SKKN một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1 - Pdf 33

Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1

MỤC LỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM- ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN ĐỌC
CHO HỌC SINH LỚP 1.......................................................................................0
A Mở đầu...............................................................................................................1
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.......................................................................................1
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.....................................................1
III.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU..........................................................................1
IV.ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM................................................1
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................................................................1
VI.PHẠM VI NGHIÊN CỨU...............................................................................2
VII. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU.........................................................................2
B.Nội dung............................................................................................................3
Chương I - CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG.................................................................3
I. VỊ TRÍ, NHIỆM VỤ CỦA DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC......................................3
1. Vị trí của dạy đọc ở Tiểu học............................................................................3
2. Nhiệm vụ của dạy đọc ở Tiểu học.....................................................................4
II. NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC.................................5
1. Cơ sở tâm lý, sinh lý của việc dạy đọc..............................................................5
2. Cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc...................................................6
3. Cơ sở thực tiễn của việc rèn đọc cho học sinh lớp 1.........................................7
a. Đặc điểm chung của địa phương.......................................................................7
b. Đặc điểm chung của lớp 1B..............................................................................7
Chương II - THỰC TRẠNG DẠY HỌC..............................................................8
I. Tình hình – Kết quả khảo sát điều tra................................................................8
II. Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong phần rèn đọc...........................9
Chương III- ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC...........................................10
I. Biện pháp tác động giáo dục............................................................................10
II. Phần học các nét cơ bản..................................................................................10
III. Phần học âm..................................................................................................12

chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ học vững vàng, học tốt hơn. Và các em sẽ
ham học, tích cực trong học tập hơn nếu kết quả học tập tốt.
Bắt đầu học đọc, học viết nên các em lớp 1 còn nhiều bỡ ngỡ và tiếp thu
kiến thức thật khó khăn, nhiều em chưa nắm vững các chữ cái. Nếu không được
quan tâm, rèn luyện thì chất lượng học tập của các em không cao. Theo tôi, để
nâng cao chất lượng học sinh phải giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản
ngay từ lớp 1. Mà đa số các em đọc chưa tốt đều do chưa thuộc kĩ âm, vần, chưa
đọc thông viết thạo cho nên việc giúp học sinh có kĩ năng đọc tốt hơn rất quan
trọng. Đó là lí do tôi chọn” Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1” để
nghiên cứu và áp dụng vào thực tế lớp tôi chủ nhiệm, mong muốn các em đều
đọc tốt có nền móng cơ bản để học các lớp trên.
II. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài ‘’Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1’’nhằm
góp phần nâng cao hơn nữa kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 – Trường Tiểu học
Hướng Phùng.
III. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1.
IV. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm:
Học sinh lớp 1B trường Tiểu học Hướng Phùng.
V. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau :
1. Phương pháp quan sát
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
-2-


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1
2. Phương pháp điều tra
3. Phương pháp luyện tập thực hành.
4. Phương pháp đàm thoại.

hiểu những gì được đọc. Trên thực tế, nhiều khi người ta đã không hiểu khái
niệm “đọc” một cách đầy đủ. Nhiều chỗ người ta chỉ nói đến đọc như nói đến
việc sử dụng bộ mã chữ âm còn việc chuyển từ âm sang nghĩa đã không được
chú ý đúng mức.
b. Ý nghĩa của việc đọc
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, tư
tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn
đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp
thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có
hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc, con người
đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây anh ta biết tìm hiểu, đánh giá
cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy. Biết đọc con
người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp
được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng tình cảm của
người khác, đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ
được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ
tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động sức mạnh sáng tạo cũng như được
bồi dưỡng tâm hồn không biết đọc con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ
sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được một nhân cách
toàn diện. Đặc biệt trong thời đại bủng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan
trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học, học
nữa học mãi, đọc để tự học, học cả đời. Vì những lý lẽ trên dạy đọc có ý nghĩa
to lớn ở Tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người
đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc giúp trẻ em
chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
-4-


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1

nhẹ yếu tố nào.
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành
thói quen làm việc với văn bản, với sách cho học sinh. Nói cách khác thông qua
việc dạy đọc phải giúp học sinh thích đọc và thấy được rằng khả năng đọc là có lợi
ích cho các em trong cả cuộc đời, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những
con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.
Ngoài ra việc đọc còn có những nhiệm vụ khác đó là làm giàu kiến thức
về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn hoá cho học sinh, phát triển ngôn ngữ và
tư duy, giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ cho các em.

