Một số phương pháp tiến hành thí nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy môn hóa học lớp 9 - Pdf 44

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hóa học là một trong các môn khoa học cơ bản có đóng góp quan trọng vào
sự phát triển của xã hội. Quá trình phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi sự ra
đời của các vật liệu mới, thuốc chữa bệnh... Bên cạnh những vai trò của hóa học
với nền khoa học kĩ thuật thì hóa học còn giúp học sinh giải thích được nhiều hiện
tượng thú vị trong đời sống hàng ngày, các hiện tượng trong thiên nhiên....
Môn Hóa học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo
nói chung, của trường THCS nói riêng. Môn Hóa học ở trường THCS có những
đặc trưng riêng. Nội dung kiến thức của môn học này luôn luôn gắn liền với sự vật
và hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Việc khám phá và tiếp thu kiến
thức phụ thuộc rất nhiều vào các thí nghiệm bởi đặc điểm của khoa học Hóa học
vốn là khoa học thực nghiệm và nguyên tắc dạy học là nguyên tắc trực quan “học
đi đôi với hành”.
Làm các thí nghiệm Hóa học có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận
thức của học sinh, phù hợp với nguyên lý giáo dục, giúp các em quen dần với
phương pháp nghiên cứu khoa học, vì qua đó các em được tập quan sát, tư duy
biện chứng, rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, góp phần giáo dục kỹ năng sống,
chuẩn bị cho học sinh tham gia hoạt động thực tế. Do được tự mình tiến hành các
thao tác thí nghiệm… các em có thể nhanh chóng làm quen với những dụng cụ và
thiết bị dùng trong đời sống và sản xuất sau này.
Trong chương trình Hóa học 8, học sinh đã làm quen với các thao tác thí
nghiệm đơn giản, tập đưa ra “Dự đoán’’ và được giáo viên hướng dẫn làm thí
nghiệm để kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán. Lên lớp 9 phương pháp này được
phát triển và được nâng cao hơn, học sinh thường xuyên đưa ra nhiều dự đoán
khác nhau về cùng một hiện tượng, tự lực đề xuất các phương án thí nghiệm, và
thực hành thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Như vậy, bên cạnh nhiệm
vụ trang bị kiến thức và những hiểu biết cần thiết, trong mỗi bài học Hóa học cần
nâng cao khả năng tự tiến hành thí nghiệm (thực hành) của học sinh, rèn luyện và
phát triển ở các em những kĩ năng, năng lực nhận thức và góp phần hình thành
những phẩm chất, nhân cách phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay.

Năm học 2015 – 2016 giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng và tham gia trực tiếp
giảng dạy môn Hóa học Khối 9 Trường THCS Nga Trung, cùng với kinh nghiệm
nhiều năm làm công tác giảng dạy tôi đã đi sâu tìm hiểu thực trạng của vấn đề và
tiến hành nghiên cứu áp dụng sáng kiến vào giảng dạy.
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
- Thí nghiệm hóa học là nguồn gốc, xuất xứ của kiến thức, qua quan sát thí
nghiệm, học sinh thấy được hiện tượng, từ đó có nhận xét và rút ra kết luận vấn đề
đang nghiên cứu, tức là từ thực tiễn đi đến tư duy lôgic có cơ sở khoa học.
- Qua thí nghiệm tạo cho học sinh hứng thú học tập, nâng cao lòng yêu khoa
học, phát huy được khả năng sáng tạo, tính tò mò ham học hỏi .
- Thí nghiệm hóa học còn giúp học sinh có khả năng vận dụng những kiến
thức đã học được trong nhà trường, trong phòng thí nghiệm vào các lĩnh vực trong
tự nhiên, trong sản xuất và đời sống của con người.
- Thí nghiệm hóa học có tác dụng phát triển tư duy, giáo dục thế giới quan
duy vật biện chứng, củng cố niềm tin vào khoa học của học sinh, giúp học sinh
hình thành những đức tính tốt của con người mới: Làm việc khoa học, thận trọng,
ngăn nắp, gọn gàng. Vì vậy việc hướng dẫn học sinh kĩ năng thực hành trong môn
Hóa học ở trường THCS là nhiệm vụ hết sức quan trọng của người giáo viên.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
1. Thực trạng:
1.1. Về cơ sở vật chất:
Một số thiết bị và hóa chất thí nghiệm qua một thời gian sử dụng đã bị hỏng
không còn đáp ứng được yêu cầu của bộ môn nên có một số thí nghiệm giáo viên
chỉ thông báo kết quả, học sinh không được trực tiếp làm thí nghiệm.
Nhà trường đã có phòng học bộ môn rất thuận lợi cho việc tổ chức các tiết
học có thực hành, thí nghiệm.
Trước những tình hình đó, tôi cố gắng phát huy những thuận lợi của nhà
trường, đồng thời khắc phục khó khăn, tìm mọi biện pháp để các thí nghiệm Hóa
học được thành công.
1.2. Về giáo viên:


