A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hóa học là một trong các môn khoa học cơ bản có đóng góp quan trọng
vào sự phát triển của xã hội. Quá trình phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi
sự ra đời của các vật liệu mới, thuốc chữa bệnh... Bên cạnh những vai trò của
hóa học với nền khoa học kĩ thuật thì hóa học còn giúp học sinh giải thích được
nhiều hiện tượng thú vị trong đời sống hàng ngày, các hiện tượng trong thiên
nhiên....
Môn Hóa học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo
nói chung, của trường THCS nói riêng. Môn Hóa học ở trường THCS có những
đặc trưng riêng. Nội dung kiến thức của môn học này luôn luôn gắn liền với sự
vật và hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Việc khám phá và tiếp thu
kiến thức phụ thuộc rất nhiều vào các thí nghiệm bởi đặc điểm của khoa học
Hóa học vốn là khoa học thực nghiệm và nguyên tắc dạy học là nguyên tắc trực
quan “học đi đôi với hành”.
Làm các thí nghiệm Hóa học có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận
thức của học sinh, phù hợp với nguyên lý giáo dục, giúp các em quen dần với
phương pháp nghiên cứu khoa học, vì qua đó các em được tập quan sát, tư duy
biện chứng, rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, góp phần giáo dục kỹ năng sống,
chuẩn bị cho học sinh tham gia hoạt động thực tế. Do được tự mình tiến hành
các thao tác thí nghiệm… các em có thể nhanh chóng làm quen với những dụng
cụ và thiết bị dùng trong đời sống và sản xuất sau này.
Trong chương trình Hóa học 8, học sinh đã làm quen với các thao tác thí
nghiệm đơn giản, tập đưa ra “Dự đoán’’ và được giáo viên hướng dẫn làm thí
nghiệm để kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán. Lên lớp 9 phương pháp này
được phát triển và được nâng cao hơn, học sinh thường xuyên đưa ra nhiều dự
đoán khác nhau về cùng một hiện tượng, tự lực đề xuất các phương án thí
nghiệm, và thực hành thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Như vậy,
bên cạnh nhiệm vụ trang bị kiến thức và những hiểu biết cần thiết, trong mỗi bài
học Hóa học cần nâng cao khả năng tự tiến hành thí nghiệm (thực hành) của học
sinh, rèn luyện và phát triển ở các em những kĩ năng, năng lực nhận thức và góp
phần hình thành những phẩm chất, nhân cách phù hợp với yêu cầu của xã hội
trọng, ngăn nắp, gọn gàng. Vì vậy việc hướng dẫn học sinh kĩ năng thực hành
trong môn hóa học ở trường THCS, khi các em mới bước đầu làm quen với môn
hóa học là nhiệm vụ hết sức quan trọng của người giáo viên.
II. THỰC TRẠNG VIỆC TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM HÓA HỌC TẠI
TRƯỜNG THCS NGA MỸ
1- Về học sinh:
Học sinh còn rất lúng túng khi tiến hành thí nghiệm. Các em làm thí
nghiệm rất chậm đôi khi còn không theo đúng trình tự thí nghiệm dẫn đến kết
quả thí nghiệm chưa được chính xác, làm mất nhiều thời gian, ảnh hưởng rất
nhiều đến chất lượng của tiết học.
Vì hóa học là môn học khá mới và là một môn học khó, trừu tượng, nhiều
hiện tượng phức tạp nên phần lớn các em có tâm lí sợ học bộ môn. Bên cạnh đó
theo chương trình đổi mới sách giáo khoa Hóa học như hiện nay phần lớn các tiết
dạy Hóa học đều có thí nghiệm học sinh rất thích làm thí nghiệm nhưng kĩ năng
thực hành và xử lí kết quả thí nghiệm của các còn rất lúng túng, thậm chí có thể bị
nguy hiểm do hóa chất và dụng cụ bị vỡ. Từ lí thuyết áp dụng vào thực tế còn
chưa tự tin, chưa thành thạo.