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
-5-


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1
II. NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC
1. Cơ sở tâm lý, sinh lý của việc dạy đọc

Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình đọc,
nắm bản chất của kĩ năng đọc. Đặc điểm tâm lý sinh lý của học sinh khi đọc hay
cơ chế của đọc là cơ sở của việc dạy học.
Như trên đã nói, đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc
tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào các hoạt động của cơ quan thị giác.
Chúng ta đi vào phân tích đặc điểm của quá trình này.
- Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với
nhau, là việc sử dụng bộ mã gồm hai phương diện. Một mặt đó là quá trình vận
động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành nhưng
dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Thứ hai đó là sự vận động của tư tưởng,
tình cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý
tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung

Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1
nghĩa của "từ" trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, tức là đọc được thực
hiện trong sự đoán các nghĩa. Bước sang lớp 2, lớp 3 học sinh bắt đầu đọc tổng
hợp. Trong những năm học cuối cấp, đọc càng ngày càng tự động hoá, nghĩa là
người đọc ngày càng ít quan tâm đến chính quá trình đọc mà chú ý nhiều đến
việc chiếm lĩnh văn hoá (bài khoá), nội dung của sự kiện, cấu trúc chủ đề, các
phương tiện biểu đạt của nó. Thời gian gần đây, người ra đã chú trọng hơn đến
những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng đọc và hình
thành kĩ năng làm việc với văn bản. Nghĩa là đòi hỏi giáo viên tổ chức giờ học
đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đồng thời hướng dẫn đọc có ý
thức bài đọc. Việc đọc như thế nhằm vào sự nhận thức. Chỉ xem là đứa trẻ biết
đọc khi nó đọc mà hiểu trương điều mình đọc. Đọc là hiểu nghĩa chữ viết. Nếu
trẻ không hiểu được những từ ta đưa cho chúng đọc, chúng sẽ không có hứng
thú học tập và không có khả năng thành công. Do đó hiểu những gì được đọc sẽ
tạo ra động cơ, hứng thú cho việc đọc.
Để có giờ học vần kết quả tốt người giáo viên phải nắm được đặc điểm
tâm sinh lý của học sinh mình nắm được đặc điểm yêu cầu, bản chất kĩ năng cơ
chế mục đích cần đạt được của tiết dạy học vần. Trên cơ sở đó sử dụng phương
pháp cho phù hợp.
2. Cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc
Phương pháp dạy học vần phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học.
Nó liên quan mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính
âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học), vấn đề nghĩa của từ, của
câu, đoạn, bài (thuộc từ vựng học, ngữ nghĩa học), vấn đề dấu câu, các kiểu
câu… Phương pháp dạy học học vần phải dựa trên những kết quả nghiên cứu
của ngôn ngữ học, việt ngữ học về những vấn đề nói trên để xây dựng, xác lập
nội dung và phương pháp dạy học. Bốn phẩm chất của đọc không thể tách rời
những cơ sở ngôn ngữ học. Không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc
dạy học sẽ mang tính tuỳ tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy học.
a. Vấn đề chính âm trong tiếng Việt

vận động, huy động để các em đến lớp đều đặn hơn, đặc biệt là những em học
sinh còn đọc chưa tốt, giúp các em có cơ hội rèn luyện việc đọc của mình nhiều
hơn.
b. Đặc điểm chung của lớp 1B
- Tổng số lớp là 30 em, trong đó có 12 nữ.
- Tất cả các em là người Vân Kiều, môi trường tiếp xúc và sử dụng tiếng
Việt còn nhiều hạn chế.
- Số học sinh đã qua mầm non ít.
- Lớp học đông, đã biết chữ cái còn rất ít.
- Học sinh chưa quen với môi trường học tập ở trường Tiểu học, còn rụt
rè.
- Cơ sở vật chất còn thiếu.

