đọc - Lê Phương Nga - NXB Giáo dục - 2003.
3. Phương pháp dạy học Tiếng Việt - Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
4. Sách giáo viên Tiếng Việt 2 (tập hai) - Đặng Thị Lanh - NXB Giáo dục
- 2002.
5. Phương pháp dạy học Tiếng Việt II - Lê Pương Nga, Nguyễn Trí- NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội - 2003.
6. Dạy học Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học theo chương trình mới Nguyễn Trí - NXB Giáo dục 2003.
17