Qua thực tế tìm hiểu việc làm thí nghiệm hoá học của học sinh trong giờ
học Hoá học ở trường THCS Nga Mỹ cho kết quả sau:
2
Biết làm thí nghiệm thực Biết nhưng không làm thí Không biết làm thí
hành hoá học
nghiệm thực hành hoá nghiệm thực hành hoá
học
học
12%
khác nhau đối với mỗi thí nghiệm:
1- Phân loại thí nghiệm: phân theo mức độ hoạt động tích cực của học
sinh
3
- Thí nghiệm biểu diễn; (ít tích cực): GV hoặc 1 HS thực hiện TN biểu
diễn: HS quan sát hiện tượng nhưng chỉ để chứng minh có phản ứng xảy ra hoặc
một tính chất, một quy luật mà GV đã nêu. ra.
- Thí nghiệm thực hành. (Rất tích cực): Nhóm HS trực tiếp thực hiện,
nghiên cứu thí nghiệm.
2- Các hình thức tổ chức thí nghiệm thực hành:
- Thí nghiệm thực hành đồng loạt;
- Thí nghiệm thực hành phối hợp;
- Thí nghiệm thực hành cá thể;
- Thí nghiệm thực hành ở ngoài lớp.
Trong đề tài này tôi sẽ trình bày các điểm cần lưu ý và những ví dụ minh hoạ
đối với mỗi loại thí nghiệm, với mỗi hình thức tổ chức thí nghiệm.
PHẦN I. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN THÍ NGHIỆM HÓA HỌC
1. Thí nghiệm biểu diễn
1.1. Nguyên tắc thực hiện:
Thí nghiệm biểu diễn là thí nghiệm do giáo viên hoặc một (một vài) học
sinh trình bày ở trên lớp. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các thí nghiệm
biểu diễn, bản thân tôi luôn có gắng thực hiện tốt các nội dung sau:
- Thí nghiệm phải đảm bảo thành công : Nếu thí nghiệm thất bại học
sinh sẽ mất tin tưởng vào bài học và ảnh hưởng xấu đến uy tín của giáo viên.
Muốn làm tốt được điều này, giáo viên phải:
+ Am hiểu bản chất của các hiện tượng Hóa học xảy ra trong thí nghiệm.
+ Nắm vững cấu tạo, tính năng, đặc điểm của từng dụng cụ thí nghiệm
phải hết sức thận trọng phải bố trí thí nghiệm ở nơi thoáng gió như cạnh cửa
theo hướng hút gió ra ngoài
- Để phát huy được tác dụng của thí nghiệm biểu diễn:
+ Thí nghiệm phải được tiến hành hữu cơ với bài học, tuỳ vào mục đích
của bài học mà đưa thí nghiệm đúng lúc.
+ Thí nghiệm phải tiến hành kết hợp với phương pháp giảng dạy khác
nhất là phương pháp đàm thoại và vẽ hình.
+ Thí nghiệm chỉ có hiệu quả tốt khi có sự tham gia tích cực, có ý thức
của học sinh. Vì vậy giáo viên phải làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của thí
nghiệm, cách bố trí thí nghiệm và các dụng cụ của thí nghiệm. Học sinh trực tiếp
quan sát và rút ra kết luận cần thiết.
1.2. Ví dụ minh hoạ:
Căn cứ vào mục đích, có thể chia thí nghiệm biểu diễn thành 3 loại:
1.2.1. Thí nghiệm nêu vấn đề
Thí nghiệm này nhằm nêu lên vấn đề cần nghiên cứu tạo ra tình huống có
vấn đề làm tăng hiệu quả của dạy học.
Ví dụ 1: BÀI 1: MỞ ĐẦU MÔN HÓA HỌC
Mục Hóa học là gì?
Trước khi vào bài này, để đặt vấn đề vào bài giáo viên có thể tổ chức làm
thí nghiệm sau đây:
5
Chuẩn bị:
Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, giá để ống nghiệm….
