1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp giáo dục có vai trò quan trọng trong chiến lược xây dựng con
người, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Sự nghiệp giáo dục có
nhiệm vụ đào tạo các thế hệ công dân mới có đầy đủ tài năng phẩm chất bản lĩnh
để đưa đất nước tiến lên đuổi kịp trào lưu phát triển của thế giới. Không thể thiết
kế chiến lược nếu không đặt giáo dục đúng vào vị trí của nó trong đời sống hiện
đại. Việc đào tạo ra những thế hệ trẻ có đầy đủ Đức-Trí-Thể-Mỹ đòi hỏi giáo
dục phải đồng bộ cả về Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội.
Nghị quyết 29 của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 về Giáo dục
cũng đã chỉ rõ: đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề
lớn, cốt lõi, cấp thiết từ quan điểm chỉ đạo đến nội dung phương pháp, chuyển
quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng
lực phẩm chất của người học, phải tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực, chủ động sáng tạo, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều,
ghi nhớ máy móc. Như vậy, mục tiêu giáo dục đã chuyển từ chủ yếu trang bị
kiến thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc
biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn. Phương pháp giáo dục phổ thông
cũng được đổi mới theo hướng “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học”. Đào tạo một thế hệ học sinh hiện đại, hiện đại từ tư duy đến
cách nói năng ứng xử”.
Trên thực tế giảng dạy có rất nhiều hiện tượng và mâu thuẫn đang tồn tại
đó là trong khi trang bị các các kĩ năng nghe –nói – đọc –viết thì người dạy chỉ
chú trọng đến kĩ năng đọc, viết mà chưa tập trung rèn luyện kĩ năng nói cho học
sinh, dẫn đến tình trang học sinh chưa tự tin trong giao tiếp, hạn chế trong cách
ứng xử. Rèn luyện kĩ năng nói rất quan trọng nhưng thời lượng giành cho
chương trình ít. Ở mỗi thể loại chỉ có từ 2->3 tiết luyện nói.
Bên cạnh đó chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu sâu về phương pháp dạy
kiểu bài này, sách giáo viên cũng chưa có những biện pháp cụ thể để hướng dẫn
thực hiện quá trình luyện nói cho học sinh. Cũng đã có một số sáng kiến đề cập
đến các biện pháp tuy nhiên khi ứng dụng vào thực tế còn rất nhiều những
- Phương pháp thực nghiệm.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận.
Hiện nay các nước trên thế giới rất coi trọng dạy học theo quan điểm giao
tiếp. Đây là một trong những tư tưởng quan trọng của chiến lược dạy học các
môn ngôn ngữ ở trường phổ thông, nội dung quan điểm này là lấy hoạt động
giao tiếp là một trong những căn cứ để hình thành và phát triển hoạt động ngôn
ngữ mà cụ thể là năng lực nghe, nói, đọc, viết cho người học. Bên cạnh đó quan
điểm về dạy học tích hợp, cũng khẳng định việc rèn luyện các kĩ năng nghe, nói,
đọc, viết là rất quan trọng qua 4 kỹ năng này hình thành năng lực cảm thụ, năng
lực bộc lộ, biểu đạt tư tưởng, tình cảm bằng ngôn ngữ nói, viết Tiếng Việt cho
HS quan tâm hơn đến việc hình thành năng lực nói và năng lực làm văn. Nếu
như nghe, đọc là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin thì nói
và viết là hai kĩ năng quan trọng của bộc lộ và truyền đạt thông tin. Rèn luyện
được kĩ năng này sẽ dạy đúng theo đặc trưng tính thực hành của phân môn Tập
làm văn đạt đến mục đích dạy học hiệu quả nhất.
Có rất nhiều con đường giao tiếp khác nhau để đạt tới mục đích trong đó
ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người. Nếu người
thầy đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn học sinh chủ động khám phá chiếm lĩnh
các tác phẩm văn chương thì người học phải tự mình bộc lộ hiểu biết phải biết tư
duy thành lời- ngôn bản.
