Sáng kiến kinh nghiệm
I. MỞ ĐẦU
- Lí do chọn đề tài
Trong nhà trường, nếu nói người giáo viên là những “kĩ sư tâm hồn” thì
điều đó đúng nhất với các thầy cô giáo dạy văn, vì Ngữ Văn chính là bộ môn dễ
gây xúc động, vui buồn, tác động nhiều nhất đến thế giới nội tâm của con người,
giúp con người phát huy đầy đủ năng lực và phẩm chất để xây dựng cuộc sống.
Chương trình thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học đã xác
định mục tiêu của môn Ngữ Văn trong nhà trường THCS là nhằm giáo dục cho
học sinh “những tư tưởng, tình cảm cao đẹp, như lòng nhân ái, yêu gia đình,
quê hương đất nước, sự căm ghét cái xấu, cái ác, rèn luyện tính tự lập, biết tư
duy sáng tạo bước đầu có năng lực cảm thụ những giá trị chân- thiện- mĩ
trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học…”. Chính vì vậy, người giáo viên
phải có trách nhiệm bồi dưỡng tâm hồn học sinh để đáp ứng những phẩm chất
của người lao động trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, vấn đề bồi dưỡng tâm hồn học sinh thông qua một giờ dạy học
tác phẩm văn chương cũng tạo ra không ít thử thách đối với người dạy. Làm thế
nào để truyền tải được những tư tưởng xuất phát từ trái tim tác giả đến tâm hồn
của học sinh? Đó là câu hỏi mà không ít giáo viên tâm huyết với nghề từng trăn
trở. Để tìm lời giải cho câu hỏi trên giáo viên hơn ai hết sẽ là người tìm ra những
phương pháp tối ưu trên cơ sở thực tiễn quá trình dạy học của bản thân. Với
mong muốn tìm cho mình giải pháp phù hợp trong quá trình dạy học, tôi đã
nghiêm túc tìm hiểu bộ sách giáo khoa Ngữ Văn THCS. Đặc biệt trong hai năm
học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy lớp 9, tôi rất quan tâm đến những tác
phẩm thơ trữ tình hiện đại trong chương trình Ngữ Văn lớp 9. Đây là loại hình
tác phẩm được cấu trúc bởi một kiểu ngôn ngữ đặc biệt, khác hẳn với ngôn ngữ
đời thường và ngôn ngữ văn xuôi. Tác phẩm trữ tình là tiếng nói của tình cảm
mãnh liệt, nó đến với người đọc một cách tự nhiên mà nồng nàn, giản dị mà sâu
sắc khó quên.
- Mục đích nghiên cứu
Do đặc trưng thẩm mĩ và giá trị của nó mà thơ trữ tình hiện đại chiếm một
công của đề tài.
+ Cuối cùng là tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm cho cả quá trình.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Nhà văn Nga Mac-xim Gor-ki từng nói: “Văn học là nhân học”. Thật
vậy, tõ xưa đến nay, trong việc đào tạo con người, văn chương vẫn được sử dụng
như một công cụ đắc hiệu, không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của văn
chương trong việc xây dựng và giữ gìn đạo đức xã hội. Có thể nói, văn chương
chính là món ăn tinh thần, nuôi dưỡng tâm hồn con người. Đời sống tinh thần
của con người rất đa dạng và phong phú, biểu hiện ở khát khao yêu thương, biết
yêu thương, được ước mơ, được thưởng thức cái hay cái đẹp và được cống
hiến…Và một trong những con đường dẫn con người đến niềm vui trong cuộc
sống là sự thưởng thức cái hay, cái đẹp của cuộc đời qua những áng văn thơ, dù
người đó đã, đang và sẽ theo ngành nghề nào đi nữa.