Hóa chất: Đinh sắt, dung dịch HCl
Cách tiến hành thí nghiệm:
GV lấy đinh sắt cho vào ống nghiệm đựng dd HCl. HS sẽ thấy đinh sắt
tan dần và xuất hiện bọt khí.
GV: Vậy vấn đề được giải quyết. Sắt không phản ứng với H 2SO4 đặc,
nguội và tương tự như vậy Fe không phản ứng với HNO 3 đặc, nguội (vì có tính
thụ động)
6
1.2.2. Thí nghiệm giải quyết vấn đề:
Thí nghiệm thuộc bài này được thực hiện giải quyết vấn đề đặt ra sau
phần nêu vấn đề. Bao gồm hai loại thí nghiệm:
1.2.2.1. Sử dụng thí nghiệm nghiên cứu có so sánh đối chiếu(Thí nghiệm đối
chứng) để rút ra tính chất hoá học của chất:
Là thí nghiệm tiến hành nghiên cứu vấn đề đặt ra thông qua đó giáo viên
hướng dẫn học sinh đi đến khái niệm cần thiết.
Ví dụ 1: Bài 39 : BENZEN
Phần III: Tính chất hoá học
Mục 2: Ben zen có phản ứng thế với brom không?
Chuẩn bị: Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, ống nhỏ giọt, giá đựng ống nghiệm
Hoá chất: Benzen, dung dịch Brôm
- Thí nghiệm nghiên cứu
- Giáo viên giới thiệu thí nghiệm: cho 2ml brôm lỏng vào ống nghiệm chưa 3 ml
ben zen rồi cho 1 gam bột sắt vào ống nghiệm sau đó đun trên ngọn lửa đèn cồn.
Học sinh quan sát thảo luận trả lòi câu hỏi:
? Màu sắc của brôm thay đổi như thế nào?
- GV: thuyết trình kết hợp mô hình động biểu diễn sự thay đổi liên kết trong
phân tử benzen.
PTHH:
Fe
→ C6H5Br(l) + HBr(k)
Chuẩn bị: Đinh sắt (loại đinh 10), dây đồng, dung dịch CuSO4, FeSO4, Ống
nghiệm, giá ...
Tiến hành:
- Cho đinh sắt vào ống nghiệm (1) đựng dd muối CuSO4
- Cho dây đồng vào ống nghiệm (2) đựng dung dịch FeSO4
HS quan sat, nhận xét hiện tượng:
Ô1.
- Có chất rắn màu đỏ bám quanh đinh sắt
- Dung dịch màu xanh nhạt dần và xuất hiện màu lục nhạt.
Ô 2. Không hiện tượng
PT: Fe(r) +
CuSO4(dd) →
Trắng xám
Xanh lam
FeSO4(dd)
Lục nhạt
+
Cu(r)
Đỏ
Sau đó GV cho đại diện nhóm trình bày kết quả. Viết PTHH. GV hỏi: Có phải
kim loại sắt đều tác dụng với các dung dịch muối không?
Vậy điều kiện để phản ứng giữa sắt với dd muối thực hiện được là gì? Từ
đó dẫn đến kết luận về tính chất của sắt tác dụng với dd muối. (Chú ý hoá trị của
1.2.2.3. Thí nghiệm củng cố:
Thí nghiệm thuộc loại này dùng để củng cố kiến thức đã nghiên cứu bao
gồm cả những thí nghiệm nói lên ứng dụng của kiến thức Hóa học trong đời
sống và giải bài tập.
Ví dụ:
Bài 26. CLO
Mục: Clo tác dụng với H2O.
Học xong mục này GV ra một bài tập: Thiết kế thí nghiệm nhận biết các chất
khí HCl, Cl2, O2 bằng phương pháp hóa học.
Chuẩn bị: 3 bình đựng khí HCl, Cl2, O2, giấy quỳ, cốc đựng nước, kẹp, ống hút...
Tiến hành thí nghiệm: Lấy 3 mẩu giấy quỳ nhúng vào nước rồi lần lượt cho vào
từng bình.
