Một vài biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3 trong giờ Tập đọc
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU:
Giáo dục bậc tiểu học là một khoa học giáo dục khó nhất. Nó là nền móng
đầu tiên để giúp con người tồn tại và phát triển. Đặc biệt là môn Tiếng Việt có vị
trí quan trọng trong tất cả các phân môn ở trường, nó hình thành khả năng giao
tiếp, là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ để tiếp thu và học tốt các môn học
khác.
Tiếng Việt ở tiểu học gồm nhiều phân môn: Tập đọc - Học thuộc lòng, Luyện
từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn, Chính tả, Tập viết,… Mỗi phân môn đều có
một chức năng. Tiếng Việt là môn học không thể thiếu được đối với học sinh
tiểu học, là môn công cụ, là chìa khóa, là phương tiện để học sinh tiếp nhận tri
thức của loài người. Nó là môn học mang tính chất tổng hợp vì ngoài nhiệm vụ
dạy học, môn Tiếng Việt còn có nhiệm vụ trau dồi kiến thức về Tiếng Việt cho
học sinh (về phát âm, từ ngữ, câu văn…) kiến thức bước đầu về văn học, đời
sống giáo dục tình cảm thẩm mỹ. Phân môn Tập đọc ở tiểu học nói chung và ở
lớp 3 nói riêng đặt ra một nhiệm vụ quan trọng. Trong các giờ tập đọc học thuộc
lòng, học sinh biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ đã tạo cho các em hứng thú say
mê và để lại một vốn văn học đáng kể cho các em. Mặt khác, nó còn có tác dụng
mạnh mẽ trong giáo dục mỹ cảm, giúp các em hiểu được cái đúng, cái đẹp, cái
tinh tế của nghệ thuật ngôn từ. Học đọc, các em đồng thời học cách nói, cách
viết một cách chính xác, trong sáng, có nghệ thuật, góp phần không nhỏ vào việc
rèn luyện cách suy nghĩ, diễn đạt cho cả lớp người chủ tương lai của xã hội. Dạy
tập đọc không những rèn kỹ năng đọc mà còn phát triển ở các em vốn từ ngữ
Tiếng Việt phong phú. Từ đó các em học tất cả các môn học khác bởi: Đọc đúng
mới viết đúng, mới hiểu đúng và làm đúng…
Và phân môn Tập đọc không chỉ có nhiệm vụ trên mà còn kết hợp chặt chẽ
với chương trình Tiếng Việt. Qua các bài văn chọn lọc, học sinh cảm thụ cái
1
hay, cái đẹp, biết được cách sử dụng từ chính xác, cách đặt câu gọn gàng sinh
động, học tập được cách viết các thể loại văn bản.
chất lượng đọc của các em nâng lên. Song có nhiều yếu tố khách quan và chủ
quan đã làm ảnh hưởng nhiều đến việc dạy đọc như:
+ Về giáo viên:
Giáo viên đã chú trọng phương pháp dạy học mới: “Thầy thiết kế, trò thi
công”, lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên cố gắng tìm tòi nghiên cứu để
giảng dạy phân môn Tập đọc nhưng chất lượng chưa cao. Bởi vì giáo viên chỉ
coi trọng một vấn đề đọc to, rõ hoặc có hướng dẫn đọc hay nhưng chỉ lướt qua,
ít sử dụng đồ dùng dạy học để giới thiệu bài tạo hứng thú cho học sinh. Một số
giáo viên còn lúng túng khi dạy tập đọc: Cần đọc bài Tập đọc này với giọng như
thế nào, làm thế nào để chữa lỗi phát âm cho học sinh, làm thế nào để các em
đọc nhanh hơn, đọc hay hơn.