Trong sự phát triển của xã hội hiện đại bất kì ngành nghề nào cũng cần
phải có có kỹ năng truyền đạt. Muốn cho người nghe hiểu được thì phải biết
cách truyền tải cho tốt nội dung không còn con đường nào khác là phải trình bày
kĩ năng nói lưu loát, phải bộc lộ qua nét mặt cử chỉ…Vì thế, luyện nói là quá
trình rất quan trọng trong việc dạy học văn, góp phần năng cao việc học tốt bộ
môn Ngữ văn.
2
SL
%
SL
%
7 (35)
6
17.1
29
82.9
Qua bảng số liệu trên tôi không khỏi không trăn trở về khả năng nói ở các
em. Hầu như các em chưa mạnh dạn tự tin trong khi thực hiện hiện bài nói của
mình. Nhiều em có nội dung bài nói tốt nhưng khi truyền đạt đến người nghe
còn ấp úng không trôi chảy. Năng lực nói chưa tốt nghĩa là khả năng tư duy chưa
mạch lạc. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập các môn học khác.
Bởi lẽ khả năng truyền đạt giao tiếp vô cùng quan trọng đến việc thực hiện mục
đích giao tiếp.
Từ kết quả đó đã cho thấy một thực trạng về chất lượng tiết luyện nói cho
học sinh lớp 7 đó là:
Xuất phát từ thực tế khách quan: Do chương trình, thời lượng giành cho
các tiết luyện nói chưa nhiều. Học sinh chưa được rèn luyện nhiều các kĩ năng
luyện nói
Việc dạy của giáo viên: trong nhận thức của giáo viên cũng xem các tiết
luyện nói là dạy theo khô khan, khó dạy.Tâm lý như vậy nên đến tiết luyện nói
3
Để khắc phục tình trạng trên, tôi mạnh dạn đổi mới, lựa chọn một số cách
thức tổ chức giờ dạy luyện nói văn biểu cảm ở chương trình lớp 7 nhằm phần
nào đó khắc phục được tình trạng mà chúng ta đang quan tâm.
2.3. Các giải pháp, biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung và
phân môn Tập làm văn nói riêng, giờ dạy luyện nói có vai trò quan trọng trong
việc hình thành kĩ năng nói cho học sinh bậc THCS. Chúng ta đều biết lứa tuổi
học sinh trung học cơ sở đang ở độ tuổi trưởng thành, vốn ngôn ngữ của các em
còn rất ít ỏi. Đặc biệt do yếu tố tâm lí các em hay rụt rè xấu hổ và nhạy cảm
trước thái độ của những người xung quanh. Năng lực nói của học sinh lúc này
còn hạn chế nên điều đầu tiên có ý nghĩa quyết định đó là phải luyện cho học
sinh được nói, được trưởng thành hơn sau mỗi lần trên lớp. Đây phải là việc làm
thường xuyên hình thành kĩ năng cho học sinh.
4
Có rất nhiều các giải pháp, biện pháp khác nhau để rèn luyện các kĩ năng
nói cho học sinh. Trong quá trình dạy bản thân tôi đúc rút một số giải pháp, biện
pháp sau:
2.3.1 Giải pháp chung: Nghiên cứu kĩ chương trình, nội dung các tiết
luyện nói có trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THCS
Nghiên cứu kĩ sách giáo viên để nắm được mục tiêu của kiểu bài dạy luyện nói
Nghiên cứu các tài liệu tham khảo để đề ra phương pháp cũng như các
biện pháp tổ chức cho học sinh trong tiết học các kiểu bài luyện nói
Nắm vững tiến trình các bước đi của tiết luyện nói.
Phối hợp giữa vai trò chủ động, tích cực của học sinh và vai trò hướng
dẫn của giáo viên.
Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức học tập theo kiểu học sinh được
5
Bước 1: Chọn đề Với tiết 40 Luyện nói: văn biểu cảm về sự vật, con
người các em đều chọn đề 1: Cảm nghĩ về thầy, cô giáo những “người lái đò”
đưa thế hệ trẻ” “cập bến” tương lai. Đề 4 : cảm nghĩ về món quà tuổi thơ. Tiết
55,56 các em lựa chọn bài “cảnh khuya”
Bước 2: Lựa chọn hình thức nói: lựa chọn cách nói độc lập hay cặp đôi :
đây là biện pháp nhằm đa dạng cách nói để tránh sự nhàm chán cho người nghe.
