BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
TRẦN VĂN NGỌC
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP
QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
GIAI ĐOẠN 2016 - 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HẢI PHÒNG - 2016
BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
TRẦN VĂN NGỌC
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP
QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
GIAI ĐOẠN 2016 - 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận
tình của các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế, Viện Đào tạo sau đại học – Trường
Đại học Hàng Hải Việt Nam; Đặc biệt là sự quan tâm chỉ dẫn tận tình của thầy
giáo TS. Mai Khắc Thành đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện
luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các sở, ban, thành của thành phố,
Sở Công Thương Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên
cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tác giả luận văn
Trần Văn Ngọc
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................. vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ....................................................................... vii
LỜI NÓI ĐẦU....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của Đề tài ................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu của Đề tài........................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................... 3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài ......................................................... 3
6. Kết cấu của luận văn ......................................................................................... 4
2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế .................................................. 64
2.2.4. Bài học kinh nghiệm ................................................................................. 66
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2016 – 2020.................................... 69
3.1. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU HỘI NHẬP QUỐC TẾ THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG ĐẾN NĂM 2020................................................................................... 69
3.1.1. Quan điểm ................................................................................................. 69
3.1.2. Mục tiêu:.................................................................................................... 71
3.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2016 – 2020................................................... 73
3.2.1. Biện pháp về quán triệt nhận thức, đẩy mạnh thông tin, tuyên tuyền về hội
nhập quốc tế......................................................................................................... 73
3.2.2. Biện pháp tiếp tục đổi mới và hoàn thiện môi trường vĩ mô của thành phố,
chú trọng và thực hiện triệt để cải cách hành thủ tục hành chính trong quản lý nhà
nước, tạo mội trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi thông thoáng: ..................... 74
3.2.3. Biện pháp xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ hội nhập quốc tế. 75
3.2.4. Biện pháp Hội nhập quốc tế về kinh tế ..................................................... 76
iv
3.2.5. Biện pháp Hội nhập quốc tế về chính trị, ngoại giao và công tác người
Việt Nam ở nước ngoài ...................................................................................... 90
3.2.6. Hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ, y tế, lao động, thể thao và các lĩnh vực khác ............................................... 90
3.2.7. Biện pháp Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh................................... 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................. 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 97
v
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEM
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
EU
Liên minh châu Âu
AEC
Cộng đồng kinh tế ASEAN
FTA
Hiệp định thương mại tự do
TPP
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
XNK
Xuất nhập khẩu
thương giai đoạn 2011 – 2015 của Ngành Công Thương
44
Hải Phòng giai đoạn 2011 – 2015
Kết quả thực thiện các mục tiêu, chỉ tiêu về hoạt động
2.2
ngoại thương của Ngành Công Thương Hải Phòng giai
45
đoạn 2011 – 2015
Kết quả thực thiện các mục tiêu, chỉ tiêu về phát triển
2.3
công nghiệp của Ngành Công Thương Hải Phòng giai
đoạn 2011 – 2015
vii
46
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Trong những năm qua, công cuộc hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng đạt
được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực. Quan hệ giữa nước ta với các
nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu; hợp tác về
chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và các lĩnh vực khác được mở rộng,
thấp, giá thành cao, kém sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Các
doanh nghiệp của Hải Phòng quy mô nhỏ, vốn ít, cơ sở vật chất nghèo nàn nên gặp
nhiều khó khăn trong quá trình mở rộng sản xuất và phát triển thị trường. Sự phối
hợp giữa các cấp, các ngành, địa phương còn chưa đồng bộ, nhịp nhàng, thiếu tính
chủ động. Bên cạnh đó, sự thiếu hiểu biết về những kiến thức cơ bản của hội nhập
quốc tế cũng như việc triển khai công tác hội nhập quốc tế còn thiếu các định
hướng, giải pháp cụ thể cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội của Hải
Phòng trong thời gian qua.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Một số biện pháp đẩy
mạnh hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 - 2020” làm
đề tài Luận văn thạc sỹ kinh tế.