+ Về học sinh:
Liên tục trong hai năm (năm học: XXX,XXX), tôi được phân công chủ nhiệm
và trực tiếp giảng dạy lớp 3 - Trường tiểu học XXX. Qua thực tế giảng dạy và
nghiên cứu khảo sát chất lượng của phân môn Tập đọc lớp 3, bản thân tôi nhận
thấy: Học sinh đã biết đọc thành tiếng bài văn, bài thơ, đã để ý và đọc tương đối
đúng các phụ âm khó. Nhưng đọc hiểu nắm nội dung bài còn gặp nhiều khó
khăn, do vậy nên khó khăn trong việc nêu được ý chính của bài, chưa có kỹ năng
đọc hay toàn bài văn. Khi đọc, gặp các dấu phẩy, dấu chấm còn ngừng nghỉ như
nhau, chưa đọc đúng giọng câu hỏi, câu cảm. Chưa có thói quen chuẩn bị bài ở
nhà trước khi đến lớp. Về khả năng ngôn ngữ của học sinh còn yếu, tư duy của
các em chưa cao. Các em phát âm theo phương ngữ, thường phát âm lẫn các phụ
âm đầu, vần, thanh, cụ thể là:
+ Các lỗi phụ âm đầu: ch /tr, l/n,…
Ví dụ: “ Trong trẻo” thì đọc là “ chong chẻo
“long lanh” thì đọc là “nong nanh”
+ Các lỗi về vần:
3
Ví dụ: “ cuốn sổ” thì đọc là: “cuống sổ”
+ Các lỗi về thanh: các em còn đọc nhầm lẫn giữa thanh ngã và thanh hỏi.
1. Giải pháp 1.
Nhận thức rõ nhiệm vụ phân môn Tập đọc. Nắm vững nhiệm vụ, vị trí, đặc
điểm môn học. Như chúng ta đã biết: “Quá trình dạy học là một quá trình hoạt
động thống nhất giữa giáo viên và học sinh trong đó giáo viên giữ vai trò quan
trọng trong việc hướng dẫn, tổ chức và điều hành hoạt động của học sinh. Còn
học sinh tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động của mình nhằm chiếm lĩnh kiến
thức”.
Giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình SGK và các tài liệu dạy học có liên
quan để từ đó xác định được phương pháp, cách thức tổ chức dạy học từng bài
tập đọc cụ thể.
2. Giải pháp 2:
- Giáo viên phải rèn luyện giọng đọc mẫu thật tốt.
- Trong giờ Tập đọc, giáo viên phải tuân thủ theo các bước có tính đặc trưng
của phân môn Tập đọc. Phải kết hợp giữa hai hình thức: Đọc thành tiếng và đọc
thầm. Hai hình thức này gắn bó chặt chẽ với nhau, cộng tác cùng thực hiện để
đạt một mục đích cuối cùng của đọc là thông hiểu nội dung văn bản.
3. Giải pháp 3:
Giúp học sinh có ý thức rèn đọc. Việc rèn đọc cho học sinh không phải chỉ
ngày một ngày hai là đạt kết quả. Vì vậy giáo viên phải kiên trì và tạo cho học
sinh có ý thức rèn đọc để đạt 4 phẩm chất: đọc đúng; đọc lưu loát, rõ ràng; đọc
có ý thức (thông hiểu nội dung văn bản) và đọc hay.
4.Giải pháp 4:
Tăng cường tổ chức trò chơi học tập, phát huy khả năng đọc hay, thay đổi
các hình thức rèn đọc cho học sinh để tạo cho các em niềm vui, niềm say mê
học tập.
II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
Từ các giải pháp nêu trên, tôi đã tìm ra một số biện pháp để giúp giáo viên
dạy lớp 3 rèn đọc cho học sinh, cụ thể như sau:
5
1. Biện pháp 1: Nhận thức rõ nhiệm vụ phân môn Tập đọc và việc dạy tập
- Đọc mẫu âm, vần, tiếng khó.
- Đọc câu, đoạn giúp học sinh nhận xét, giải thích tìm ra cách đọc.
