UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3
Năm học 2014 – 2015
1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
“Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3”.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng việt- Lớp 3.
3. Tác giả:
- Họ và tên: Dương Thị Hằng.
Nạm (Nữ ): Nữ
- Ngày/ tháng/ năm sinh: 26/ 12/ 1966
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ trưởng tổ chuyên môn 2 + 3 - Trường Tiểu
học An lạc.
- Điện thoại: 01268302640.
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
- Trường Tiểu học An Lạc.
- Địa chỉ: Bờ Đa – An Lạc – Chí Linh – Hải Dương.
- Điện thoại: 03203.888.016
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Giáo viên phải có kiến thức vững vàng, có kĩ năng sư phạm không
giảng dạy của một số giáo viên còn hạn chế. Giáo viên mới chỉ dừng ở mức cho
học sinh đọc chứ chưa đi sâu vào rèn các kĩ năng. Năm học 2014 – 2015, tôi
mạnh dạn nghiên cứu và viết sáng kiến về một số biện pháp rèn đọc cho HS lớp
3 nhằm giúp tất cả các em có kĩ năng đọc tốt hơn. Sáng kiến của tôi đã được
đúc rút từ việc giảng dạy các tiết hàng ngày trên lớp qua nhiều năm, đúc rút qua
việc phụ đạo những em nhận thức chậm. Sáng kiến của tôi dựa vào các cơ sở
khoa học, dựa vào các nguyên tắc giáo dục, dựa vào đặc điểm tâm sinh lí lứa
tuổi học sinh. Để thực hiện sáng kiến, tôi đã đưa ra một kế hoạch và thực hiện
nghiêm túc theo kế hoạch đó. Tôi tìm hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến học sinh đọc
sai, nghiên cứu kĩ nội dung chương trình, các tài liệu tham khảo. Khi đã nắm
chắc chương trình, nội dung kiến thức kĩ năng cần đạt, những lỗi mà học sinh
hay mắc phải, tôi tiến hành phân loại học sinh theo từng nhóm đối tượng riêng
để tiến hành tìm biện pháp rèn cặp cho phù hợp. Trên lớp, ngoài việc tiến hành
biện pháp rèn đọc với từng nhóm đối tượng học sinh, tôi luôn phát huy tính chủ
động sáng tạo của học sinh, khuyến khích học sinh phát huy hết năng lực đọc
của mình, thực hiện các giờ dạy trên lớp một cách hiệu quả nhất. Tôi có sổ nhật
kí về từng lỗi sai của học sinh để theo dõi sự tiến bộ của học sinh. Bên cạnh
việc truyền đạt kiến thức, tôi thực hiện nghiêm túc việc theo dõi đánh giá học
sinh theo thông tư 30/ 2014, làm tốt công tác chủ nhiệm, áp dụng mô hình
trường học mới luôn động viên khuyến khích học sinh. Với lòng nhiệt tình tâm
huyết nghề nghiệp, tôi đã áp dụng biện pháp rèn đọc cho học sinh và biện pháp
3
hoàn toàn đem lại hiệu quả. Kĩ năng đọc của học sinh tiến bộ rõ rệt. Học sinh cả
lớp đều đạt yêu cầu cơ bản. Nhiều em đọc tốt hơn nhiều so với trước. Trong lớp
không còn học sinh đọc ê a ngắc ngứ. Các em đọc đúng đọc hay và các môn học
khác cũng rất tiến bộ, diễn đạt lưu loát, giao tiếp tốt hơn. Đầu năm các em rất
nhút nhát, sợ thầy sợ cô nhưng đến nay rất tự tin. Trong lớp, các em hăng hái
phát biểu, thích đọc, thích học. Các em hăng hái tham gia các hoạt động ngoài
không thể tốt được. Ví dụ như một người phát thanh viên có giọng đọc hay
nhưng ngọng l/n thì người nghe cảm thấy giảm giá trị đọc đi nhiều lần. Là
người giáo viên làm công tác giảng dạy đào tạo ra những nhân tài cho đất nước,