Làm thí nghiệm
thành thạo
SL
%

Làm thí nghiệm
chưa thành thạo
SL
%

9A
25
4
16,0
21
84,0
9B
26
6
23,1
20
76,9
Tổng
51
10
19,6
41
80,4
Từ thực trạng trên dẫn tới:


1. Thí nghiệm biểu diễn
1.1. Nguyên tắc thực hiện:
Thí nghiệm biểu diễn là thí nghiệm do giáo viên hoặc một (một vài) học
sinh trình bày ở trên lớp. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các thí nghiệm
biểu diễn, bản thân tôi luôn cố gắng thực hiện tốt các nội dung sau:
- Thí nghiệm phải đảm bảo thành công: Nếu thí nghiệm thất bại học sinh sẽ
mất tin tưởng vào bài học và ảnh hưởng xấu đến uy tín của giáo viên. Muốn làm
tốt được điều này, giáo viên phải:
+ Am hiểu bản chất của các hiện tượng Hóa học xảy ra trong thí nghiệm.
+ Nắm vững cấu tạo, tính năng, đặc điểm của từng dụng cụ thí nghiệm cùng
với những trục trặc có thể xảy ra để biết cách kịp thời khi phải sửa chữa. Muốn
vậy, giáo viên phải làm trước nhiều lần trong khi chuẩn bị bài.
+ Giáo viên phải làm trước thí nghiệm để đảm bảo thành công, tránh trường
hợp thí nghiệm thất bại do chất lượng hóa chất, dụng cụ…
- Thí nghiệm phải ngắn gọn một cách hợp lí: Nếu thí nghiệm kéo dài sẽ khó
tập trung sự chú ý của học sinh và dễ cháy giáo án. Muốn vậy giáo viên phải hạn
chế tối đa thời gian lắp ráp thí nghiệm. Thí nghiệm đảm bảo thành công ngay
không phải làm lại. Nếu thí nghiệm kéo dài có thể chia ra nhiều bước, mỗi bước
coi như một thí nghiệm nhỏ.
- Thí nghiệm phải đảm bảo cho cả lớp quan sát: Để làm tốt điều này, giáo
viên cần phải:
Chuẩn bị dụng cụ thích hợp, có kích thước đủ lớn, có cấu tạo đơn giản thể
hiện rõ được bản chất của hiện tượng cần nghiên cứu.
Sắp xếp dụng cụ một cách hợp lí. Điều này biểu hiện:
+ Chỉ bày những dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm, không bày la liệt những
dụng cụ chưa dùng đến hoặc chưa dùng xong.
+ Bố trí sao cho cả lớp đều nhìn rõ. Muốn như vậy nên sắp xếp dụng cụ trên
mặt phẳng cao so với mặt đất, tốt nhất dùng mặt bàn giáo viên. Nếu không được
phải đem đến tận bàn cho học sinh xem. Giáo viên cũng cần chú ý không che lấp

Chuẩn bị:
Dụng cụ: 2 ống nghiệm, giá, kẹp…..
Hóa chất: Fe dạng phoi bào, dd H2SO4 đặc, HNO3 đặc
Thí nghiệm:
Thí nghiệm sắt tác dụng với HNO3 đặc, nguội và H2SO4 đặc, nguội. GV
nêu vấn đề: Sắt tác dụng với HCl, H 2SO4 loãng nhưng liệu sắt có (tác dụng) phản
ứng với HNO3 đặc nguội và H2SO4 đặc, nguội không?
Cách tiến hành thí nghiệm:
GV tiến hành thí nghiệm: cho mảnh sắt vào axit H2SO4 đặc nguội rồi yêu
cầu học sinh quan sát và nêu hiện tượng.
HS: Không có hiện tượng xảy ra. Vậy không có PƯHH.
GV: Vậy vấn đề được giải quyết. Sắt không phản ứng với H 2SO4 đặc, nguội
và tương tự như vậy Fe không phản ứng với HNO 3 đặc, nguội (vì có tính thụ
động)
1.2.2. Thí nghiệm giải quyết vấn đề:
Thí nghiệm thuộc bài này được thực hiện giải quyết vấn đề đặt ra sau phần
nêu vấn đề. Bao gồm hai loại thí nghiệm:
1.2.2.1. Sử dụng thí nghiệm nghiên cứu có so sánh đối chiếu(Thí nghiệm đối
chứng) để rút ra tính chất hoá học của chất:
Là thí nghiệm tiến hành nghiên cứu vấn đề đặt ra thông qua đó giáo viên
hướng dẫn học sinh đi đến khái niệm cần thiết.
Ví dụ 1:
Bài 39 :
BENZEN
Phần III: Tính chất hoá học
Mục 2: Ben zen có phản ứng thế với brom không?
Chuẩn bị: Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, ống nhỏ giọt, giá đựng ống nghiệm
Hoá chất: Benzen, dung dịch Brôm
Thí nghiệm nghiên cứu:
- Giáo viên giới thiệu thí nghiệm: cho 2ml brôm lỏng vào ống nghiệm chưa 3 ml