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
-8-


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1
Chương II
THỰC TRẠNG DẠY HỌC
I. Tình hình – Kết quả khảo sát điều tra
Vào đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát nhỏ trong lớp 1B Trường Tiểu
học Hướng Phùng với nội dung sau:
- Kiểm tra sự phát triển về thể chất của các em.
- Nhận xét về sự quan tâm của gia đình đối với việc học của con em.
- Tìm hiểu số học sinh đi học mầm non và số học sinh không đi học mầm
non hoặc đi học không đều, tìm hiểu lý do học sinh không đi học mầm non.
- Kiểm tra sự sự nắm bắt, nhận diện chữ cái đã học trong trường mầm
non.
- Kiểm tra học sinh đã biết hoặc chưa biết cầm bút.

cùng các bạn trong lớp.
II. Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong phần rèn đọc:
Hiện nay ở Tiểu học, về vấn đề rèn đọc cho học sinh, giáo viên sử dụng
phương pháp dạy học cụ thể là: Phương pháp làm mẫu, phương pháp luyện đọc
theo mẫu, phương pháp luyện tập củng cố, phương pháp hỏi đáp.
Sau một thời gian tiến hành tìm hiểu điều tra thực trạng, tôi rút ra một số
kết luận sau:
* Thời lượng rèn đọc có vị trí quan trọng ở Tiểu học.
* Giáo viên nhận thức được ý nghĩa của việc rèn đọc và nhiệm vụ chính
của dạy đọc.
* Trong giờ học môn Tiếng Việt giáo viên còn làm mẫu nhiều mà chưa để
các em tự phát hiện ra cách đọc.
* Trong giờ học nhất là khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú ý đến
học sinh đọc chưa tốt vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian, làm
giảm tiến độ của tiết dạy.

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
- 10 -


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1
Chương III
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Từ việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận và thực trạng của việc
dạy- học đọc hiện nay thì chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu dạy đọc ở Tiểu
học. Do vậy để khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm hiện có ở
thực tế. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp rèn đọc để nâng cao kĩ năng
đọc cho học sinh lớp 1.
I. Biện pháp tác động giáo dục
- Từ những thực trạng trên tôi đã tiến hành họp phụ huynh học sinh đề

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
- 11 -


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1
học sinh dễ hiểu, dễ nhớ những nét chữ cơ bản tôi phân theo cấu tạo các nét có
tên gọi và cấu tạo gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và
so sánh. Dựa vào các nét chữ cơ bản này mà học sinh phân biệt được các chữ
cái, kể cả các chữ cái có hình dáng cấu tạo giống nhau.
Ví dụ: Các nét chữ cơ bản và tên gọi.
Nhóm 1

Nét sổ thẳng
Nét ngang
Nét xiên phải (giống dấu thanh
huyền)
Nét xiên trái (giống dấu thanh sắc)

Nhóm 2

Nét móc xuôi (chữ l)
Nét móc ngược (chữ n, m)
Nét móc hai đầu (chữ h, p, ph)

Nhóm 3

Nét cong hở phải (chữ c)
Nét cong hở trái (chữ x)
Nét cong kín (chữ o, ô, ơ)