tôi nhận thấy rèn học sinh đọc tốt là việc làm vô cùng quan trọng giữ vai trò
then chốt giúp học sinh phát triển toàn diện. Kĩ năng đọc tốt sẽ là phương tiện
để học sinh chiếm lĩnh kiến thức. Bất cứ môn học nào, bài học nào cũng phải
sử dụng đến hoạt động đọc. Các em đọc được văn bản thì các em mới hiểu
được nội dung ý nghĩa giáo dục, mới cảm nhận được cái hay cái đẹp của văn
bản. Các em đọc được đề bài toán thì mới hiểu và giải được bài. Các em có đọc
được chữ thì mới hát được bài hát, đọc được bài học, ghi nhớ bài học. Các em
đọc tốt thì các em sẽ học tốt được tất cả các môn. Từ việc nắm được kiến thức
các em mới có nhiều vốn từ, phát triển được năng khiếu diễn đạt, năng khiếu
giáo tiếp hàng ngày. Chính vì vậy mà việc rèn học sinh đọc tốt và vô cùng quan
trọng, cần thiết trong việc dạy học, giúp các em phát triển toàn diện đáp ứng
được mục tiêu giáo dục hiện nay. Từ thực tế ta thấy học sinh đọc yếu còn rất
nhiều. Các em phát âm sai, đọc đánh vần tốc độ chậm, đọc ngọng, đọc sai tiếng
từ, đọc không hiểu nội dung. Từ đó các em viết chậm, sai nhiều lỗi, viết mãi
không xong tên bài học. Đến giờ Tập đọc các em rất thờ ơ, ngại đọc, không
5
hứng thú. Khi diễn đạt các em rất bí từ, diễn đạt không lưu loát, ngại giao tiếp
với cô và các bạn. Trong giờ học, các em không chịu cố gắng, thiếu tự tin, thụ
động. Từ việc đọc kém nên dẫn đến các em học chậm các môn học khác. Các
em không hoàn thành bài ỷ lại vào sự giục giã của thày cô. Các em đến lớp
luôn bị cô giáo nhắc nhở, về nhà bị bố mẹ phàn nàn. Các em dẫn đến chán học
rồi bỏ học. Từ đó sẽ các em hay sa vào các trò chơi điện tử… và mắc vào các tệ
nạn xã hội đáng tiếc. Do đó các em đã trở thành một gánh nặng cho lớp, cho
nhà trường, cho gia đình và xã hội. Từ những vấn đề trên, qua nhiều năm giảng
dạy tôi đã mạnh dạn viết sáng kiến về “Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh
+ Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm ở lớp để nắm
được kết quả việc áp dụng kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh.
1.6. Điểm mới nghiên cứu
- Đưa ra các việc làm, các giải pháp rèn đọc cách cụ thể dễ hiểu, dễ thực
hiện, áp dụng được tất cả với mọi giáo viên lớp 3 nói riêng, các khối lớp khác
nói chung đạt hiệu quả.
2. Cơ sở lí luận của vấn đề
Mục tiêu giáo dục của bậc giáo dục Tiểu học hiện nay là: Giúp cho học
sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về
đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản khác để học sinh
tiếp tục học lên trung học cơ sở hoặc đi vào cuộc sống lao động. Học xong Tiểu
học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về Tự nhiên Xã hội và con người, có kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán, có
thói quen rèn luyện thân thể, giữ vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về nghệ thuật.
Để đạt được mục tiêu của bậc học và để đáp ứng được yêu cầu đổi mới
của đất nước đòi hỏi phải có sự đổi mới tích cực của phương pháp dạy học, đòi
hỏi sự sáng tạo của mỗi thày cô làm sao để đạt được chất lượng học sinh, đào
tạo được những con người đủ đức, đủ tài kế tục sự nghiệp. Đối với việc rèn đọc
cho học sinh là cả một quá trình lâu dài.