Bước 3: Lưạ chọn nội dung: Lựa chọn những ý chính trong bài luyện nói
cần thể hiện trong bài luyện nói. Với đề 1 xác định được đối tượng biểu cảm là
thầy cô. Những kỉ niệm nào về thầy cô làm em nhớ mãi. Từ kỉ niệm đó em bộc
lộ cảm xúc gì với thầy cô của mình.
Với đề 4: đó là món quà gì của tuổi thơ, món quà đó do ai tặng? Người
tặng quà đã gửi gắm gì qua món quà? Cảm xúc của em khi nhận được món quà?
Tiết 55- 56 Luyện nói phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm văn học tôi yêu
cầu học sinh tìm, hình dung, tưởng tượng khung cảnh thiên nhiên và tình cảm
của tác giả Hồ Chí Minh. Xác định sẽ nêu cảm nghĩ về chi tiết nào? Cảm nghĩ
về tác giả của bài thơ.
* Yêu cầu khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà
*Đối với giáo viên
Về nội dung: Giáo viên cần định hướng cho học sinh chuẩn bị thật cụ thể,
rõ ràng cả về nội dung và cách thức phải trả lời được câu hỏi: chuẩn bị cái gì?
chuẩn bị như thế nào? bằng cách nào?
Cần hướng dẫn học sinh xác định được đề tài nói: Nói cái gì? Xác định
mục đích giao tiếp, cách thức giao tiếp
Về thời gian: Thời gian để hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước bài ở nhà
giáo viên có thể yêu cầu trước từ 3 đến 5 ngày.
* Đối với học sinh: học sinh phải chuẩn bị bài theo sự hướng dẫn của cô giáo.
phải kiên trì, uốn nắn các em. Dù bước đầu các em còn nhút nhát nhưng quá
trình tập luyện cũng sẽ thành công để nhân rộng nói tốt không chỉ ở một em mà
nhiều em.
Yêu cầu đối với học sinh: Phải tích cực gần gũi động viên bạn. Chịu khó
lăng nghe bạn nói. Không cười mỗi khi bạn ấp úng hay rụt rè, e thẹn.
2.3.2.3. Biện pháp 3: Tổ chức linh hoạt, sáng tạo các bước trong giờ luyện nói
Bước 1: Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
Thông thường giáo viên xác định đây là tiết thực hành nên sau phần giới
thiệu bài là giáo viên gọi học sinh thực hiện tiết luyện nói ngay trước lớp với
quan niệm nói nhanh để càng nhiều em được tham gia nói càng tốt. Nên thường
không kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh dẫn đến tình trạng các em không
được thống nhất cách nói chung cũng như không xác định được trọng tâm của
bài nói. Nên khâu đầu tiên có ý nghĩa quan trọng đó là cho học sinh báo cáo
phần chuẩn bị và giáo viên cho học sinh xác định lại yêu cầu của đề. Tuy nhiên
bước này cần làm nhanh, gọn, rõ ràng.
Cụ thể tôi tiến hành như sau:
Ví dụ tiết 40 Luyện nói văn biểu cảm về sự vật, con người tôi sẽ kiểm tra
hai vấn đề: Xác định đối tượng biểu cảm trong đề 1 và đề 4 ( Theo phần các em
đã đăng kí chuẩn bị) thì các em sẽ xác định đối tượng để biểu cảm trong bài
luyện nói của mình là thầy cô, trong đề 4 là món quà. Và đối tượng này sẽ xuyên
suốt trong quá trình thực hành bài nói. Kiểm tra sự chuẩn bị dàn bài ở nhà của
học sinh.
Hay tiết 55-56 Luyện nói phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học Tôi
cho học sinh xác định đối tượng để phát biểu cảm nghĩ là một tác phẩm văn học
cụ thể theo sự đăng kí lựa chọn của học sinh là bài: Cảnh khuya. Kiểm tra phần
triển khai một số đoạn văn của các em.