GV: Sắt tác dụng được với dd muối nào sau đây: CuSO4, MgSO4
HS dự đoán và sau đó kiểm tra bằng thực nghiệm thí nghiệm theo nhóm và
điền kết quả vào bảng sau:
TN nghiên cứu: Săt tác dụng với CuSO4.
Chuẩn bị: Đinh sắt (loại đinh 10), dây đồng, dung dịch CuSO 4, FeSO4, Ống
nghiệm, giá ...
Tiến hành:
- Cho đinh sắt vào ống nghiệm (1) đựng dd muối CuSO4
- Cho dây đồng vào ống nghiệm (2) đựng dung dịch FeSO4
HS quan sat, nhận xét hiện tượng:
Ô1. - Có chất rắn màu đỏ bám quanh đinh sắt
- Dung dịch màu xanh nhạt dần và xuất hiện màu lục nhạt.
Ô 2. Không hiện tượng
PT: Fe(r) +
CuSO4(dd) →
FeSO4(dd)
+
Cu(r)
Trắng xám

Xanh lam

Lục nhạt

Đỏ

Sau đó GV cho đại diện nhóm trình bày kết quả. Viết PTHH. GV hỏi: Có phải kim
loại sắt đều tác dụng với các dung dịch muối không?
Vậy điều kiện để phản ứng giữa sắt với dd muối thực hiện được là gì? Từ
đó dẫn đến kết luận về tính chất của sắt tác dụng với dd muối. (Chú ý hoá trị của

Thí nghiệm thuộc loại này dùng để củng cố kiến thức đã nghiên cứu bao
gồm cả những thí nghiệm nói lên ứng dụng của kiến thức Hóa học trong đời sống
và giải bài tập.
Ví dụ:
Bài 26:
CLO
Mục: Clo tác dụng với H2O.
Học xong mục này GV ra một bài tập: Thiết kế thí nghiệm nhận biết các chất khí
HCl, Cl2, O2 bằng phương pháp hóa học.
Chuẩn bị: 3 bình đựng khí HCl, Cl2, O2, giấy quỳ, cốc đựng nước, kẹp, ống hút...
Tiến hành thí nghiệm: Lấy 3 mẩu giấy quỳ nhúng vào nước rồi lần lượt cho vào
từng bình.
HS tiến hành, quan sát và giải thích:
- Bình làm giấy quỳ tím chuyển đỏ là HCl
- Bình làm giấy quỳ tìm chuyển đỏ sau mất màu ngay là Cl2
- Bình không làm giấy quỳ tìm chuyển màu là O2
KL: Giấy quỳ tím ẩm là thuốc thử để nhận biết khí Cl2
2. Thí nghiệm thực hành Hóa học:
2.1. Nguyên tắc thực hiện:
Thực hiện phương pháp này phải tuân thủ nguyên tắc sau:
- Thí nghiệm do tự tay học sinh tiến hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Thí nghiệm đơn giản, dễ làm, ít thao tác và nhanh cho hiện tượng rõ ràng.
- Thí nghiệm không độc hại hoặc dễ cháy nổ.
- Nêu cao tinh thần kỉ luật trong phòng thực hành.
2.2. Một số kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh THCS:
- Sử dụng chai lọ, cốc và các dụng cụ thủy tinh: Bất kì một loại dụng cụ nào
khi sử dụng đều phải được rửa sạch, nếu rửa bằng nước không sạch thì phải rửa
bằng xà phòng hoặc bằng hóa chất cần thiết và sau đó lại rửa bằng nước cho sạch.
Rửa xong úp ngược miệng xuống dưới cho ráo nước. Với ống nghiệm phải rửa
bằng chổi lông.