Đối với học sinh, nếu học sinh đọc kém sẽ hạn chế tất cả các nguồn thông
tin. Từ việc đọc kém không nhận nhanh được mặt chữ nên dẫn đến viết kém,
tiếp thu mọi thông tin của thày cô kém. Từ việc không nắm chắc kiến thức nên
học không có chiều sâu tư duy. Khả năng tập trung vào bài học của các em
không bền vững. Học sinh dễ mất tập trung nên việc đạt được kiến thức theo
7
chuẩn kiến thức kĩ năng là rất khó khăn. Vì vậy mỗi giáo viên phải nhận thức
được vấn đề, xây dựng được phương pháp rèn đọc cho học sinh. Từ việc rèn
học sinh phát âm đúng, đọc to rõ ràng lưu loát đến việc các em biết làm chủ tốc
độ đọc, hiểu được nội dung văn bản chuyển tải cho người nghe cảm thụ được
cũng đã bỏ nhiều công sức ra rèn đọc cho học sinh nhưng học sinh tiến bộ rất ít
nên dẫn đến chán nản bỏ dở giữa chừng.
Bởi vậy, để khắc phục được các vấn đề trên là cả một quá trình kiên trì
bền bỉ và đầy khó khăn vất vả của người giáo viên.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
Học sinh lớp 3 nói riêng, học sinh Tiểu học nói chung đây là học sinh mà
đặc điểm tâm sinh lí của các em rất hiếu động đang chuyển dần từ hoạt động
vui chơi sang hoạt động học tập làm chủ đạo. Quá trình rèn đọc cho học sinh là
cả một quá trình lâu dài, khó khăn đòi hỏi người giáo viên phải kiên nhẫn tìm
tòi sáng tạo. Để đi sâu vào vấn đề này, tôi lần lượt tiến hành các công việc sau:
4.1. Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc rèn đọc cho học sinh
Tôi nghiên cứu tìm đọc, nghiên cứu các tài liệu tham khảo như : Sách giáo
khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng, điều chỉnh nội dung dạy học, tài
liệu đổi mới phương pháp dạy học, tập san, tạp chí giáo dục… Qua việc nghiên
cứu, tìm hiểu, tôi đã nắm được nội dung chương trình, nắm được mục đích yêu
cầu của phân môn Tập đọc lớp 3 cũng như mức cần đạt của học sinh trong từng
giai đoạn. Qua việc nghiên cứu, tôi được bồi dưỡng thêm về kiến thức, chuyên
môn nghiệp vụ, tích luỹ thêm kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh và áp dụng
trong quá trình dạy học hàng ngày.
4.2. Điều tra thực trạng kĩ năng đọc của học sinh trong lớp
Vào đầu năm học, sau khi nhận lớp, tôi đã chủ động điều tra kĩ năng đọc
của học sinh của lớp để biết được mức độ đọc của từng học sinh.
Tôi tiến hành khảo sát chất lượng đọc của học sinh và kết quả thu được
như sau:
Tổng số học sinh là: 32 em
Kĩ năng đọc
Đọc đúng tiếng, từ; đúng tốc độ, ngắt nghỉ hơi đúng, hiểu
9
Sau khi điều tra thực trạng học sinh, tôi đã tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến
học sinh đọc sai, đọc kém. Các nguyên nhân đó là:
- Hàng ngày các em tiếp xúc với những đối tượng nói sai, nói ngọng ở địa
phương thành thói quen, nhất là tỉnh ta hay nhầm l/n ... dẫn đến học sinh đọc
sai.
Ví dụ: “ lập lòe” các em đọc thành “nập nòe”
“rừng cây” Các em đọc thành: “dừng cây”...
- Học sinh học đuối từ lớp dưới, chưa nhận nhanh được mặt chữ nên khi
đọc nhiều chỗ phải dừng lại đánh vần. Do đó dẫn đến tình trạng học sinh đọc
chậm không đảm bảo tốc độ ê a ngắc ngứ không lưu loát.
- Các em không hiểu nghĩa của từ nên khi đọc các em đọc bừa.
- Một số em do bộ máy phát âm còn có điểm khiếm khuyết nên cũng dẫn
đến các em đọc sai, các chữ khó không đọc được.