Bước 2. Thống nhất dàn bài trước khi luyện nói
Đây là bước rất quan trọng trong quá trình luyện nói. Dàn bài được xem
như là xương sống, mạch máu của toàn bài. Tuy nhiên đây là tiết luyện nói và
giáo viên cũng đã dặn dò học sinh ở nhà lập dàn bài và tập nói một vài lần khi ở
* Mở bài:
Đó là món quà gì? Ai tặng cho em. Tình cảm của em dành cho món quà đó.
* Thân bài :
- Cảm xúc của em khi nhận được món quà.
- Miêu tả về món quà.
- Ý nghĩa mà người tặng muốn gửi gắm qua món quà.
* Kết bài
- Khẳng định lại ý nghĩa của món quà.
Với tiết 55- 56 thì phần dàn bài đã có sẵn tôi sẽ cho học sinh thực hiện lại bắt
đầu từ phần tìm hiểu đề, tìm ý. Bổ sung các ý chi tiết trong phần mở bài, thân
bài, kết bài.
Bước 3: Nêu yêu cầu của tiết luyện nói
Đây là một bước nhỏ trong bài luyện nói nhưng cũng góp phần không
nhỏ đến sự thành công của bài luyện nói. Bởi học sinh có tìm ra được yêu cầu
của bài luyện nói thì mới nói đúng được theo yêu cầu. Để tiến hành tìm ra yêu
cầu luyện nói tôi thường cho học sinh xem một đoạn video về cách nói giữa một
bạn nói tốt và một bạn không nói tốt để từ đó học sinh rút ra những yêu cầu
chung nhất khi luyện nói. Phần lớn yêu cầu của bài luyện nói thường có những
yêu cầu chung như sau:
8
Về hình thức: Đủ ba phần.
Nội dung
* Mở đầu : - Giới thiệu tên, lớp, bài nói
* Nội dung chính : Biểu cảm về sự vật, con người (tiết 40)
- Cảm nhận chung về hình ảnh trong bài. Và cảm nhận về từng câu thơ
(tiết 55 -56)
* Kết thúc : Lời cảm ơn
* Vận dụng các yếu tố tưởng tượng, hồi tưởng, liên tưởng để biểu cảm.
thức biểu
cảm
Phong
cách
Ngôn ngữ,
cử chỉ, điệu
bộ…
1
2
….
Lời nhận xét của học sinh sau từng nhóm trình bày có thể là:
Tổ
Bố cục
Nội dung
Các yếu tố tự
sự ,miêu tả,
Hình thức biểu
cảm
Phong
cách
Ngôn
- Sử dụng hình
ảnh so sánh
:Người thầy như
người lái đò đò
2
Đầy đủ
ba
phần
Hai bạn nói
đúng nội
- Đúng đối
tượng biểu
cảm Món quà
tuổi thơ
Tự sư: Kể về
món quà được
nhận của hai
bạn
Miêu tả: đặc
điểm của món
quà
Hồi tưởng về
món quà. Sử
dụng so sánh,
liên tưởng
động học tập của học sinh tôi thấy học sinh đều chủ động nghe và vận dụng kiến
thức lí thuyết để nhận xét bài nói của bạn.Tất cả học sinh đều được làm việc
nghiêm túc, có chất lượng.
Bước 5: Bắt thăm hình thức nói.
Thông thường trong một giờ luyện nói thì giáo viên chỉ chọn hình thức
cho học sinh nói cá nhân. Gọi hết em này đến em kia lên bảng trình bày. Nhưng
để tiết luyện nói phong phú, sôi nổi tôi đã hướng học sinh tới hình thức nói
nhóm đôi và hình thức nói độc lập. Nên sau khi thống nhất phần dàn ý, học sinh
10
sẽ bắt thăm hình thức nói cho tổ mình để có thể chỉnh sửa dàn bài cho phù hợp
với hình thức nói.
Bước 6:Tổ chức thảo luận nhóm.