Tùy theo từng bài mà giáo viên đọc mẫu cả bài hoặc một đoạn, nhưng trước
hết người giáo viên phải đọc đúng, ngoài ra còn phải đọc diễn cảm tốt bài văn,
bài thơ. Muốn vậy giáo viên phải rèn luyện kỹ năng đọc cho mình một cách
nghiêm túc. Luyện đọc diễn cảm sao cho mỗi bài đọc của giáo viên xứng đáng là
bài đọc mẫu cho học sinh.
Ví dụ: Đọc bài “Ai có lỗi” ( TV3 - T1)
Biết phân biệt giọng người kể chuyện với giọng các nhân vật (nhân vật
“tôi”- En-ri-cô, Cô-rét-ti, bố của En-ri-cô).
- Giọng nhân vật “tôi”- En-ri-cô ở đoạn 1 - đọc chậm rãi, nhấn giọng các từ:
nắn nót, nguệch ra, nổi giận, kiêu căng.
- Đọc nhanh, căng thẳng hơn (ở đoạn 2 - hai bạn cãi nhau), nhấn giọng các
từ: trả thù, đẩy, hỏng hết, giận đỏ mặt. Lời Cô-rét-ti bực tức.
- Trở lại chậm rãi, nhẹ nhàng (ở đoạn 3) khi En-ri-cô hối hận, thương bạn,
muốn xin lỗi bạn, nhấn mạnh các từ: lắng xuống, hối hận,
- Ở đoạn 4 và 5, nhấn giọng các từ: ngạc nhiên, ngây ra, ôm chầm,… Lời
Cô-rét-ti dịu dàng. Lời bố En-ri-cô nghiêm khắc.
Hoặc bài “Cuộc họp của chữ viết” (TV3 - T1), đọc thể hiện đúng các kiểu
câu (câu kể, câu hỏi, câu cảm). Phân biệt được lời dẫn chuyện và lời các nhân
vật (bác Chữ A, đám đông, Dấu Chấm).
- Giọng người dẫn chuyện: hóm hỉnh.
- Giọng bác Chữ A: to, dõng dạc.
- Giọng Dấu Chấm: rõ ràng, rành mạch.
- Giọng đám đông: khi ngạc nhiên (Thế nghĩa là gì nhỉ ?), khi phàn nàn (ẩu
thế nhỉ !).
Hay là bài: Báo cáo kết quả tháng thi đua “Noi gương chú bộ đội”
(TV3 - T2).
7
Đây là nội dung báo cáo hoạt động của tổ lớp. Giáo viên đọc mẫu giọng rõ
muốn ngồi dậy xin lỗi mẹ / và anh, / nhưng lại xấu hổ vì mình / đã vờ ngủ.
Áp mặt xuống gối, / em mong trời mau sáng để nói với mẹ: // “con không
thích chiếc áo ấy nữa. / Mẹ hãy để tiền mua áo ấm/ cho cả hai anh em”. //
- Lúc này giúp học sinh sửa lại bằng cách: Treo bảng phụ chép sẵn đoạn văn
đã ngắt sẵn như sau:
“Nằm cuộn tròn / trong chiếc chăn bông ấm áp, / Lan ân hận quá. // Em
muốn ngồi dậy / xin lỗi mẹ và anh, / nhưng lại xấu hổ / vì mình đã vờ ngủ. //
Áp mặt xuống gối, / em mong trời mau sáng / để nói với mẹ: // “Con không
thích chiếc áo ấy nữa. // Mẹ hãy để tiền / mua áo ấm cho cả hai anh em. //”
- Sau đó yêu cầu học sinh đọc lại để so sánh hai cách đọc, cách nào đúng rồi
yêu cầu học sinh đọc với giọng nhẹ nhàng, ngắt đúng, nhấn giọng ở từ gạch
dưới. Đặc biệt câu nói của Lan khi đọc học sinh thể hiện sự ân hận, có như vậy
mới biểu đạt được trạng thái cảm xúc của tác giả.