2. Mục đích nghiên cứu của Đề tài
* Mục đích của luận văn:
Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn trong công tác hội nhập quốc tế tại thành phố
Hải Phòng, luận văn sẽ làm rõ các hình thức, phương thức và nội dung của công
tác hội nhập quốc tế trong nền kinh tế thị trường đang trong thời kỳ thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vai trò và
hiệu quả của công tác hội nhập quốc tế trước yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng
sâu, rộng của Việt Nam nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng.
* Nhiệm vụ của luận văn:
- Đánh giá tổng quan về hội nhập quốc tế;
- Đánh giá thực trạng tình hình hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai
2
đoạn 2010 - 2015;
- Đưa ra một số biện pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế của thành phố Hải
Phòng giai đoạn 2016 - 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
sau:
- Chương 1: Tổng quan về hội nhập quốc tế
- Chương 2: Thực trạng hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn
2010 – 2015
- Chương 3: Một số biện pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế của thành phố Hải
Phòng giai đoạn 2016 – 2020.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1.1. Xu hướng phát triển hội nhập quốc tế thế giới
Ngay từ những năm cuối của thế kỷ XX, sự phát triển kinh tế của các nước
thế giới đã chịu sự tác động sâu sắc, toàn diện của một loạt những xu thế mới. Đó
là xu thế phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, quốc tế, toàn cầu hoá
đời sống kinh tế thế giới và xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại giúp cho lực
lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ. Các công ty xuyên quốc gia ngày càng
mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền
kinh tế thế giới; thúc đẩy quá trình quốc tế hoá sản xuất, quốc tế hoá nền kinh tế
thế giới phát triển nhanh chóng.
Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế lớn của quá trình phát triển kinh tế thị
trường, phản ánh trình độ phát triển cao của trình độ sản xuất, phân công lao động
quốc tế và việc quốc tế hoá sản xuất trở nên phổ biến. Đặc điểm quan trọng của
toàn cầu hoá là nền kinh tế thế giới tồn tại và phát triển như một chỉnh thể, trong
đó nền kinh tế của các quốc gia chỉ là các bộ phận có quan hệ tương tác lẫn nhau,
phát triển với nhiều hình thức phong phú. Không thể phủ nhận rằng, bất kỳ một
quốc gia nào khi tham gia vào kinh tế quốc tế đều có thể thu được lợi ích nếu quốc
gia đó tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm thể hiện mối
việc thực hiện tự do hoá mậu dịch thông qua cắt giảm thuế quan và các biện pháp
phi thuế quan như ở khu vực mậu dịch tự do, các thành viên còn cùng nhau xây
dựng biểu thuế quan chung, áp dụng cho các nước ngoài liên minh (ví dụ như
Cộng đồng chung Châu Âu (EC) trước đây nay là thị trường chung Châu Âu (EU);
thị trường chung MERCOSUR ở Nam Mỹ, thị trường chung Châu Phi…
Đặc biệt, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) ra đời
năm 1989 và Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) ra đời năm 1996 là một hình thức
6
hội nhập mang tính chất khối kinh tế liên khu vực mở. Đặc trưng của các diễn đàn
này là tiến trình đối thoại với những nguyên tắc linh hoạt và tự nguyện để thực
hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh hơn
tiến trình tự do hoá trên bình diện toàn cầu. Mặc dù vẫn còn dừng lại ở hình thức
diễn đàn, song APEC đang có xu hướng hình thành cơ cấu tổ chức mang tính tổng
thể thường xuyên hơn để chuyển hoá dần thành một khối kinh tế mở có sự tham
gia của các nước thuộc cả châu Á và châu Âu (liên khu vực).
- Các tổ chức kinh tế toàn cầu: được chia làm hai loại:
Thứ nhất, những tổ chức kinh tế liên Chính phủ như WTO, IMF, WB, G8 ,
OECD hoặc UNDP … Những tổ chức này đang đóng vai trò thiết kế và chi phối
các “luật chơi chung” mang tính toàn cầu, trước hết với các dòng chảy thương mại,
tiền tệ và đầu tư chính thức. Đồng thời, các tổ chức này sẽ dần cải tổ và chuyển
hoá thành các tổ chức có chức năng, phạm vi điều tiết rộng hơn.