Tác phẩm nghệ thuật là kết quả của sự thăng hoa về tâm hồn và trí tuệ của
người nghệ sĩ, bởi vậy tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm,
song tác phẩm loại trữ tình lại thể hiện tình cảm theo một cách riêng. Nếu như ở
một tác phẩm tự sự, xây dựng bức tranh về cuộc sống trong đó các nhân vật có
đường đi và số phận của chúng, thì ở tác phẩm thơ trữ tình có khác. Nhà văn
Raxun Gamzatôp từng viết “Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ
cười trong sáng hay từ những giọt nước đắng cay”. Thật vậy, thơ trữ tình là
những tác phẩm mà ở đó thế giới chủ quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý
nghĩ đựơc trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu. Hay nói cách khác,
thơ trữ tình giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư, tâm trạng nỗi niềm.
Biết bao câu thơ đã được nâng lên thành lẽ sống như: “Sống là cho đâu chỉ nhận
riêng mình ” hay “Xẻ dọc trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy
tương lai” (Tố Hữu). Nội dung của tác phẩm thơ trữ tình được thể hiện gắn liền
với hình tượng nhân vật trữ tình. Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ, suy
nghĩ, cảm xúc, tâm hồn trong tác phẩm. Qua những trang thơ như gặp lại tâm
hồn người, tấm lòng người.
cách mạng được sáng tác trong khoảng thời gian từ sau cách mạng tháng Tám
đến nay, có giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật cao. Từ những kiến thức
được cung cấp khi tìm hiểu các bài thơ này, học sinh có thể hiểu sâu hơn về
những tình cảm, tư tưởng và lí tưởng sống đẹp của con người Việt Nam trong
suốt hai cuộc kháng chiến và trong cuộc sống hoà bình dựng xây đất nước, giúp
các em bồi đắp những tình cảm trong sáng trong tâm hồn, đồng thời cũng tạo
tiền đề cho các em có thể làm tốt kiểu bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
trong phân môn Tập làm văn lớp 9.
Tuy nhiên, qua điều tra tìm hiểu thực tế tôi nhận thấy việc dạy học tác
phẩm thơ trữ tình hiện đại lớp 9 hiện nay đối với cả giáo viên và học sinh đang
có nhiều lúng túng.
Năm học 2015- 2016
3
Sáng kiến kinh nghiệm
- Về phía học sinh: Trong những năm trở lại đây, do sự phát triển như vũ
bão của khoa học kĩ thuật, cuộc sống con người nói chung dần trở nên thực
dụng. Khi con người ta càng đầy đủ về đời sống vật chất thì lại càng nghèo nàn
về đời sống tâm hồn. Học sinh cũng không tránh khỏi xu thế ấy. Các em lười và
ngại học môn Văn, cho rằng đó chỉ là môn học thuộc, thiên về lí thuyết thông
thường, ít có hứng thú trong học tập. Bên cạnh đó ở địa bàn xã…. nơi tôi công
tác, học sinh phần lớn là con em các gia đình thuần nông, sự định hướng và tạo
điều kiện của cha mẹ đối với việc học của con cái còn rất hạn chế. Ngoài ra, do
đặc trưng sinh lí của lứa tuổi mới lớn, các em học sinh lớp 9 cũng thiếu tập trung
trong học hành. Riêng môn Văn lại càng tỏ ra vội vàng, hấp tấp, ít có chiều sâu.
Tôi đã điều tra vào đầu năm học với việc học thuộc đoạn trích “ Kiều ở
lầu Ngưng Bích” trích truyện Kiều–Nguyễn Du.
Sáng kiến kinh nghiệm
- Kết quả khảo sát thực trạng:
Từ thực trạng trên, đầu năm học 2014 – 2015 khi đựơc phân công giảng
dạy chương trình Ngữ Văn lớp 9, tôi đã tiến hành điều tra cơ bản:
+ Tổng số học sinh khối 9: Bảng 2 – Phụ lục
+ Chất lượng môn Ngữ văn qua khảo sát đầu năm: Bảng 3 – Phụ lục
Sau khi điều tra cơ bản, tôi thấy 2 lớp 9 tôi giảng dạy 9A và 9B, có số
lượng học sinh tương tự nhau, lực học của học sinh trong lớp cũng tương đương.