Ví dụ 2: Trong bài “Cửa Tùng”, ( TV 3 – T1)
Học sinh đọc như sau: “Đôi bờ thôn xóm / mướt màu xanh lũy tre làng / và
những rặng phi lao rì rào / gió thổi. //”
- Giáo viên đọc lại câu văn và yêu cầu học sinh lắng nghe, phát hiện chỗ cô
giáo ngắt giọng: “Đôi bờ thôn xóm mướt màu xanh lũy tre làng / và những rặng
phi lao rì rào gió thổi. //”
Sau đó yêu cầu 3 - 4 em đọc lại câu văn trên. Từ đó giúp học sinh phát
hiện và ngắt nghỉ đúng.
Ví dụ 3: Đối với câu: “Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng
ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang
đãng.”
(Nhớ lại buổi đầu đi học – TV3-T1)
Giáo viên treo bảng phụ viết sẵn câu văn yêu cầu một học sinh giỏi lên bảng
đánh dấu chỗ ngắt nghỉ và đọc để các bạn trong lớp nhận xét, thống nhất cách
đọc đúng như sau: “Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy
9
nở trong lòng tôi / như mấy cánh hoa tươi / mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
Ví dụ: Khi học sinh đọc cá nhân toàn bài hoặc một khổ thơ, một đoạn văn
giáo viên đều nhắc cả lớp đọc thầm theo. Giáo viên còn gây hứng thú cho học
sinh bằng những trò chơi như: Thi đọc tiếp sức, đọc thơ truyền điện, thả thơ,…
Kết thúc chơi bao giờ giáo viên cũng cho học sinh chọn và tuyên dương nhóm
đọc đúng nhất, nhanh nhất, giỏi nhất và gợi ý rút kinh nghiệm về cách đọc.
Mặt khác muốn học sinh đọc lưu loát, đúng tốc độ cần có sự chuẩn bị bài ở
nhà tốt, học sinh phải được đọc trước nhiều lần. Em nào đọc còn chậm giáo viên
giúp học sinh luyện thêm sau giờ học và luyện đọc ở buổi 2.
5. Biện pháp 5: Rèn cho học sinh đọc có ý thức (đọc hiểu).
Để giúp học sinh đọc cảm nhận văn bản, hiểu văn bản thì trong giờ tập đọc
phải chú ý rèn luyện khả năng đọc hiểu cho học sinh. Đó là vấn đề cần thiết,
quan trọng đối với học sinh lớp 3. Có hiểu nội dung bài văn, bài thơ thì mới có
cách đọc đúng, đọc hay được. Việc luyện đọc hiểu thường được thực hiện trong
bước đọc thầm.
Sự thực đọc thầm có ưu thế hơn hẳn đọc thành tiếng ở chỗ nhanh hơn đọc
thành tiếng từ 1,5 đến 2 lần. Nó có ưu thế hơn hẳn để tiếp nhận, thông hiểu nội
dung văn bản vì người ta không phải chú ý đến việc phát âm, chỉ tập trung để
hiểu nội dung điều mình đọc. Hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả năng
thông hiểu nội dung văn bản đọc. Do đó, dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý
thức, đọc hiểu. Kết quả đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ,
câu, đoạn, bài tức là toàn bộ những gì mà các em đọc được.
* Cách thực hiện: Tôi đã hướng dẫn học sinh cách thực hiện như sau:
- Kết hợp chặt chẽ việc tìm hiểu bài với việc luyện đọc. Giáo viên cho học
sinh đọc đến đâu tìm hiểu bài đến đó. Không tách rời hai khâu tìm hiểu bài và
rèn đọc.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Giọng quê hương”- tác giả Thanh Tịnh (TV3 – T1).
11
Sau khi cho học sinh đọc thầm đoạn 1, đoạn 2, đoạn 3 của bài để trả lời cho
câu hỏi 1, 2, 3, 4 trong phần tìm hiểu nội dung bài. Tiếp đó giáo viên yêu cầu 3
học sinh đọc nối tiếp 3 đoạn của bài, sau đó cả lớp trao đổi nhóm, phát biểu ý
+ Giáo viên cho học sinh quan sát trên máy chiếu để học sinh thấy được hình
ảnh đẹp: “Đôi bờ thôn xóm mướt màu xanh lũy tre làng và những rặng phi lao
rì rào gió thổi.”