Trong giờ học tập, học sinh không chỉ học kiến thức ở thầy mà còn học
kiến thức ở bạn của mình. Học bạn là bước đầu cần thiết cho trò. Để học bạn
biện pháp tốt nhất là học sinh được tham gia vào nhóm học tập. Học nhóm chính
là sự chia sẻ kinh nghiệm, không chỉ học sinh học ở bạn kiến thức mà còn học ở
bạn kinh nghiệm, khả năng trình bày.Thông qua việc trình bày, bảo vệ sản phẩm
mình trước tập thể lớp học, trao đổi, tranh luận với bạn cùng lớp, nhóm, tổ kiến
thức chủ quan của học sinh mới tự nâng cao.
Tiết luyện nói tuy là sự trình bày của cá nhân trước tập thể lớp, song cần
sự bàn luận trong tổ, nhóm để học sinh tranh thủ ý kiến bổ sung của bạn bè, từ
đó bài nói sẽ hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức.
Hoạt động nhóm trong tiết luyện nói cũng diễn ra trong thời gian ngắn
nên chủ yếu các nhóm tập trung cho một cá nhân nói trong tổ nói. Tuy nhiên
phần này được thực hiện sau phần phát phiếu nhận xét đánh giá giờ dạy nên học
sinh sẽ căn cứ vào phiếu nhận xét để nói có trọng tâm trọng điểm. Trong một số
phút quy định thì tổ sẽ chọn người lên trình bày trước lớp, các thành viên khác
sẽ tập làm ban giám khảo. Những ý kiến đóng góp trong nhóm sẽ tao tạo điều
đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trong hơn thế sự đánh giá phải bao gồm nhiều
mặt. Ngoài yêu cầu nội dung kiến thức cần phải chú ý đến tác phong, thái
dộ,cách thể hiện trên bảng. Tuy nhiên điểm mới trong cách tổ chức cho học sinh
đánh giá của tôi là: Tôi đã có phiếu để mỗi em nhận xét, khi các em nhận xét bài
của bạn căn cứ vào các tiêu chuẩn đã chấm trong phiếu. Tôi cử một thư kí ghi
chép lại toàn bộ nội dung nhận xét của học sinh, có thể coi đó là “cẩm nang’ học
tập của lớp để trong các cuộc hội thảo học tập các em có thể tiếp tục bàn bạc rút
kinh nghiệm và đối với những em có năng lực nhận xét thật sự, tôi có thể yêu
càu những em đó diễn tả lại hoặc nói. Nhưng cơ bản nhất giáo viên phải đưa ra
được những định hướng đúng nhất trong bài nói của học sinh. Đặc biệt những
nhận xét của giáo viên phải thân tình, gợi không khí thân mật để các học sinh
khác có thể tự tin hơn trong bài nói của mình và cũng tạo sự hứng khới cho các
tiết học sau.
2.3.2.4. Biện pháp 4: Tổ chức đa dạng các hình thức nói trước lớp
* Hình thức nói độc lập: Là hình thức một cá nhân lên thể hiện, tập trung ý
tưởng của cả tổ. Ưu điểm của cách nói này là học sinh được làm chủ trong nội
dung bài nói của mình, đươc thể hiện những cảm xúc và cảm xúc này thường
được thể hiện liền mạch. Tuy nhiên để thực hiện phương pháp này tôi chú trọng
hướng dẫn học sinh cách thức nói và đặc biệt là ánh mắt giao lưu, cử chỉ điệu bộ
giao tiếp với người nghe.
Ví dụ Tiết 40 luyện nói về văn biểu cảm về sự vật, con người.
Đề bài Cảm nghĩ về thầy, cô giáo những “người lái đò” đưa thế hệ trẻ”
“cập bến” tương lai. Học sinh đã có bài nói độc lập như sau:
Em xin chào quý thầy cô cùng tất cả các bạn
Em tên là Lê Thị Phương là học sinh lớp 7 trường THCS Thiệu Minh
“Thưa thầy con đã thuộc bài học sáng nay trên bục giảng có bụi phấn trắng rơi
rơi trên tóc thầy”. Thầy đang đứng đó truyền đạt bao kiến thức cho đàn em bé
nhỏ. Thầy vẫn đứng đó bao nhiêu năm. Tóc thầy đã bạc vì bụi phấn. Hình ảnh
người thầy gợi bao cảm xúc cho các thế hệ học trò.