Các em chưa thực sự hứng thú với môn Ngữ văn, cả hai lớp không có em nào
đạt điểm giỏi, số bài điểm khá chỉ đạt 14,0% trong khi có tới 20,0% bài khảo sát
bị điểm yếu - kém.
3. Các biện pháp để tổ chức thực hiện:
3.1. Gây hứng thú học tập trong giờ dạy học tác phẩm thơ trữ tình :
Đến với thơ trữ tình là đến với thế giới của tâm hồn, tình cảm hình tượng
trong thơ trữ tình là hình tượng tâm tư. Ngoài thông điệp mà tác giả muốn gửi
tới người đọc còn có cả những rung động tinh tế lan toả, thẩm thấu trong tâm
hồn người đọc. Để học sinh có hứng thú đọc tác phẩm, tiếp nhận được những giá
trị trong tác phẩm cũng như có sự tìm tòi phát hiện riêng về tác phẩm, các em
đến với tác phẩm một cách chủ động bằng những nhu cầu tình cảm từ bên trong,
giáo viên phải tác động bằng nhiều hình thức. Mục tiêu của giờ dạy học tác
phẩm thơ trữ tình là làm sao để các em sống với tác phẩm bằng cả tâm hồn
mình, tiếp nhận kiến thức về tác phẩm bằng những rung động sâu xa mãnh liệt
của thế giới nội tâm sâu kín nhất. Để khơi gợi được hứng thú học tập cho các em
khi đến với tác phẩm thơ trữ tình lớp 9, tôi đã thực hiện các biện pháp sau:
3.1.1. Lời giới thiệu vào bài cuốn hút:
Trên thực tế, đây là phần giáo viên ít đầu tư hoặc nếu có thì cũng chỉ qua
loa. Trong phương pháp giảng dạy mới tôi thấy vấn đề này cũng không được đề
cập tới. Theo tôi nghĩ cần phải xem xét lại và có cái nhìn đúng đắn về vấn đề này.
Giờ dạy học văn nói chung và giờ dạy học tác phẩm thơ trữ tình nói riêng sẽ giảm
rất nhiều hứng thú cho người học với cách vào bài như nhiều giáo viên vẫn làm
thơ Nguyễn Duy, bài “Ánh trăng”.
Hoặc khi dạy học bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến
Duật, tôi đã vào bài như sau:
“Dẫu chiến tranh đã đi qua, cuộc kháng chiến chống Mĩ đã khép lại
hơn 30 năm nhưng mỗi khi nhắc lại thời kì oanh liệt ấy trong kí ức của mỗi
người dân Việt nam như sống lại khí thế của tuổi trẻ một thời “Xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước- Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Trong hơn 20
năm kháng chiến trường kì, tuyến đường Trường Sơn đã trở thành huyết
mạch nối hai miền Nam- Bắc, thành biểu tượng cho sức mạnh tuổi trẻ thời
đại Hồ Chí Minh. Bằng chính sự trải nghiệm của mình cùng đồng đội, Phạm
Tiến Duật đã khắc hoạ chân dung thế hệ trẻ Việt nam qua hình tượng người
chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn khói lửa. “Bài thơ về tiểu đội xe không
kính” tiêu biểu cho phong cách thơ của ông.
Sau mỗi lời vào bài trong mỗi tiết dạy, tôi thấy học sinh đã thực sự chú ý
hơn đến bài mới, không khí lớp học có sự lắng đọng đầy chất văn, cả thầy và trò
đã có tâm thế sẵn sàng bước vào tìm hiểu tác phẩm.
Như vậy, lời vào bài gây được sự tò mò, thích thú đặc biệt là kích thích
được hứng thú học tập của các em sẽ làm cho chất lượng tiết dạy tăng thêm rõ
rệt. Bởi vậy giáo viên cần đầu tư nhiều hơn cho lời vào bài, cần đánh giá đúng
tầm quan trọng và hiệu quả mà nó mang lại.