HS tiến hành, quan sát và giải thích:
- Bình làm giấy quỳ tím chuyển đỏ là HCl
- Bình làm giấy quỳ tìm chuyển đỏ sau mất màu ngay la Cl2
- Bình không làm giấy quỳ tìm chuyển màu là O2
KL: Giấy quỳ tím ẩm là thuốc thử để nhận biết khí Cl2
2. Thí nghiệm thực hành Hóa học:
2.1. Nguyên tắc thực hiện:
Thực hiện phương pháp này phải tuân thủ nguyên tắc sau:
9
- Thí nghiệm do tự tay học sinh tiến hành dưới sự hướng dẫn của giáo
viên.
- Thí nghiệm đơn giản, dễ làm, ít thao tác và nhanh cho hiện tượng rõ
ràng.
nhỏ chất lỏng vào ta gõ nhẹ đáy ống nghiệm vào gan bàn tay hay ngón tay trỏ,
tuyết đối không dùng ngón tay bịt miệng ống nghiệm mà xóc lên, xóc xuống.
* Đun nóng các chất trong ống nghiệm hay bình cầu: Dùng đèn cồn hơ
nóng nhẹ, đều ống nghiệm hay bình cầu rồi mới đặt đèn cồn cố định đun nóng
10
tập trung. Các dụng cụ sau khi đun nóng không được để vào chổ có nước hoặc
trên nền gạch men để tránh vỡ dụng cụ và điều đó cũng có nghĩa không được
rủa dụng cụ khi còn nóng.
2.3. Chuẩn bị tốt dụng cụ thí nghiệm thực hành, đảm bảo đủ về số
lượng, chất lượng.
Điều này đòi hỏi giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình thực hành ngay
từ đầu năm học, xác định cần dụng cụ gì, số lượng bao nhiêu, còn thiếu những gì
để có kế hoạch giải quyết trong năm bằng cách mua thêm hoặc tự làm hoặc
hướng dẫn học sinh tự làm.
2.3.1. Chuẩn bị của giáo viên
Giáo viên sau khi nhận lớp, tìm hiểu kĩ về tình hình học tập của lớp về bộ
môn, sau đó phối hợp với giáo viên chủ nhiệm tiến hành việc phân học sinh lớp
thành từng nhóm, trong nhóm phải có đủ các đối tượng học sinh theo năng lực
học tập của bộ môn, có nhóm trưởng, nhóm phó để khi nhóm trưởng vắng thì
nhóm phó thay thế, có thư kí để ghi chép hiện tượng xảy ra trong quá trình làm
thí nghiệm, ý kiến thống nhất trong phần giải thích hiện tượng và viết PTHH
đối với mỗi thí nghiệm.
Nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân công , điều hành hoạt động của
nhóm theo hướng dẫn của giáo viên, yêu cầu nhóm trưởng khi phân công các
thành viên trong nhóm phải thường xuyên đổi vị trí làm việc của mỗi thành viên
để tất cả học sinh trong nhóm đều được làm thí nghiệm, qua nhiều lần thí
nghiệm mỗi học sinh sẽ có kĩ năng thực hành tốt hơn.
2.3.2. Chuẩn bị của học sinh
Nội quy học sinh cần thực hiện:
1/Học sinh phải nghiên cứu trước ở nhà các thí nghiệm mà các em phải
thực hiện trong giờ học hoặc trong tiết thực hành về những công việc cụ thể
như: dụng cụ, hóa chất cho mỗi thí nghiệm, cách tiến hành từng thí nghiệm, dự
đoán hiện tượng xảy ra, viết PTHH nếu được và dự kiến về phần giải thích hiện
tượng.
2/Trên bàn thí nghiệm không được để đồ dùng riêng như: cặp sách, nón,
mũ….
3/ thực hiện đúng nội quy phòng thí nghiệm, quy tắc phòng độc, phòng
cháy và chú ý bảo quản dụng cụ, hóa chất thí nghiệm…
4/ Phải biết tiết kiệm hóa chất, hóa chất đã sử dụng không được đổ chung
vào lọ hóa chất ban đầu.