Thầy giáo hai tiếng thiêng liêng ấy lúc nào cũng vang lên trong tâm trí
Em xin chào quý thầy cô cùng tất cả các bạn
Em tên là Nguyễn Xuân Thắng Là học sinh lớp 7 trường THCS Thiêu Minh
Có khi nào trong đời, bạn mong muốn được trở lại thời thơ ấu?Với mình thời
thơ ấu có một ý nghĩa đặc biệt. Và thường thì những kỉ niệm thường được gắn
liền với với dấu ấn kỉ vật. Đó là kỉ vật món quà tuổi thơ.
Đó là món quà mẹ tặng mình lúc lên 6 tuổi- một con lật đật . Tuy nó không đắt
tiền nhưng mình yêu quý nó lắm xem nó là báu vật tuổi thơ.
Cho đến bây giờ mình vẫn giữ món quà này. Lật đật làm bằng nhựa
với nhiều màu sắc sặc sỡ. Hình con lật đật béo tròn, béo trục, nhìn giống như
một khối cầu tròn xoe. Nó có cái bụng phệ như ông địa múa lân. Cái đầu nó
nhỏ, tròn, gắn liền với thân hình chẳng cố định.
Mình yêu quý nó không chỉ vì nó đẹp mà nó còn chứa đựng đầy tìn
cảm của mẹ dành cho mình. Nó thật dễ thương lúc nào cũng nằm trên đầu
giường của mình. Mỗi khi sờ vào nó thì nó lại lắc lư và cười thật tươi. Đã có lúc
mình ngắm món quà này ,mà lòng tự hào vì có món quà từ sự chắt chiu của mẹ.
Nhìn nó mình lại nghĩ đó là sự quan tâm của mình.
Món quà của mẹ khồng chỉ là một đồ chơi còn là một món quà có ý
nghiã lớn. Những lúc mình ngã và khóc mẹ đã đưa lật đật lại và nói rằng: con
nhìn xem lật đật ngã mà đã khóc đâu. Trong suốt năm tháng cắp sách tới trường
món quà này đã trở thành thân thích với mình. Mỗi khi vui hay buồn mình luôn
chia sẻ cùng nó. Nhìn thấy nó mình như thấy mẹ luôn ở bên động viên “hãy cố
gắng lên con, đừng nản lòng, nếu vấp ngã thì hãy đứng lên. Hãy noi gương theo
con lật đật, nó chẳng bao giờ khóc cả, mẹ và lật đật sẽ ở mãi bên con”
Các bạn ạ. Bây giờ mình mới hiểu hết ý nghĩa món quà mẹ tặng .thế
nên mình sẽ quyết tâm vượt qua nhưng khó khăn để biến những mong ước của
mẹ thành hiện thực. Đó là món quà tuổi ấu thơ mình nhận được đấy các bạn ạ.
13
Em cảm ơn thầy cô và cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe.
khác đưa ta cập bến tri thức
5. Tâm: Thầy cô không chỉ là người cho ta tri thức mà còn là người dành trọn
tình thương cho chúng ta. Từ những bước đi chập chững buổi đầu tiên đến lớp.
Tình yêu thương ấy được chúng ta cảm nhận qua từng bài giảng, sự miệt mài
không quản thời gian, công sức. tất cả vì đàn con thân yêu. Chính thầy cô đã
cho thấy “nghề dạy học là nghề cao quý trong những nghề cao quý nhất”
6.Toàn: Có lẽ trong thầy cô niềm hạnh phúc lớn nhất là thấy cô là dõi theo
nhưng đứa học trò nhỏ thời cắp sách đến trường. Chúng em sẽ nhớ lắm ánh mắt
dịu dàng của thầy cô, những nụ cười động viên khích lệ khi trò cố gắng đạt
điểm cao, sẽ ân hận lắm nhũng lúc làm cho thầy cô phiền lòng để rồi gặp ánh
mắt nghiêm nghị khi trò phạm lỗi.