- Đặt câu với từ “mướt màu xanh”?
Từ đó giúp học sinh thấy vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của cách nói văn
chương, hướng dẫn các em phát hiện những tín hiệu nghệ thuật và đánh giá được
giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung.
- Hoặc khi học bài: “ Bài hát trồng cây” ( TV3 – T2):
Ai trồng cây
Người đó có tiếng hát
Trên vòm cây
Chim hót lời mê say.
Ai trồng cây
Người đó có ngọn gió
Rung cành cây
Hoa lá đùa lay lay.
…………….
Ai trồng cây…
Em trồng cây…
Em trồng cây…
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm và phát hiện ra các từ ngữ được lặp đi lặp
lại trong bài thơ (Ai trồng cây / Người đó có… và Em trồng cây / Em trồng cây).
Việc lặp lại các từ ngữ đó như một điệp khúc trong bài nhấn mạnh ý mọi người
hãy hăng hái trồng cây. Đó là giá trị của biện pháp nghệ thuật.
13
Như vậy, tất cả những cách thực hiện trên nhằm giúp học sinh hiểu nội dung,
nghệ thuật của văn bản để có cách đọc đúng và vươn tới mức độ cao hơn đó là
đọc hay.
6. Biện pháp 6: Rèn cho học sinh có ý thức đọc hay.
(Mặc dù đối với học sinh học lớp 3, yêu cầu đặt ra chưa cao, nhưng giáo viên
khổ thơ) mà em thích và nói lên lí do vì sao mình lại thích đoạn văn, khổ thơ đó.
Hoặc tổ chức thi đọc hay, đọc phân vai, đóng kịch (Đối với các tác phẩm có
nhiều lời hội thoại như bài “Người mẹ” (TV3 – T1),…
Bước 2: Đọc hay chỉ có được trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc. Đọc hay, yêu
cầu đọc đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm,… phù hợp với từng ý cơ
bản của bài đọc, phù hợp với kiểu câu, thể loại, đọc có cảm xúc cao, biết nhấn
giọng ở từ ngữ biểu cảm, gợi tả, phân biệt lời nhân vật, lời tác giả.
Để đọc hay, người đọc phải làm chủ được chỗ ngắt giọng, làm chủ được tốc
độ đọc, làm chủ được cường độ và ngữ điệu.
Vì vậy, ở mỗi bài tập đọc giáo viên quan tâm hướng dẫn học sinh phát hiện
những chỗ ngắt giọng, nhấn giọng có ý đồ nghệ thuật bằng cách tự các em tìm
tòi, khám phá và tranh luận.
Ví dụ: Dạy bài “Anh Đom Đóm” ( TV3 – Tập 1)
Mặt trời gác núi /
Bóng tối / lan dần, /
Anh Đóm chuyên cần /
Lê đèn/ đi gác. //
Theo làn gió mát /
Đóm / đi rất êm, /
Đi suốt một đêm /
Lo cho người ngủ… //
Từng bước, / từng bước /
Vung ngọn đèn lồng /
Anh Đóm / quay vòng /
15
Như sao bừng nở… //
Bài thơ “Anh Đom Đóm” thuộc thể thơ 4 chữ mang âm hưởng của một bài
đồng dao vui nhộn, tươi mát hồn nhiên, khi đọc, học sinh cần thể hiện âm điệu
của một bài ca tuổi thơ nhí nhảnh, tình cảm đối với cuộc sống của loài vật ở làng
quê vào ban đêm rất đẹp và sinh động.
lớn trong quá trình đọc hay. Các loại hình văn bản trong các bài tập đọc lớp 3 là:
Thơ, văn xã hội khoa học, văn bản khoa học tự nhiên, truyện kể, kịch. Trong đó,
truyện kể và kịch thường xuất hiện nhiều nhân vật. Chính vì vậy, để nâng cao
chất lượng đọc cho học sinh lớp 3, điều không thể xem nhẹ là luyện đọc cho học
sinh có giọng đọc phù hợp với nhân vật.