Thứ hai, các tổ chức kinh doanh toàn cầu mà trước hết và phổ biến hơn cả
hiện nay là các công ty xuyên quốc gia. Các công ty này đang có xu hướng phát
triển nhanh chóng về quy mô thông qua sáp nhập và bao quát hoạt động trong hầu
hết các lĩnh vực, các quốc gia dù đang phát triển hay phát triển.
Ngoài những hình thức hội nhập quốc tế chủ yếu, trên thế giới đang xuất hiện
ngày càng nhiều hơn những hình thức đặc thù như thành phố cảng tự do, các đặc
hội nghị Doha đến hội nghị Cancun, WTO chủ trương mở rộng đàm phán toàn
diện trên cả bốn lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư liên
quan đến thương mại, sở hữu trí tuệ và một số vấn đề mới phát sinh nhằm thúc đẩy
tiến trình tự do hóa thương mại. Tại hội nghị Cancun tháng 9 vừa qua ở Mexico,
các nước đang phát triển liên kết thành nhóm G22 đòi thương mại công bằng, bình
đẳng, các nước phát triển mở cửa thị trường và bỏ trợ cấp nông nghiệp, trợ cấp
xuất khẩu.
1.1.2. Khái niệm và bản chất của hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu khách quan, do bản chất
xã hội của lao động và quan hệ giữa con người với con người. Sự hình thành và
8
phát triển của kinh tế thị trường là tác nhân đầu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc
tế. Hội nhập quốc tế diễn ra với nhiều hình thức, cấp độ và nhiều lĩnh vực và theo
tiến trình từ thấp đến cao. Hội nhập quốc tế tất yếu trở thành một xu thế lớn của
thời đại, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của các quốc gia và
vùng lãnh thổ. Ngày nay, hội nhập quốc tế là con đường của hầu hết các quốc gia
để phát triển đất nước.
1.1.2.1. Khái niệm hội nhập quốc tế
Khái niệm hội nhập quốc tế hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau. Quan
điểm của tác giả về hội nhập quốc tế như sau:
Hội nhập quốc tế là quá trình các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới tiến
hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi
ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và
tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.
Như vậy, khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi ích hay
nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau), hội nhập quốc tế vượt lên trên sự
hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của các chủ
thể tham gia. Nhìn ở góc độ thể chế, quá trình hội nhập hình thành nên và củng cố
(a1) Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước tham gia là thành viên
dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn
hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và
mức độ cắt giảm. Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại ViệtMỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên
kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất.
(a2) Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt
giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao
gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa
nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài
khối. Ví dụ như: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (viết tắt là EFTA), Khu vực mậu
10
dịch tự do bắc Mỹ (viết tắt là NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (viết tắt
là AFTA). Trong các năm gần đây, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
phạm vi lĩnh vực điều tiết rộng hơn. Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định này
còn có những quy định tự do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như đầu tư, sở hữu trí
tuệ, lao động, môi trường, thương mại điện tử, mua sắm chính phủ… Ví dụ như:
Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân, Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến
lược xuyên Thái Bình dương (TPP).
(a3) Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên tham gia liên minh, thực hiện
việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối, đồng thời phải thực
hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối. Ví dụ: Nhóm
ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan.
(a4) Thị trường chung (hay còn gọi là thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ
thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại trong khối đó và có chính
sách thuế quan chung đối với các quốc gia ngoài khối, các thành viên tham gia còn
phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác như
vốn và lao động… để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối. Ví dụ: Khối
Liên minh châu Âu (EU).
quốc tế về an ninh – quốc phòng phải tham gia vào các thỏa thuận song phương
hoặc đa phương về an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia sẻ và liên
kết các nội dung: mục tiêu chung, đối tượng hoặc kẻ thù chung, tiến hành các hoạt
động chung về đảm bảo an ninh-quốc phòng.
d) Hội nhập quốc tế về văn hóa-xã hội:
Hội nhập quốc tế về văn hóa-xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa của
nước này với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần của nước mình
với khu vực và thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của khu vực và thế giới
để bổ sung, hoàn thiện nền văn hóa dân tộc của nước mình; tham gia vào các tổ
chức hợp tác và phát triển văn hóa-giáo dục và xã hội khu vực; hợp tác với các
nước thành viên tham gia hướng tới xây dựng một cộng đồng văn hóa-xã hội rộng
lớn trên phạm vi khu vực và thế giới (Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN,
12
UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về phát triển văn
hóa-giáo dục-xã hội với các nước.