ghép được các chữ vào với nhau để thành tiếng, các tiếng đơn ghép lại với nhau
tạo thành từ và thành câu.
Giai đoạn này tôi dạy cho các em phân tích từng nét chữ cơ bản trong
từng chữ cái và nếu chữ cái đó có cùng một tên gọi song có nhiều kiểu viết khác
nhau hay gặp trong sách báo như: chữ a, chữ g thì tôi phân tích cho học sinh
hiểu và nhận biết đó là: chữ a, chữ g để khi gặp kiểu chữ đó trong sách báo các
em dễ hiểu và không bị lúng túng.
Ví dụ:
Âm: a - a , g - g.
+ Âm a gồm hai nét: nét cong khép kín nằm bên trái và nét sổ thẳng nằm bên
phải; chữ a cũng gồm nét cong khép kín và nét móc ngược.
+ Âm g gồm : nét cong khép kín và nét móc dưới.
Từ việc học kỹ cấu tạo âm tạo bởi các nét chữ cơ bản thật kỹ và tỉ mỉ sẽ giúp
học sinh phân biệt được sự khác nhau cả về cấu tạo và tên gọi của bốn âm sau:
d; b; p; q.
Ví dụ:
+ Âm d gồm hai nét: nét cong khép kín nằm ở bên trái và nét sổ thẳng nằm bên
phải. Đọc là: “dờ”.
+ Âm b gồm hai nét: nét cong khép kín nằm ở bên phải và nét sổ thẳng nằm ở
bên trái. Đọc là: “ bờ”. Sang phần âm ghép nghĩa là âm gồm hai âm đơn ghép lại
với nhau. Tôi cho học sinh sắp xếp các âm có âm h đứng sau thành một nhóm để
nói lên được sự giống nhau và khác nhau của các âm đó.
Ví dụ :
+ Các âm ghép: c + h = ch , n + h = nh , t + h = th , k + h = kh , g + h = gh , ng +
h = ngh.
+ Còn lại các âm: gi, tr, q, ng, tôi cho học thật kỹ cấu tạo và cách ghép chữ.
+ Phân từng cặp: ch – tr , ng – ngh , c – k , g – gh , nh – d để phát âm chính xác
và viết chính tả phân biệt.
Trong khi luyện phát âm tôi chú ý luyện phát âm đúng cho các em ở
Hướng Phùng thường phát âm sai s với x, các dấu thanh. Ví dụ : Âm s thì kỉ

đọc được.
Đến khi học sinh viết chính tả vào bảng con, tôi cũng không đọc cho học
sinh viết những tiếng và từ đã có sẵn trong bài. Thông qua phần xây dựng tiếng,
từ mới trẻ được hiểu biết thêm nhiều từ và ý nghĩa của các từ mà các em tìm
được của hôm trước nay viết vào bảng. Do đó phong trào tìm tiếng, từ mới học
sinh rất hào hứng và phấn khởi tham gia sôi nổi nhiệt tình. Những đọan văn hay
bài văn mang tính chất:
- Cung cấp kiến thức về âm, vần, tiếng.

Ví dụ:
o

a

c

d

đ

/

\

?

~

.


Má Nga là ca sĩ .
Ba Tú đi xe mô tô về nhà cô Thu.
Bé Nhã khệ nệ bê ghế gỗ gụ ra ngõ để bà nghỉ.
Để rèn kĩ năng sống cho học sinh, thông qua hoạt động luyện nói tôi vận
dụng các vần, tiếng, từ đã học để tạo thành những câu văn, đoạn văn có nội dung
mang tính giáo dục đạo đức, tư tưởng cho học sinh theo chủ điểm các đợt thi
đua như kỷ niệm các ngày lễ: 8/3, 26/3, 15/5, 19/5,20/ 11, 22/12... để xây dựng
bài cho học sinh đọc và nói.
IV. Phần học vần:
Sang đến phần học vần, học sinh đã được học chữ hoa nên trong các đoạn
văn hay bài văn tôi đã luyện cho học sinh biết nhận biết và đọc chữ hoa sau dấu
chấm, các danh từ riêng tên gọi.
- Bài: Ôn các vần có âm m cuối.
am ăm âm om ôm ơm em êm im um.
+Bà Tâm đã già quá nên đi lom khom. Khi bà bị ốm mẹ cho Thêm đến thăm bà
và đem cam đến. Bà nhận quà và cảm ơn bố mẹ Thêm. Bà còn khen em lớn quá.
+Hôm qua nghỉ học, mẹ cho Thêm đi xem thú.Thêm nhìn rõ chú nhím nằm thu
lu bên mẹ nó .
+Hôm nay trời rất rét, mẹ nhắc Nga đi học phải mặc thêm áo ấm.
- Vì thường xuyên phân loại chất lượng học tập của học sinh nên tôi đã
chia chất lượng của lớp ra làm 4 nhóm:
+ Nhóm đọc tốt
+ Nhóm đọc tương đối nhưng tốc độ còn chậm
+ Nhóm đọc được một số chữ, vần
+ Nhóm chưa đọc được .
- Và phân công:
+ Nhóm đọc tốt kèm nhóm chưa đọc được.
+ Nhóm đọc tương đối nhưng tốc độ còn chậm – kèm nhóm đọc được một số
chữ, vần.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng

trơn lại tiếng đó nhiều lần để nhớ sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp lại đọc
trơn tiếng vừa đánh vần rồi đọc lại từng cụm từ.
VD: Dạy bài tập đọc Trường Em (sách giáo khoa Ttiếng Việt 1)
* Học sinh chưa đọc được tiếng’’ trường’’, giáo viên nên cho các em
đánh vần tiếng ‘’trường’’ bằng cách phân tích như sau:
GV: Tiếng trường gồm có âm gì và ghép với vần gì? Có dấu thanh gì?
HS: Tiếng trường gồm có âm tr ghép với vần ương và dấu thanh huyền.
GV: Vậy đánh vần tiếng trường thế nào?
HS: trờ - ương – trương – huyền – trường.
GV: Đọc trơn tiếng này thế nào?
Hs: Trường.
Rồi cho học sinh đọc nối tiếp: Trường em.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
- 16 -


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1
* Học sinh không đọc được tiếng trường
GV nên cho học sinh ôn lại cấu tạo vần ương trong tiếng trường.
GV: Vần ương gồm có mấy âm?
HS: Vần ương gồm có 2 âm. Âm đôi ươ và âm ng.
GV: Vị trí các âm trong vần thế nào?
HS: Âm đôi ươ đứng trước, âm ng đứng sau.
GV: Đánh vần và đọc trơn vần ương.
HS: ươ- ng- ương, ương
GV: Thêm âm tr vào trước vần ương và dấu huyền trên vần ương. Ta
đánh vần, đọc trơn tiếng thế nào?
HS: Trờ - ương – trương- huyền – trường, trường
Và sau mỗi lần đánh vần, cho học sinh đọc trơn lại tiếng vừa đành vần nhiều lần
để khắc sâu vào trí nhớ học sinh.

với học sinh kĩ năng đọc chưa tốt tôi nhẹ nhàng an ủi động viên: “ Cố lên, rồi
các em sẽ đọc tốt như các bạn nếu các em cố gắng đọc bài nhều ở lớp cũng như
ở nhà.” Trong tiết dạy tập đọc, sau khi cho cả lớp đọc xong, tôi đến tận chỗ ngồi
của học sinh đọc chưa tốt để hướng dẫn đọc từng tiếng, từ học sinh chưa đọc
được. Tôi giành nhiều thời gian cho đối tượng này hơn. Cùng đọc bài với các em
trong giờ ra chơi nhưng vẫn để cho các em có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi. Khi
các em có biểu hiện tiến bộ tôi thường khen thưởng các em bằng những phần
quà nhỏ như cuốn vở, viên phấn màu, cây bút đẹp vv… để các em thích thú và
cố gắng hơn.
* Phương pháp học nhóm
Ngay từ đầu năm học qua khảo sát, phân loại học sinh trong lớp tôi bố trí
cho học sinh đọc tốt kèm học sinh đọc chưa tốt, em đọc tốt ngồi gần em đọc
chưa tốt để giúp bạn học tập, ưu tiên những học sinh đọc chưa tốt được ngồi ở
dãy bàn thứ nhất và thứ hai trong lớp. Trong từng giờ học lúc nào tôi cũng gọi
các em đọc bài nhiều hơn những bàn học sinh khác, gọi đọc theo nhóm đôi
( trong cùng bàn ) để học sinh đọc chưa tốt đọc theo học sinh đọc tốt và học sinh
đọc chưa tốt cũng được luyện tập nhiều hơn.
* Phương pháp tổ chức các trò chơi
Trong giờ học vần, tôi hay lồng ghép các trò chơi nhỏ để cả lớp cùng
tham gia.
VD Trò chơi Đọc nhanh – Đọc đúng
Giáo viên ghi một số từ vào các mảnh bìa và đưa ra cho học sinh đọc. Bạn
nào đọc nhanh, đọc đúng 3 từ liên tiếp sẽ được cả lớp khen là giỏi và tôi thường
hay chọn các học sinh đọc chưa tốt để đọc nhiều hơn nhằm giúp các em cố gắng
đọc để thi đua và tạo cho các em khả năng đọc nhanh, đọc đúng.
Hay trò chơi Chỉ nhanh – Chỉ đúng
Tôi gọi một nhóm 3 học sinh lên bảng 1 em (là học sinh đọc tốt) đọc cho
hai học sinh đọc chưa tốt chỉ vào âm, vần, tiếng, từ do bạn đọc. Trò chơi này học
sinh rất thích và lớp học cũng sôi nổi.
* Phương pháp nhận xét nêu gương.