Sau khi hướng dẫn học sinh luyện đọc và tìm hiểu bài khi mà các em đã nắm
được nội dung bài, hiểu tính cách từng nhân vật, giáo viên cho học sinh phát
hiện cách đọc, thể hiện giọng đọc của từng nhân vật.
Ví dụ: Khi đọc bài: “Người lính dũng cảm” (TV 3 – T 1)
+ Giọng viên tướng: Mạnh, gọn, rõ:
- Vượt rào, / bắt sống lấy nó! (to, mạnh kéo dài ở từ nó)
- Chỉ những thằng hèn mới chui. // ( giọng bực tức)
+ Giọng chú lính nhỏ: rụt rè, bối rối ở phần đầu truyện, giọng quả quyết ở
cuối truyện:
- Chui vào à ?// (ngập ngừng, rụt rè)
- Nhưng / như vậy là hèn. // (giọng quả quyết)
+ Giọng thầy giáo nghiêm khắc, lúc dịu dàng, lúc buồn bã, bực tức.
- Hôm qua / em nào phá đổ hàng rào, / làm giập hoa trong vườn
trường? // ( giọng nghiêm khắc)
- Thầy mong em nào phạm lỗi / sẽ sửa lại hàng rào và luống hoa. //
(giọng buồn bã)
Như vậy để hướng dẫn học sinh luyện đọc đúng giọng nhân vật, giáo viên
phải giúp các em tìm hiểu bài tốt để nắm được đặc điểm, tính cách nhân vật. Từ
17
ú luyn cho cỏc em cú ging c c th, phự hp vi tng nhõn vt, thay i v
an xen cỏch c to khụng khớ sinh ng ho hng cho gi hc.
Qua một thời gian ngắn, tôi nhận thấy những biện pháp mà tôi đa ra đã thu đ-
ợc kết quả thật khả quan.
C. KT LUN
1.Kt qu thc hin:
nhất phù hợp với nội dung từng bài.
- Không tỏ thái độ nôn nóng, cáu gắt mà luôn tạo ra không khí vui tươi thoải
mái trong tiết học để các em thấy rằng đó là một “sân chơi” bổ ích và lý thú chứ
không phải là giờ học căng thẳng.
- Giáo viên phải triệt để sử dụng đồ dùng trực quan hỗ trợ cho việc tìm hiểu
bài, tổ chức các hình thức học tập linh hoạt, sáng tạo.
- Việc rèn học sinh có thói quen học ở nhà là một việc làm cần thiết, bởi vì ở
lớp thời gian học tập rất ít. Các em chuẩn bị bài ở nhà tốt thì đến lớp tiếp thu bài
nhanh hơn, đọc tốt hơn.
3.Kiến nghị:
Trên thực tế dạy học, tôi có một số kiến nghị, đề xuất sau:
- Các tài liệu về phương pháp dạy Tiếng Việt cần thống nhất cao về quan
điểm.
- Đối với giáo viên và cán bộ quản lý trường học khi dự giờ đánh giá giờ dạy
của giáo viên phải linh hoạt, căn cứ vào hiệu quả tiết dạy làm tiêu chí đánh giá
hàng đầu. Nên khuyến khích những giáo viên biết tổ chức lớp học linh hoạt,
sáng tạo trong giờ học phù hợp với trình độ, năng lực của học sinh lớp mình.
- Các cấp quản lý giáo dục cần thường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi
dưỡng cho giáo viên.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi về: “Rèn đọc cho học
sinh Lớp 3 trong giờ Tập đọc”. Tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp sẽ góp ý để
các biện pháp trên khả thi hơn.
19