từ đầu năm học, xác định cần dụng cụ gì, số lượng bao nhiêu, còn thiếu những gì
để có kế hoạch giải quyết trong năm bằng cách mua thêm hoặc tự làm hoặc hướng
dẫn học sinh tự làm.
2.3.1. Chuẩn bị của giáo viên:
Giáo viên sau khi nhận lớp, tìm hiểu kĩ về tình hình học tập của lớp về bộ
môn, sau đó phối hợp với giáo viên chủ nhiệm tiến hành việc phân loại học sinh
lớp thành từng nhóm, trong nhóm phải có đủ các đối tượng học sinh theo năng lực
học tập của bộ môn, có nhóm trưởng, nhóm phó để khi nhóm trưởng vắng thì
nhóm phó thay thế, có thư kí để ghi chép hiện tượng xảy ra trong quá trình làm thí
nghiệm, ý kiến thống nhất trong phần giải thích hiện tượng và viết PTHH đối với
mỗi thí nghiệm.
Nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân công, điều hành hoạt động của nhóm
theo hướng dẫn của giáo viên, yêu cầu nhóm trưởng khi phân công các thành viên
trong nhóm phải thường xuyên đổi vị trí làm việc của mỗi thành viên để tất cả học
sinh trong nhóm đều được làm thí nghiệm, qua nhiều lần thí nghiệm mỗi học sinh
sẽ có kĩ năng thực hành tốt hơn.
Một trong những điều kiện giúp học sinh thực hiện thành công các thí
nghiệm thực hành là giáo viên phải tổ chức cho học sinh, nhóm học sinh nghiên
cứu trước bản hướng dẫn làm thí nghiệm thực hành do giáo viên soạn ra, học sinh
phải biết trước về mục đích của thí nghiệm thực hành, học sinh cần làm gì và làm
như thế nào? giải thích các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm, rút ra kết luận
đúng.
9


Giáo viên cần xác định nội dung và phương pháp thực hiện các thí nghiệm
thực hành sao cho phù hợp với đặc điểm, nội dung, thời gian cho phép và cơ sở
vật chất, thiết bị dạy học có liên quan của trường.
Căn cứ vào nội dung của thí nghiệm thực hành, giáo viên cần làm trước thí
nghiệm để viết bản hướng dẫn cụ thể và chính xác, cố gắng chuẩn bị tốt các dụng

Bước 1: Kiểm tra công tác chuẩn bị.
1/Về công tác chuẩn bị của học sinh, nhóm học sinh.
Sau khi giáo viên nêu mục tiêu của bài học, bài thực hành, giáo viên yêu
cầu học sinh các nhóm cho biết công tác chuẩn bị của học sinh , nhóm học sinh
đối với các thí nghiệm gồm:
Bảng 1
STT
Tên
Dụng cụ, hóa chất
Cách tiến
Dự đoán
thí nghiệm
hành thí
hiện tượng
nghiệm
1
10


Sau khi học sinh báo cáo công tác chuẩn bị của mình, giáo viên nhận xét,
chỉ ra những thiếu sót trong công tác chuẩn bị của học sinh trong từng thí nghiệm
để học sinh bổ sung vào bản chuẩn bị thí nghiệm của mình cho phù hợp, sau đó
giáo viên cho học sinh nhóm kiểm tra dụng cụ, hóa chất trên bàn thực hành.
2/ Kiểm tra dụng cụ, hóa chất thí nghiệm.
Học sinh nhóm kiểm tra dụng cụ, hóa chất trên bàn thực hành của nhóm.
Báo cáo với giáo viên những dụng cụ, hóa chất còn thiếu hoặc dụng cụ bị hư hỏng
để bổ sung kịp thời .
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn chung:
Giáo viên nhắc lại nội dung, mục đích của toàn bộ công việc, hướng dẫn kĩ
thuật lắp ráp dụng cụ thí nghiệm, cách tiến hành từng thí nghiệm.