Số học sinh đọc chưa tốt,
đọc còn chậm
(%)

Số học sinh đọc đúng,
đọc tốt (%)

Đầu năm

83,3 %

16,7%

Cuối học kì I

6,7 %

93,3%

Căn cứ vào những kết quả thu được ở trên tôi nhận thấy việc áp dụng một
số biện pháp ở chương III vào việc rèn đọc cho học sinh lớp 1 đã nâng cao hiệu
quả của giờ dạy, phát huy được tính chủ động sáng tạo và tạo được sự hứng thú
say mê của học sinh.

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
- 19 -


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1

Giáo viên cần dẫn dắt học sinh đọc một cách nhẹ nhàng, dí dỏm, tạo cho các
em sự tin cậy, yêu mến cô giáo, tinh thần vui vẻ, hồn nhiên để học tập.
Tuy nhiên, đều quan trọng hơn cả vẫn là lòng yêu trẻ, sự kiên trì, nhẫn nại và
ý thức trách nhiệm của một người thầy giáo, cô giáo trực tiếp gần gũi các em
hàng ngày. Chúng ta luôn ý thức trách nhiệm của mình dạy học sinh phải tiến
bộ, sau một năm học các em phải đọc được và đạt được mức chuẩn đến trên
chuẩn.
II. Kiến nghị
Trên thực tế dạy học ở trường Tiểu học Hướng Phùng, tôi có một số đề
xuất sau:
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
- 20 -


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1
- Để giúp giáo viên thực hiện soạn giảng đạt kết quả cao thì các cấp cần
cung ứng các tài liệu tham khảo kịp thời, tranh ảnh về môn Tiếng Việt để giờ
dạy của giáo viên được hoàn thiện hơn.
- Tạo điều kiện cho giáo viên được giao lưu học tập, bố trí nhiều tiết dạy
mẫu...để giáo viên vận dụng một cách linh hoạt trong việc giảng dạy với từng
đối tượng học sinh.
- Các cấp quản lý giáo dục cần tạo cơ hội và động viên kịp thời khi giáo
viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học dù là nhỏ nhất.
- Nhà trường, các tổ chức Đoàn - Đội cùng kết hợp với GVCN để vận
động học sinh đi học đảm bảo tỉ lệ chuyên cần để việc luyện đọc của các em
được diễn ra liên tục và thường xuyên.
Trên đây là đề xuất sáng kiến của tôi. Tôi rất mong được sự đóng góp ý
kiến của các đồng nghiệp, của BGH nhà trường và của cấp trên.

Hướng Phùng, ngày 6 tháng 2 năm 2015

.................................................................................................................................

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
- 22 -


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng Giảng viên cốt cán cấp tỉnh, thành phố môn Tiếng Việt
Lớp 1, Nhà xuất bản Hà Nội
2. Bài giảng Phương pháp dạy học Tiếng Việt.Người biên soạn: Tiến sĩ Nguyễn
Thị Thanh - Giảng viên trường Đại học sư phạm Đà Nẵng.
3. Bài giảng Phương pháp dạy học Tiếng Việt. Người biên soạn: Thạc sĩ Bùi
Thị Sanh - Giảng viên trường Đại học sư phạm Đà Nẵng.
4. Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 1.2.3.4 Của Nguyễn Minh Thuyết chủ biên.
Nhà xuất bản Giáo dục 2004-2005.
5. Chương trình Tiểu học. Nhà xuất bản giáo dục 2002
6. Sách giáo viên Tiếng Việt 1. Nhà xuất bản giáo dục 2002

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
- 23 -


Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Phụng – Trường Tiểu học Hướng Phùng
- 24 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status