- Ngoài ra một số em không hiểu nội dung, không hiểu văn cảnh, không
hiểu ý nghĩa tình cảm của tác giả muốn gửi gắm ở trong bài đọc nên cứ đọc
oang oang, đọc như cuốc kêu mà không biết đọc giọng phù hợp ...
4.3 Phân loại học sinh theo từng lỗi kĩ thuật đọc.
Trong các tiết dạy trên lớp, tôi theo dõi kĩ năng đọc các học sinh, phát
hiện ra các lỗi sai về kĩ thuật đọc. Tôi tổng hợp các lỗi sai thành các nhóm để từ
10
đó có biện pháp rèn đọc phù hợp với từng đối tượng. Tôi đã tổng hợp và phân
loại được các nhóm cơ bản sau:
+ Nhóm đọc sai lỗi phát âm: l/n; s/x; ch/tr; r/d/gi.
+ Nhóm đọc chậm ê a, ngắc ngứ.
+ Nhóm đọc quá chậm.
+ Nhóm học sinh đọc quá nhanh.
+ Nhóm đọc nhỏ quá.
+ Nhóm học sinh đọc to quá.
“xâu”: xuyên qua vật bằng sợi dây hoặc que như: xâu cá, xâu cua, xâu
kim hay chỉ sự tranh giành như xâu xé...
Khi các em đã được luyện tập nhiều lần, giáo viên huấn luyện cho các em
tự nhận xét và nhận xét lẫn nhau và chỉ cho các em những chỗ chưa được. Cứ
như vậy nhiều lần, các em hiểu và tiến bộ rõ rệt.
+ Đối với những em đọc ê a, ngắc ngứ. Ở đây lỗi của các em là chưa nhận
rõ mặt chữ nên ê a để nghĩ xem chữ đó đọc như thế nào? Có em phải dừng lại
để đánh vần. Đối với nhóm này, giáo viên dành một thời gian thích hợp cho
việc luyện đọc. Giáo viên hướng dẫn các em đọc to rõ ràng từng tiếng tuyệt đối
không kéo dài từ tiếng này sang tiếng khác. Đọc dứt khoát từng từ, cụm từ,
từng câu. Giáo viên luyện cho học sinh một cách thường xuyên và phải tạo
thành một thói quen. Nếu cần thiết cho các em dừng lại nhận rõ chữ rồi mới
đọc liền mạch. Đối với các em không đọc nổi các tiếng khó ngay tại lớp, giáo
viên yêu cầu các em đánh dấu các tiếng khó bằng bút chì vào sách giáo khoa để
luyện đọc vào thời gian khác. Đến cuối mỗi buổi giáo viên lại kiểm tra hướng
dẫn bổ sung.
+ Đối với những em đọc chậm, giáo viên rèn đọc cho học sinh bằng cách
sau:
Đơn vị đọc là cụm từ, câu, đoạn, bài. Giáo viên đo tốc độ bằng cách chọn
sẵn bài có số lượng tiếng cho trước và dự tính đọc trong bao nhiếu phút. Dựa
theo chuẩn kiến thức kĩ năng, tùy theo mức độ khó của từng bài mà giáo viên
đề ra yêu cầu với quỹ thời gian nhất định.
Ví dụ bài: Ông ngoại (sách Tiếng Việt lớp 3- tập 1 – trang 34) đọc trong
vòng 3 phút là đạt yêu cầu.
12
+ Đối với những em đọc nhanh quá, đọc liến thoắng, giáo viên hướng dẫn
các em làm chủ tốc độ đọc: đọc nhẹ nhàng, rõ ràng thoải mái làm sao đủ để
+ Giọng nhà vua oai nghiêm có lúc vờ bực bội quát.