3.1.2 Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm:
Đọc diễn cảm cũng có thể gọi là đọc rung động thẩm mĩ bởi đọc diễn cảm
là diễn tả sự cảm thụ chứ không chỉ dừng ở mức thể hiện cảm xúc. Đọc diễn
cảm còn thể hiện cả sự hiểu biết của người đọc, sự tri âm với tác giả. Việc làm
Năm học 2015- 2016
6
Sáng kiến kinh nghiệm
Con cò Đồng Đăng
Cò một mình cò phải kiếm lấy ăn
Con có mẹ con chơi rồi lại ngủ”
Giáo viên hướng dẫn đọc đoạn thơ trên sao cho các em cảm nhận được
trong thơ như có nhạc - đó là làn điệu dân ca mượt mà lay động; trong thơ như
có hoạ - có chấp chới cánh cò bay trên nền trời xanh thẳm, trên ruộng đồng xứ
sở quê hương. Đồng thời trong thơ như có cả vị ngọt lành của dòng sữa mẹ
dưỡng nuôi, của tình mẹ yêu thương, che chở, vỗ về.
Năm học 2015- 2016
7
Sáng kiến kinh nghiệm
Như vậy có thể thấy, giáo viên sử dụng thích đáng biện pháp đọc diễn
cảm sẽ tạo cho học sinh những ấn tượng tươi mới, những xúc động mạnh mẽ về
tác phẩm, đồng thời có khả năng kích thích liên tưởng, tưởng tượng tạo sự thâm
nhập thuận lợi vào thế giới nghệ thuật của văn bản. Cho nên đây là biện pháp có
vai trò quan trọng trong việc rèn luyện cảm thụ văn học cho học sinh, gợi sự
hứng thú cho cho các em tiếp nhận văn bản.
3.1.3. Sử dụng đồ dùng trực quan:
Để góp phân gây hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học thơ trữ tình
hiện đại, tôi còn sử dụng một số đồ dùng trực quan gắn với đặc trưng của bài
học như tranh ảnh, phim tư liệu, băng đĩa nhạc nhằm tác động trực tiếp đến tri
giác của các em từ đó các em có ấn tượng rõ hơn về văn bản.
Chẳng hạn, khi dạy học bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của
phạm Tiến Duật, tôi dùng máy chiếu PowerPoint cho các em xem một đoạn
phim tư liệu ngắn về những đoàn xe vận tải trên tuyến đường Trường Sơn thời
chống Mĩ. Điều này giúp các em hình dung rõ hơn hiện thực chiến tranh và khí
Sáng kiến kinh nghiệm
Hay cũng có thể vận dụng những câu hỏi có tính sáng tạo hơn, dựa vào
việc khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng của học sinh mà tạo sự đồng cảm, thể
nghiệm văn bản. Ví dụ để bình giá khổ thơ cuối của bài “Ánh trăng” của
Nguyễn Duy, muốn nhấn mạnh sự day dứt ân hận của một người vừa thức tỉnh,
nhận ra tất cả sự vô tâm bội bạc của chính mình, giáo viên hỏi:
- Em cảm nhận như thế nào về cái “giật mình” của nhân vật trữ tình?
Những câu hỏi dạng này khiến học sinh phải huy động kinh nghiệm của
bản thân để soi sáng cảm xúc của nhân vật trong thơ, từ đó mà có sự đồng cảm
với những cung bậc cảm xúc ấy.
Bên cạnh đó giáo viên có thể dùng những câu hỏi khơi gợi trí tưởng
tượng của học sinh. Văn học dùng ngôn từ làm chất liệu, do tính chất phi vật
thể của ngôn ngữ nên hình tượng của văn học không thể tác động trực tiếp đến
giác quan của người đọc mà chỉ tác động thông qua liên tưởng, tưởng tượng. Bởi
vậy thưởng thức văn học phải huy động trí tưởng tượng. Hình thức tưởng tượng
để làm nên bức tranh đời sống trong văn bản thường được gọi là tưởng tượng tái
tạo, để huy động hình thức tưởng tượng này của học sinh vào việc cảm thụ văn
bản tôi đã đặt các câu hỏi với dạng như sau:
Thí dụ khi dạy bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh, tôi hỏi các em:
- Em hình dung thế nào về bức tranh giao mùa từ hạ sang thu được tác
giả thể hiện trong tác phẩm?