Tên bài thực hành:…………….
Lớp:……
Bảng 2
STT Tên thí
Cách tiến hành hiện tượng quan Giải thích, viết PTHH
nghiệm
thí nghiệm
sát được
nếu có
(1)
(2)
(3)
(4)
11


Mục (1), (2), (3) (ở bảng 1) học sinh chuẩn bị trước ở nhà, có điều chỉnh phù hợp
sau phần hướng dẫn chung của giáo viên.
Học sinh chỉ viết nội dung các mục (3), (4) (Bảng 2) sau khi tiến hành thí nghiệm
và được nhóm thảo luận đi đến thống nhất.
2.5. Ví dụ minh hoạ:
Ví dụ 1:
Tiết 14-Bài 9: Tính chất hoá học của muối
Phần 1: Tính chất hoá học của muối
Mục 1: Muối tác dụng với kim loại
Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, ống nhỏ giọt, giá đựng ống nghiệm, thìa lấy hoá
chất
Hoá chất: Cu, AgNO3, ZnCl2
Hướng dẫn HS: Cho dây Cu vào Ô1 đựng bạc nitrat, cho dây Ag vào Ô2 đụng
đồng nitrat. Trả lời câu hỏi

PTHH:
Fe(r) + CuSO4 (dd) 
màu xanh

màu đỏ

+ Ống nghiệm 2: Không có hiện tượng gì
- Học sinh kết luận: Fe hoạt động hóa học mạnh hơn Cu vì Fe đẩy được Cu ra khỏi
dung dịch muối tạo ra kim loại Cu màu đỏ còn Cu không đẩy được Fe.

12


=> Fe hoạt động mạnh hơn Cu → xếp Fe đứng trước Cu: Fe,Cu
PHẦN II. CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH:
1. Thí nghiệm thực hành đồng loạt:
Loại thí nghiệm này tất cả các nhóm học sinh đều cùng làm một thí nghiệm,
cùng thời gian và cùng một kết quả. Đây là thí nghiệm được sử dụng nhiều nhất
hiện nay vì có nhiều ưu điểm. Đó là:
Trong khi làm thí nghiệm các nhóm trao đổi giúp đỡ nhau và kết quả trung
bình đáng tin cậy hơn.
Việc chỉ đạo của giáo viên tương đối đơn giản vì mọi việc uốn nắn hướng
dẫn, sai sót, tổng kết thí nghiệm đều được hướng dẫn đến tất cả học sinh.
Bên cạnh những ưu điểm, còn một số hạn chế:
Do trình độ các nhóm không đồng đều nên có nhóm vội vàng trong khi
thao tác dẫn đến kết quả không đạt.
Đòi hỏi nhiều bộ thí nghiệm giống nhau gây khó khăn về thiết bị.
2. Thí nghiệm thực hành loại phối hợp:
Trong hình thức tổ chức này học sinh được chia thành nhiều nhóm khác nhau,
mỗi nhóm chỉ làm thí nghiệm một phần đề tài trong thời gian như nhau, sau đó phối


Thứ nhất: Thí nghiệm phải bảo đảm dễ làm, làm được trong thời gian
ngắn, dụng cụ thí nghiệm hóa chất đơn giản dễ tìm kiếm. Đối với những thí
nghiệm phải cần nhiều thời gian thì giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện ở nhà.
Mặt khác, thí nghiệm phải bảo đảm an toàn và không gây ra bất kỳ sự nguy hiểm
nào.
Thứ hai: Giáo viên phải hiểu rõ bản chất của thí nghiệm, phải chắc chắn
rằng thí nghiệm thành công và thí nghiệm phải liên quan tới kiến thức của bài học.
Thứ ba: HS ý thức đúng đắn vai trò của thí nghiệm, tích cực hợp tác với
bạn bè và giáo viên giảng dạy. Đối với những thí nghiệm được hướng dẫn về nhà
làm thì phải làm theo đúng hướng dẫn của giáo viên và phải giải quyết được vấn
đề mà giáo viên nêu ra.
Sau đây tôi xin đưa ra một vài thí nghiệm hướng dẫn học sinh về nhà tự làm
để các em khắc sâu hơn kiến thức bài học.
Ví dụ 1: BÀI TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA KIM LOẠI
Ở bài trước, khi hướng dẫn học sinh về nhà GV hướng dẫn làm thì nghiệm
đốt nhôm trong không khí.
GV hướng dẫn: Lấy mảnh Nhôm hoặc dây Nhôm (VD móc treo quần áo
bằng nhôm bị hỏng) mài vào viên đá mài khô hoặc giũa lấy khoảng 0,5 gam. Cho
bột nhôm vào mảnh giấy gấp hình lòng máng rồi rắc từ từ trên ngọn nến. Nêu hiện
tượng , giải thích và dự đoán sản phẩm rồi lập PTHH.
4. Một số cách xử lí khi gặp tai nạn và những phướng pháp sơ cứu:
a. Tủ thuốc cấp cứu của phòng thí nghiệm:
Trong phòng thí nghiệm cần có tủ thuốc cấp cứu với các thứ thuốc thông dụng
sau:
- Cồn iot 5%
- Dung dịch CH3COOH 3%
- Dung dịch FeCl3
- Dung dịch CuSO4 5%
- Dung dịch NaHCO3 3%