Khi học sinh đã phát hiện ra cách đọc, giáo viên bổ sung cho đầy đủ và tổ
chức cho các em luyện đọc, thi đọc. Các em theo dõi bình chọn bạn nào đọc
đúng hơn, hay hơn. Ở mỗi loại văn bản, giáo viên hướng dẫn các em thể hiện
đúng đặc trưng của từng loại văn bản. Đọc một câu chuyện khác với đọc một
bản báo cáo khác với đọc một tờ quảng cáo, khác với đọc một bản tin ... Chỗ
nào các em đọc chưa đạt giáo viên sửa ngay sao cho ở mỗi bài, bài sau các em
đọc hay hơn, tốt hơn bài trước. Mỗi ngày mỗi tuần các em đọc tiến bộ hơn.
4.5. Dạy tốt các tiết Tập đọc trên lớp
Để rèn học sinh đọc tốt giáo viên cần phải dạy thật tốt các tiết Tập đọc
trên lớp. Để thực hiện tốt các tiết dạy, tôi thực hiện tốt một số công việc
sau:
* Công tác chuẩn bị
Công tác chuẩn bị là công việc quan trọng để có được một tiết dạy thành công.
Từ việc soạn giáo án đến chuẩn bị đồ dùng, tôi đều chuẩn bị chu đáo và khoa
học. Mỗi một bài dạy, trước khi lên lớp tôi phải đọc bài nhiều lần để đọc tốt bài
và hiểu thấu đáo nội dung. Tôi xác định nội dung cần đạt, xác định giọng đọc,
phương pháp dạy, hình thức tổ chức, dự kiến các lỗi học sinh hay mắc, dự kiến
các câu trả lời, dự kiến quỹ thời gian cho từng phần kiến thức. Tất cả các vấn
đề trên, tôi lên kế hoạch cụ thể rõ ràng để chủ động truyền đạt kiến thức trong
khi tiến hành bài giảng. Ngoài ra tôi phải chuẩn bị chu đáo về đồ dùng, các
phương tiện phục vụ cho tiết dạy như bảng phụ, tranh ảnh, máy tính, máy chiếu
...
* Tiến hành bài giảng
Khi lên lớp, tôi cố gắng vận dụng tốt việc đổi mới phương pháp dạy học.
Hoạt động của giáo viên và học sinh sao cho nhịp nhàng không gây áp lực cho
học sinh cả về kiến thức lẫn thời gian. Trên lớp, tôi áp dụng thực hiện tốt các
biện pháp rèn đọc cho từng nhóm đối tượng mà tôi đã xây dựng. Trong việc rèn
đọc cho học sinh, tôi thực hiện việc đổi mới phương pháp, phát huy tính chủ
đúng.
4.7. Phát động thi đua “nhóm đọc tốt”
Trong lớp, giáo viên phát động phong trào "nhóm đọc tốt" nhằm mục đích
nâng cao chất lượng đọc của học sinh.
15
Giáo viên gợi ý cho những em đọc tốt và những em đọc chưa đạt thành
một nhóm, tạo điều kiện cho các em học tập kèm cặp lẫn nhau, hỗ trợ nhau
cùng tiến bộ.
Mỗi giờ truy bài hoặc cuối buổi cho các em kèm cặp lẫn nhau. Giáo viên
chủ động giành thời gian theo dõi, kiểm tra từng nhóm để hướng dẫn và bổ
sung thêm.
Ngoài ra, tôi áp dụng mô hình trường học mới, sử dụng góc Thư viện của
lớp học, khuyến khích học sinh các nhóm đọc truyện để nâng cao thêm kĩ năng
đọc cho học sinh.
Giáo viên cho thi đua giữa các nhóm để cuối tuần, mỗi tháng có đánh giá
tổng kết, bình chọn bao nhiêu nhóm đạt nhóm đọc tốt, có động viên khuyến
khích kịp thời.
4.8.Khen thưởng động viên kịp thời
Đây là công việc quan trọng để khích lệ học sinh, song phải đúng mức, kịp
thời. Qua mỗi sự tiến bộ dù nhỏ của học sinh, giáo viên cũng phải có lời động
viên. Có như vậy,các em mới phấn khởi biết mình tiến bộ từng bước như thế
nào và luôn có hướng phấn đấu vươn lên.