Ở đây hoàn toàn không phải việc phân tích bức tranh mà là yêu cầu học
sinh phải có cái nhìn bên trong thầm kín, phải hình dung thấy bức tranh đó trong
đầu mình và trong chừng mực nhất định là phải sống với nó, đồng cảm với nó.
Khả năng tưởng tượng càng cao thì sự thâm nhập vào văn bản càng sâu sắc và
người đọc có xu hướng quên đi thế giới thực tại, sống bằng thế gới tưởng tượng
do văn bản sáng tạo nên.
Nhưng tưởng tượng trong cảm thụ thơ trữ tình còn có hình thức khác, đó
là sự nhập thân vào nhân vật trong thơ trữ tình, làm sống lại trong chính bản
trực quan bảng sẽ làm giảm sự cuốn hút của lời nói. Do đó cần chú ý đúng mức
tới trực quan lời nói.
Vấn đề là ở chỗ: giáo viên nói vào lúc nào và nói như thế nào? Nên nhớ
rằng nhiệt tình của giáo viên không thể hiện ở chỗ nói to, nói nhanh, cũng không
chỉ ở tư cách bên ngoài mà ở ngọn lửa nội tâm, ở nhiệt tình tâm huyết của mình.
Dĩ nhiên lời bình của giáo viên phải xác đáng, trong sáng và trôi chảy. Song sức
mạnh của lời nói còn phụ thuộc nhiều vào cảm xúc của người nói. Chỉ khi mang
hơi ấm của lòng người, lời nói mới toả xa, toả sâu và toả sáng. Cảm xúc đó phải
là chân thực xuất phát từ bài thơ. Không có cảm xúc thực sự thì lời nói sẽ giả tạo.
Trong dạy học thơ trữ tình hiện đại lớp 9, tôi thấy việc giáo viên dùng lời
bình hấp dẫn có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện năng lực cảm thụ cho học
sinh. Trước hết nó khiến cho học sinh có những ấn tượng khó phai mờ về vẻ đẹp
văn chương, sau đến biết thẩm định những điểm sáng thẩm mĩ trong văn bản.
Biện pháp này cho phép giáo viên phát huy phẩm chất nghệ sĩ của mình. Và
cũng vì thế kích thích mầm sáng tạo của học sinh, tạo nên sự giao lưu tình cảm
trong giờ Văn. Nhưng tuyệt nhiên giáo viên không lạm dụng biện pháp này bởi
nhiệm vụ chính của giáo viên là tổ chức để học sinh cảm thụ và lĩnh hội giá trị
của văn bản chứ không phải là trổ tài trình diễn để thôi miên học sinh. Do đó,
giáo viên chỉ tung ra lời bình khi cần khắc sâu ấn tượng cho học sinh, tạo nên
những khoái cảm thẩm mĩ. Lời bình vì thế trước hết phải giàu cảm xúc, là sản
phẩm của sự xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của văn bản. Mặt khác nó phải độc
đáo, giáo viên phải chọn cách nói ấn tượng, ưu tiên lối diễn đạt giàu hình ảnh
nhằm tác động mạnh đến học sinh. Hơn nữa giáo viên chọn bình những chi tiết
nào là điểm sáng nghệ thuật của tác phẩm và việc bình giá nó giúp học sinh nắm
được thần thái, linh hồn của văn bản. Tôi muốn nói đến những lời bình có khả
năng đánh thức liên tưởng của học sinh, nó tựa con đường dẫn học sinh thâm
nhập tự nhiên vào thế giới nghệ thuật của văn bản.
Năm học 2015- 2016
10
1. Kiến thức: Giúp hs cảm nhận được tình cảm thắm thiết của cha mẹ đối
với con cái.