+Nước: Nước sử dụng có hiệu quả khi dập cháy các vật rắn thông thường
như gỗ, giấy, than, cao su, vải và một số chất lỏng hòa tan trong nước (axit hữu cơ,
axeton, rượu bậc thấp)
+ Bình CO2, bình bọt: Dễ sử dụng, nhất là trong các đám cháy nhỏ,
CO2 không làm hư hỏng máy móc thiết bị, kể cả thiết bị đang có điện.
+ Vải ướt: Để phủ lên đám cháy có diện tích nhỏ, nhằm ngăn đám cháy với
oxi.
+ Cát khô: Cát khô có thể sử dụng để dập đám cháy chứa những lượng nhỏ
chất lỏng, chất rắn khi không được dùng nước để dập cháy.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN:
Sau khi sử dụng phương pháp này trong việc dạy Hóa học - 9 tại Trường
THCS Nga Trung năm học 2015 - 2016 nhất là đối với các tiết học Hóa học có thí
nghiệm. Theo dõi kết quả học tập của học sinh và qua thái độ của học sinh đối với
môn học tôi nhận thấy đa số các em làm thí nghiệm thành thạo hơn, kĩ năng thao
tác thí nghiệm theo quy trình khoa học hơn, nắm kiến thức sâu và bền vững hơn.
Kết quả học tập của các em có chuyển biến rõ rệt so với những năm trước đó khi
chưa áp dụng kinh nghiệm này.
Quan trọng là các em yêu thích học môn Hóa học, say mê nghiên cứu,
không còn thấy đó là một gánh nặng, là môn học khó nữa.
Sau một năm nghiên cứu, áp dụng tôi đã thu được kết quả khả quan, cụ thể
như sau :
Lớp

Sĩ số

Làm thí nghiệm
thành thạo
SL
%


15


I . KẾT LUẬN:
Để tiết học thành công theo cá nhân tôi người giáo viên cần phải nghiên cứu
trước bài học nắm vững được mục tiêu bài học. Cần xây dựng trước các hoạt động
sẽ tiến hành trên lớp, chuẩn bị tốt các phương tiện phục vụ cho dạy học, lường
trước các tình huống có thể xảy ra. Đối với các tiết có thí nghiệm cần phải trực
tiếp làm thử trước đảm bảo cho thí nghiệm thành công. Trong các tiết dạy có sử
dụng đồ dùng thí nghiệm người giáo viên cần phải tổ chức cho học sinh các hoạt
động nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, rèn luyện tư duy sáng tạo
cho học sinh, kích thích các em đề ra phương án và cách tiến hành thí nghiệm
khác… Trong sử dụng đồ dùng thí nghiệm cần coi trọng việc rèn luyện kĩ năng tự
học cho học sinh, kĩ năng tập đề xuất các phương án thí nghiệm. Trong việc tổ chức
sử dụng đồ dùng thí nghiệm cần phải kết hợp hài hòa việc học tập cá nhân với
việc học tập hợp tác nhóm. Qua thí nghiệm cần phải định hướng cho học sinh,
khuyến khích học sinh tự tìm tòi khám phá và vận dụng vào thực tiễn khuyến
khích khả năng tự chế tạo đồ dùng phục vụ học tập…
Để thực hiện được đề tài này tôi có được sự hỗ trợ rất lớn của Nhà trường và
các đồng nghiệp. Không những vậy, tôi còn nhận được sự đầu tư về cơ sở vật chất
cũng như sự góp ý của hội đồng khoa học nhà trường. Nhờ vậy tôi đã thực hiện
thành công đề tài này.
II. KIẾN NGHỊ:
- Các cấp ngành tổ chức các chuyên đề về đúc rút, viết Sáng kiến kinh nghiệm
đồng thời giới thiệu rộng rãi những sáng kiến có tính khả thi cao để đông đảo cán
bộ giáo viên cùng tham khảo.
- Với những kinh nghiệm của bản thân, không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong các bạn đồng nghiệp bổ sung góp ý thêm để cùng học hỏi nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status