1.1.3. Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu của thời đại ngày nay
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và
quan hệ giữa con người. Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ và
liên kết với nhau tạo thành cộng đồng. Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo
thành xã hội và các quốc gia-dân tộc. Các quốc gia liên kết với nhau tạo thành
những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới mới.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị
trường quốc gia, hình thành thị trường khu vực và quốc tế thống nhất. Đây là động
lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc
tế nói chung.
Trên cấp độ toàn cầu, ngay sau Chiến tranh thế giới II, Liên hiệp quốc và
hàng loạt các tổ chức chuyên môn của Liên hiệp quốc, trong đó gồm nhiều thiết
chiến lược, hiệp định kinh tế-thương mại (BFTA, BCU…). Từ cuối thập niên 1990
trở lại đây, xu hướng ký kết các hiệp định đối tác chiến lược và hiệp định mậu dịch
tự do (BFTA) phát triển đặc biệt mạnh mẽ. Hầu hết các nước đều đã ký hoặc đang
trong quá trình đàm phán các BFTA. Thậm chí, có nước hiện đã ký hoặc đàm phán
tới hàng chục hiệp định BFTA (Singapore, Thái Lan, Nhật, Úc…). Điều này được
lý giải chủ yếu bởi bế tắc của vòng đàm phán Đôha và những ưu thế của BFTA so
với các hiệp định đa phương (dễ đàm phán và nhanh đạt được hơn; việc thực hiện
cũng thuận lợi hơn).
Như vậy có thể thấy hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn của thời đại
ngày nay. Chung ta đang sống trong một thế giới hội nhập sâu, rộng hay nói một
cách khác là thời đại hội nhập toàn cầu. Xu thế này đã, đang và sẽ có ảnh hưởng
toàn bộ quan hệ quốc tế và làm thay đổi các cấu trúc của hệ thống thế giới cũng
như bản thân các chủ thể và mối quan hệ giữa chúng.
14
1.2. QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1.2.1. Chủ trương, mục tiêu chỉ đạo Hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà
nước
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) của Việt Nam bắt đầu từ khá
sớm nhưng chủ yếu được đẩy mạnh từ sau khi Đảng ta phát động sự nghiệp đổi
mới. HNKTQT là nội dung trọng tâm và quan trọng nhất của Hội nhập quốc tế và
là một bộ phận xuyên suốt của công cuộc đổi mới ở nước ta. Các quan điểm và chủ
trương của Đảng ta về HNKTQT mang tính nhất quán, có hệ thống và luôn được
cập nhật và mang tính kế thừa qua các kỳ Đại hội của Đảng.
Ngay từ những năm 1980 của thế kỷ 20, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận thức
sâu sắc sự cần thiết và tất yếu của HNKTQT. Từ đó tới nay, đường lối, chủ trương
hội nhập kinh tế của Đảng đã được đề ra một cách nhất quán, không ngừng được
phát triển và được các cấp, các ngành triển khai đồng bộ và tích cực, phù hợp với
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB)..., mở rộng hợp tác với các tổ chức khu vực, trước hết là ở Châu Á - Thái
Bình Dương”.
Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 xác định sự cần thiết phải xây dựng một
nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu. Từ
đó, Đảng đưa nhiệm vụ đối ngoại lên một tầm cao mới: “Nhiệm vụ đối ngoại trong
giai đoạn tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để
đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”
và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”. Đây là lần đầu tiên Nghị quyết
của Đảng đề cập đến việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mục
tiêu phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước. Nó đánh dấu một bước chuyển biến
cơ bản trong nhận thức về nhu cầu cần tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Nghị quyết số 01/NQ-TƯ của Bộ Chính trị ngày 18 tháng 11 năm 1996 về mở
rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại và Nghị quyết 04/NQ-NHTƯ của Ban
chấp hành Trung ương (Khoá VIII) ngày 29 tháng 12 năm 1997 về tiếp tục đổi
mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000
là những văn kiện quan trọng chỉ đạo việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của
16