- Tình yêu quê hương sâu nặng cùng niềm tự hào với sức sống bền bỉ,
mạnh mẽ của dân tộc mình qua lời nói với con của người cha.
- Bước đầu hiểu được cách diễn tả độc đáo, giàu hình ảnh cụ thể, gợi cảm
trong thơ của tác giả người dân tộc Tày.
2. Kĩ năng: Rèn kĩ năng đọc diễn cảm, tìm hiểu, phân tích thơ tự do, thơ
tiếng dân tộc ít người dịch ra tiếng Việt.
3. Thái độ: Bồi đắp tình cảm gia đình, tình yêu và lòng tự hào về những
truyền thống, bản sắc tốt đẹp của quê hương đất nước.
B. CHUẨN BỊ
- Giáo viên: Soạn giáo án, bảng phụ, chân dung nhà thơ.
- Học sinh: Chuẩn bị bài ở nhà
Năm học 2015- 2016
11
Sáng kiến kinh nghiệm
C.TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1. Hoạt động khởi động:
* Kiểm tra bài cũ: ? Đọc thuộc lòng và diễn cảm bài thơ “Sang thu”. Nêu
cảm nhận của em về 2 câu thơ :
“Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hang cây đứng tuổi”
* Giới thiệu bài mới:
Tình yêu thương con cái, mong ước thế hệ sau tiếp nối xứng đáng, phát
huy truyền thống của tổ tiên, quê hương là một tình cảm cao đẹp của con người
Việt Nam ta từ bao đời nay. Tình cảm ấy được Y Phương – một tác giả người
dân tộc Tày thể hiện rất chân thực và giản dị qua bài thơ “Nói với con”. Chúng
- Đọc
- GV đọc mẫu một lần, sau đó gọi HS
đọc lại và nhận xét.
- GV hướng dẫn hs tìm hiểu từ khó.
- Từ khó
?Theo em, căn cứ vào nội dung và d. Bố cục: 2 phần:
Năm học 2015- 2016
12
Sáng kiến kinh nghiệm
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
mạch cảm xúc, văn bản này có bố cục
như thế nào? Hãy nêu nội dung chính
của mỗi phần đó?
GV gợi dẫn: Bố cục bài thơ thể hiện rõ
ý đồ của nhà thơ. Bố cục đi từ tình
cảm gia đình mà mở rộng ra tình cảm
quê hương, từ kỉ niệm gần gũi mà
nâng lên thành lẽ sống.
+ 11 câu đầu : Cội nguồn sinh dưỡng
của người con.
+Còn lại : Nét đẹp con người quê
hương và mong ước của người cha.
vui mừng của cha mẹ. Không khí gia
đình tràn đầy hạnh phúc mà ở đó cha
mẹ luôn chăm chút cho con, thể hiện
niềm vui của mình trên từng bước đi
của con. Con lớn lên từng ngày trong
tình yêu thương, nâng đón và mong
chờ của cha mẹ.
b. Sự đùm bọc cuả quê hương:
?Ngoài tình yêu thương của cha mẹ, - Đan lờ cài nan hoa
con còn được nuôi dưỡng trong điều
Vách nhà ken câu hát
kiện nào? Tìm chi tiết nói rõ điều đó ?
Rừng cho hoa
- Hs: Sự đùm bọc của quê hương.
Con đường cho tấm lòng.
?Tác dụng của từ “Cài , ken” trong câu
thơ đó là gì ?
Năm học 2015- 2016
13
Sáng kiến kinh nghiệm
Hoạt động của GV và HS
- Hs: Động từ thể hiện sự gắn bó đoàn
kết.
?Từ “cho” được lặp lại 2 lần có ý
nghĩa gì?
- Hs : Quê hương nuôi dưỡng tâm hồn
bảng phụ, phân tích một số hình ảnh.
Nội dung cần đạt
- Con được trưởng thành trong cuộc
sống lao động cần cù, vui tươi, giữa
thiên nhiên thơ mộng nghĩa tình.