4.9.Kết hợp với phụ huynh để cùng luyện đọc cho học sinh
Giáo viên kết hợp với phụ huynh, tư vấn cho phụ huynh về phương pháp
dạy học qua điện thoại hoặc qua các buổi họp để cùng phụ huynh kết họp phụ
đạo kèm cặp học sinh. Phụ huynh cũng là tấm gương về đọc đúng, phát âm
chuẩn để cho con em mình học tập.
5. Kết quả đạt được
biết ngắt nghỉ hơi, không hiểu nội dung bài.
10
31,3
13
40,6
14
43,7
9
28,1
5
15,6
0
0,0
Qua việc áp dụng biện pháp rèn đọc, tôi thấy so với trước khi chưa áp
dụng biện pháp thì kĩ năng đọc của học sinh hiện nay nâng lên rõ rệt. Các em
phát âm chuẩn xác. Những tiếng khó câu dài các em đọc lưu loát trôi chảy.
Năng lực đọc của các em tiến bộ nhanh. Nhiều em trước đây đọc chậm, đọc sai
- Nghiên cứu kỹ chương trình và sách giáo khoa. Trong giảng dạy phải
bám sát chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng, điều chỉnh nội dung dạy học.
Thực hiện tốt theo thông tư 30/2014; đảm bảo tính vừa sức của HS; tạo cho HS
tính tự giác, tích cực, chủ động phát huy hết năng lực đọc của mình, Thực hiện
từng bài dạy trên lớp đạt hiệu quả.
- Có biện pháp động viên, khuyến khích kịp thời để khích lệ các em hăng
say học tập. Giáo viên cần tìm ra những khả năng tiềm tàng ở các em (dù là rất
ít) để động viên các em, tạo cho các em niềm tin vào bản thân. Từ đó, học sinh
có sự cố gắng vươn lên. Giáo viên phải làm tốt công tác chủ nhiệm, áp dụng
mô hình trường học VNEN, phát huy hội đồng tự quản, xây dựng được mối
quan hệ thân thiện giữa thày - trò; trò – trò để tiết học nhẹ nhàng thoải mái,
không gây áp lực đối với học sinh. Giáo viên phải biết khéo léo kết hợp các
môi trường giáo dục để cùng rèn cặp cho học sinh.
- Cơ sở vật chất phải đảm bảo như phòng học bàn ghế, ánh sáng… có đủ
trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trên đây là toàn bộ sáng kiến về một số biện pháp rèn đọc cho học sinh
lớp 3 mà tôi tự tìm tòi nghiên cứu. Sáng kiến của tôi đã dựa vào các tài liêu
18
hướng dẫn, các tài liệu tham khảo về các phương pháp dạy học, đổi mới
phương pháp dạy học, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, điều chỉnh nội
dung dạy học. Học sinh của lớp tôi lúc đầu kĩ năng đọc còn rất kém. Các em
đọc sai tiếng sai từ, tốc độ chậm không hiểu nội dung… Tôi đã áp dụng biện
pháp rèn đọc phù hợp với từng đối tượng khắc phục từng lỗi sai cộng với sự
kiên trì, lòng nhiệt tình tất cả vì học sinh, vì sự nghiệp giáo dục. Học sinh lớp
tôi hiện nay kĩ năng đọc đã được nâng lên vượt bậc. Các em không những đọc
cơ sở vật chất trong nhà trường.
* Tài liệu, tư liệu tham khảo
- Tiếng Việt - sách giáo viên (từ lớp 1đến lớp 5)
- Chuyên san tạp chí Giáo dục Tiểu học.
- Đổi mới phương pháp giáo dục ở Tiểu học.
MỤC LỤC
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1. Lý do chọn sáng kiến
1.2. Phạm vi nghiên cứu
20
Trang
1
2
4
5
5
5
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
1.4. Nhiệm vụ mghiên cứu
1.5. Các phương pháp nghiên cứu
1.6. Điểm mới nghiên cứu
2. Cơ sở lí luận của vấn đề
3. Thực trạng của vấn đề
13
14
15
15
15
15
17
18
18
18
19