14
7. Tâm: Cuộc sống vẫn biết bao biến đổi nhưng vai trò của người thầy vẫn
được khẳng định trong lòng mọi người. Thay cho lời kết chúng em xin được gửi
tới thầy cô lời tri ân sâu sắc bằng một đoạn trong bài hát Khi tóc thầy bạc
“Một con đò sang ngang ôi lòng thầy mênh mang cho em biết yêu cánh cò trong
câu ca dao, cho em biết yêu bông trắng ăn cơm vàng của cô Tấm ngoan…bài
học làm người em vẫn khắc ghi công cha - nghĩa mẹ - ơn thầy”
Cảm ơn thầy cô và các bạn đã chú ý lắng nghe!
. Bài nói cặp đôi: Món quà tuổi thơ
Em xin chào quý thầy cô cùng tất cả các bạn
Em tên là Nguyễn Ngọc Linh còn bạn tên là Nguyễn Phương Trang là học
sinh lớp 7 Trường THCS Thiệu Minh
Sau đây em xin thay mặt cho tổ 2 trình bày đề cảm nghĩ về món quà
mà em đã được nhận thời thơ ấu.
2 . Linh: Tuổi thơ của ai cũng có một món quà yêu thích . Bạn có món quà gì
đặc biệt trong tuổi thơ? Chắc là có chứ nhỉ. Còn mình có ấn tượng nhất là con
Vi hai vớ d tiờu biu trờn thỡ cỏc tit luyn núi khỏc khụng ch th loi
biu cm m tt c cỏc tit luyn núi chỳng ta cú th xõy dng c hỡnh thc
núi cp ụi ny.
2.3.5 Bin phỏp 5 : Xen nhc m vo quỏ trỡnh luyn núi
m nhc l mt nhu cu nhn thc hot ng v gii trớ ca xó hi loi
ngi.Tỏc ng vo th gii tinh thn ca cỏc em, l mt liu thuc tinh thn,
to s hng phn trong hc tp, phỏt trin nng lc t duy, trớ tu.Vic xen õm
nhc vo bi núi l s tớch hp liờn mụn hiu qu nht. i vi ngi nghe s
thu hỳt chỳ ý vo bi núi. i vi ngi núi nhc nn s lp i nhng khong
trng rt rố v tng cm xỳc cho quỏ trỡnh thc hin bi núi ca mỡnh. Vic la
chn nhc m phự hp vi ni dung bi núi s mang li hiu qu rt cao trong
bi núi. Tuy nhiờn khi a nhc vo lỳc quỏ trỡnh luyn núi ang din ra thỡ yờu
cu nhc phi c bt nh khụng ỏt ging ca ngi núi. V c bit khi
chn la nhc m phi phự hp vi ni dung bi núi mi to c s ng
iu v cm xỳc. Hỡnh nn ca nhc m l hỡnh tnh khụng ly nhng hỡnh
ng trỏnh s tũ mũ ca hc sinh
Vớ d: Tit 40 Luyn núi Vn biu cm v s vt, con ngi tụi ó a nhc
m trong quỏ trỡnh hc sinh luyn núi
- Bi Ngi thy khi hc sinh núi 1: Cm ngh v thy, cụ giỏo nhng
ngi lỏi ũ a th h tr cp bn tng lai.
- Bi Tui hng vo 4 : Mún qu tui th
- Tit 55 - 56 a nhc m bi Bỏc H mt tỡnh yờu bao la
Túm li sau khi thc hin 4 bin phỏp trờn thỡ cú hiu qu rừ rt. Hc sinh
ó c trang b y nhng k nng nờn ó t tin hn trong bi núi v tit hc
ó thnh cụng.
* Giỏo ỏn thc nghim:
Tit 40
ngu nhiờn m hc núi c sp xp vo v trớ th hai ca cõu núi. iu ny
cho thy núi l mt k nng quan trong hng ngy. Vy núi nh th no
thuyt phc ngi nghe, t c mc ớch giao tip. bi hụm cỏc em s tip
tc c luyn c k nng ny.
*Bi mi
Hot ng 1 Kim tra s chun b
I. Kim tra s
GV :Bi hụm trc trong phn dn dũ cỏc em ó chn chun b .
luyn núi 1 v 4.