2. Nét đẹp của con người quê hương
và mong ước của người cha:
a. Những đức tính tốt đẹp của người
đồng mình:
- Cao đo nỗi buồn, xa nuôi chí lớn
Không chê nghèo đói.
→ Sống vất vả mà nghĩa tình, bền bỉ
gắn bó với quê hương dẫu còn cực
nhọc.
- Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh.
→Sống mạnh mẽ, khoáng đạt, nghị lực.
Năm học 2015- 2016
14
Sáng kiến kinh nghiệm
Hoạt động của GV và HS
ảnh thơ? (nghe con, con ơi)
?Qua phân tích, em có nhận xét gì về
tình cảm của cha dành cho con? Theo
em, điều lớn nhất mà cha muốn truyền, → NT: Giọng điệu tha thiết, trìu mến,
muốn giáo dục con là gì?
hình ảnh thơ mộc mạc, khái quát. Qua
- Hs: Sống có ý chí, yêu quê hương...
đó người cha muốn trao gửi cho con
GV bình: Nếu phần một bài thơ là niềm tin yêu và khát vọng, mong ước
khúc hát nhẹ nhàng, tươi vui với hoa con tự tin vững bước trên đường đời.
ngan ngát, với tiếng ríu rít nói cười,
với bao nghĩa tình thơm thảo, thì phần
hai là một bản hành khúc vừa thiết
tha, vừa mạnh mẽ mang âm hưởng của
Năm học 2015- 2016
15
Sáng kiến kinh nghiệm
Hoạt động của GV và HS
thác ghềnh, sông suối, mang theo cả
hơi thở, chí khí, niềm tin và sức mạnh
của con người quê hương. Qua đó
người cha muốn trao gửi cho con niềm
tin yêu và khát vọng, mong ước con tự
tin vững bước trên đường đời dài rộng
với chí khí mạnh mẽ và tâm hồn lớn
lao.
* Ghi nhớ ( SGK)
D. HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC BÀI Ở NHÀ
- Học thuộc lòng bài thơ.
- Nắm vững nội dung bài học
- Chuẩn bị bài: Nghĩa tường minh và hàm ý.
E. RÚT KINH NGHIỆM GIỜ DẠY.
**********************************
4. Hiệu quả đạt được.
Sau khi học xong bài thơ “Nói với con”, tôi yêu cầu các em suy nghĩ và
làm bài tập về nhà:
Năm học 2015- 2016
16
Sỏng kin kinh nghim
Bi tp: Trỡnh by nhng suy ngh v cm xỳc ca em v bi th Núi
vi con?
Khi kim tra bi vit ca cỏc em, tụi nhn thy nhiu em ó thc s thm
thu c cỏi hay, cỏi p ca tỏc phm, cm nhn v tỡnh cha con, v p tõm
hn ca ngi ng mỡnh, v tỡnh cm gia ỡnh, quờ hng i vi cuc i ca
mi con ngi.
Sau khi vn dng cỏc bin phỏp trờn õy vo dy hc cỏc tỏc phm th tr
tỡnh hin i lp 9, kim tra nng lc cm th ca hc sinh v thỏi sng,
cm xỳc trong tõm hn cỏc em, tụi ó tin hnh ra bi kim tra Bi Tp lm
vn s 7 nh sau:
Cõu 1(2 im): Vit mt on vn ngn nờu cm nhn ca em v kh th
sau trong bi th Ving lng Bỏc ca Vin Phng:
02
8,0
15
60,0
8
32,0
0
0
Đối chiếu kết qu bi vit s 7 ca hai lớp 9 vi kt qu bi kho sỏt u nm,
tôi nhận thấy kết quả bài kiểm tra s 7 cao hơn hẳn so với kt qu kho sỏt ban
u.
Qua quá trình áp dụng thử nghiệm các biện pháp nhằm bồi dỡng tâm hồn
học sinh thông qua dạy học tác phẩm thơ trữ tình hiện đại lớp 9 và sự nỗ lực
trong suốt quá trình giảng dạy, kết quả chất lợng môn Ngữ Văn khối 9 cuối năm
học 2014 - 2015 nh sau:
Lớp
S
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
ĩ
Nh vy, vi kt qu cht lng mụn Ng Vn khi 9 cui nm hc
2014 - 2015, so vi kt qu kho sỏt u nm cú nõng lờn rừ rt, iu ú cho
thy ti th nghim ca tụi ó thnh cụng. Bi vy trong nm hc mi
2015 - 2016 ny, tụi trao i vi t chuyờn mụn v kinh nghim qua vic ỏp
Nm hc 2015- 2016
17
Sáng kiến kinh nghiệm
dụng đề tài của năm học trước. Được sự ủng hộ và chỉ đạo của tổ trưởng
chuyên môn, tôi đã tiếp tục vận dụng với cả khối l ớp 9 tôi trực tiếp giảng dạy.
Đến nay kết quả môn Ngữ Văn lớp 9 học kì I cũng rất tiến bộ.
* Kinh nghiệm từ quá trình vận dụng đề tài “Bồi dưỡng tâm hồn học
sinh thông qua dạy học tác phẩm thơ trữ tình hiện đại lớp 9”:
Đề tài của tôi bước đầu có được sự thành công như trên nhờ sự cố gắng
của cả giáo viên và học sinh.
- Về phía học sinh: Đa số các em ngoan, biết vâng lời, ý thức học tập tốt.
Sau khi được cô giáo dặn dò, hướng dẫn cách học bài ở nhà, chuẩn bị bài trước
khi đến lớp, các em chịu khó chủ động học tập theo sự hướng dẫn của cô giáo.
Bởi vậy việc tìm hiểu bài trên lớp diễn ra thuận lợi. Trong giờ học, các em
không còn phụ thuộc sách vở hay tài liệu mà tự tin trình bày cảm nhận, suy nghĩ
của bản thân mình.
- Về phía giáo viên: Có được kết quả như trên, bản thân tôi thực sự tâm
huyết với nghề, tôi luôn trăn trở và suy nghĩ về thiên chức của một cô giáo dạy
Văn: người kĩ sư tâm hồn, người dẫn dắt các em bước vào thế giới của cảm xúc,
của giai điệu thơ ca để làm phong phú vốn sống, vốn hiểu biết và năng lực cảm
thụ của bản thân. Bởi vậy tôi luôn tìm tòi, đọc các tài liệu liên quan đến phương
pháp đổi mới trong dạy học để tìm ra phương pháp dạy học thích hợp với đối
tượng học sinh và đặc trưng bộ môn. Đặc biệt với việc bồi dưỡng tâm hồn học
Ngi giỏo viờn dy th phi thc s yờu th, ham thớch v cú k nng
tỡm hiu, phõn tớch, bỡnh giỏ v cú k hoch c th hng dn cỏc em hc tp
cú hiu qu. Bờn cnh ú, ngi giỏo viờn phi khộo lộo tỏc ng vo tỡnh cm
ca hc sinh, khi dy nhng tỡnh cm cú sn trong cỏc em, to iu kin cho
cỏc em nõng cao nng lc cm th v bc l kh nng ca chớnh mỡnh.
Thi lng quy nh trờn lp l bt buc song cha th cho vic dy
hc sõu hn v tỏc phm, bi vy giỏo viờn nờn xin ý kin ch o ca Ban giỏm
hiu nh trng t chc cỏc bui ngoi khoỏ Ng vn theo chuyờn b
sung kin thc v rốn luyn k nng cho hc sinh.
Vi nhng bin phỏp trờn, bc u tụi ó thu c kt qu kh quan.
Nhng do iu kin nghiờn cu cũn hn hp, ti ca tụi chc chn s khụng
trỏnh khi hn ch. Rt mong c s úng gúp ý kin ca cỏc nh chuyờn mụn
v cỏc ng nghip.
Tụi xin chõn thnh cm n!
Xác nhận của thủ trởng đơn vị
Thọ Xuân, ngày 06 tháng 04 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của ngời khác.
Nm hc 2015- 2016
19