1. bi :
1 : Cm ngh v
thy,cụ giỏo nhng
ngi lỏi ũ a
th h tr cp
bn tng lai
4 : Cm ngh
v mt mún qu
em ó nhn c
thi th u
* Th loi - i
? Xỏc nh th loi v i tng biu cm trong hai ?
tng biu cm :
+ 1 : biu cm
v con ngi
*Giỏo viờn yờu cu trỡnh by dn bi ó chun b nh.
Hot ng 2
* Thng nht dn bi
2. Dn bi
Dn bi s 1 :
* M bi: Nờu hon cnh ny sinh cm xỳc v thy cụ
? Về hình thức?
Về hình thức : đủ ba phần
? Về nội dung?
Mở đầu : Giới thiệu tên, lớp, bài nói
Nội dung chính : bộc lộ cảm xúc về sự vật, con người
* Kết thúc : Lời cảm ơn
? Các biện pháp, yếu tố kết hợp?
* Vận dụng các yếu tố tưởng tượng, hồi tưởng, liên tưởng
để biểu cảm
* Khi nói kết hợp với giọng điệu ánh mắt của chỉ phù hợp,
tư thế tác phong chững chạc.
* Phát phiếu nhận xét, đánh giá bài nói
Các
yếu tố Hình
Ngôn
Phon
Hình
Nội
tự
thức
ngữ, cử
Tổ
g
thức
dung sự
biểu
chỉ, điệu
cách
,miêu cảm
bộ…
tổ.
- Trình bày trước
lớp
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm với hoạt động giáo dục
Với các biện pháp đã nêu ở trên giáo viên tôi đã vận dụng vào quá trình
giảng dạy. Sau khi áp dụng đề tài cũng với đề kiểm tra trước khi áp dụng tôi thu
được kết quả như sau:
Số học sinh chưa tự tin, bài nói
Số học sinh tự tin, nói tốt
chưa có nội dung
Lớp/sĩ số
SL
%
SL
%
7 (35)
30
85.7
5
14.3
Từ bảng thống kê trên cho thấy việc tiến hành đổi mới các phương pháp
trong bài dạy luyện nói có hiệu quả rõ rệt.
Chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt, góp phần vào đổi mới bộ môn
Tập làm Văn nói riêng và môn Ngữ văn nói chung: số lượng học sinh tự tin nói
đang còn ẩn giấu của mình.
Qua việc nghiên cứu thực hành rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy bản
thân tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Giáo viên phải có kiến thức, cách trình bày vấn đề khoa học, rõ ràng ,biết
cách hướng dẫn học sinh các kĩ năng khi luyện nói.
Giáo viên phải thực sự có tâm huyết. Tích cực tìm ra các biện pháp hay để
giúp học sinh giải quyết được những khó khăn trong học tâp.
Phải tổ chức được các hình thức học tập đa dạng, phong phú để thu hút
sự hứng thú của học sinh. Phải là người nắm vững tâm sinh lý của học sinh biết
khơi dậy trong các em những gì đang còn ngủ yên.
Cần kiên trì trong luyện tập kĩ năng nói cho học sinh. Quá trình này phải
diễn ra thường xuyên liên tục.
Học sinh phải tích cực chủ động trong hoạt động học tập. Tham gia nhiệt
tình vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức.
Tuân thủ các bước lên lớp: Từ khâu chuẩn bị bài ở nhà nói theo dàn bài ở
nhà đến thực hành trên lớp
Với phạm vi của sáng kiến trên tôi đã mạnh dạn đưa ra phương pháp, cách
thức tổ chức tiết luyện nói văn biểu cảm lớp 7. Dẫu còn hạn chế trong cách trình
bày, diễn đạt, nội dung và đây mới chỉ là ý kiến cá nhân, tôi rất mong các cấp
lãnh đạo, các đồng chí giáo viên đọc và góp ý cho tôi để sáng kiến kinh nghiệm
hoàn thiện hơn nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong mỗi tiết luyện nói. Tôi
xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2016
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết:
20
Đối tượng
2
Phương pháp
2
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lí luận
2
Thực trạng của vấn đề
3
Các biện pháp
4
Hiệu quả của SKKN với hoạt động
giáo dục
19
Kết luận và kiến nghị
20