5/ Trong khi làm thí nghiệm không được nói chuyện riêng, không đi lại
làm mất trật tự chung, không tự động lấy dụng cụ, hóa chất ở bàn khác.
6/ Khi làm thí nghiệm xong phải rửa dụng cụ, lau dọn vệ sinh, sắp xếp
dụng cụ, hóa chất đúng nơi quy định.
2.4. Trình tự tổ chức một thí nghiệm thực hành
Bước 1: Kiểm tra công tác chuẩn bị.
1/Về công tác chuẩn bị của học sinh, nhóm học sinh.
Sau khi giáo viên nêu mục tiêu của bài học, bài thực hành, giáo viên yêu
cầu học sinh các nhóm cho biết công tác chuẩn bị của học sinh , nhóm học sinh
đối với các thí nghiệm gồm:
Bảng 1
STT
Tên
thí nghiệm
Dụng cụ, hóa chất
học của nhôm và sắt”, học sinh phải lấy lượng hóa chất theo đúng tỉ lệ Fe: S là
7:4.Khi nung hỗn hợp cần hơ đều ống nghiệm, sau đó tập trung ngọn lửa của
đèn cồn vào hỗn hợp , chú ý ngọn lửa phải lớn để đủ nhiệt cho hỗn hợp phản
ứng , nếu không phản ứng rất khó xảy ra.
Thí nghiệm đồng tác dụng với Axit sunfuric đặc trong bài Axit sunfuric,
lượng a xit lấy chỉ 1ml ( khoảng 10 giọt) cho vào ống nghiệm, kép ống nghiệm
nằm ở 1/3 phía trên của ống nghiệm, khi đun nóng củng cần hơ nóng đều ống
nghiệm sau đó mới tập trung ngọn lửa vào nơi có chứa hóa chất, chú ý ngọn lửa
nhỏ để dễ quan sát hiện tượng.
Khi giáo viên hướng dẫn cần có một số thao tác thí nghiệm để minh họa
nhưng không được tốn nhiều thời gian.
Bước 3: Học sinh tiến hành thí nghiệm.
Trong quá trình làm thí nghiệm các thành viên phải thực hiện đúng phân
công của nhóm trưởng, tập trung quan sát hiện tượng thí nghiệm, thảo luận để đi
đến thống nhất về các hiện tượng xảy ra, đồng thời bàn bạc để đưa ra nhận xét
thống nhất đúng với hiện tượng xảy ra và rút ra kết luận chung hợp lí.
Bước 4: Viết tường trình thí nghiệm với bài thực hành:
Sau khi hoàn thành các thí nghiệm, giáo viên yêu cầu các nhóm làm vệ
sinh, rửa dụng cụ, thu dọn hóa chất để dụng cụ, hóa chất còn lại đúng theo quy
định như lúc ban đầu, lưu ý hóa chất dễ chấy, nổ không để gần nhau sau đó học
13
sinh tiến hành viết tường trình thí nghiệm theo cá nhân hoặc nhóm theo yêu cầu
của giáo viên.
Mẫu báo cáo thực hành được giáo viên hướng dẫn ở tiết học trước theo mẫu sau:
Tên nhóm:……..
BẢN TƯỜNG TRÌNH THÍ NGHIỆM
2.5. Ví dụ minh hoạ:
Ví dụ 1:
Tiết 14-Bài 9: Tính chất hoá học của muối
Phần 1: Tính chất hoá học của muối
Mục 1: Muối tác dụng với kim loại
Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ, ống nhỏ giọt, giá đựng ống nghiệm, thìa lấy hoá
chất
Hoá chất: Cu, AgNO3, ZnCl2
Hướng dẫn HS: cho dây Cu vào Ô1 đựng bạc nitrat, cho dây Ag vào Ô2 đụng
đồng nitrat. Trả lời câu hỏi
1. Hiện tượng ở 2 ống nghiệm như thế nào?
2. Giải thích và lập PTHH
3. Có phải bất cứ dd muối nào cũng tác dụng với tất cả kim loại không?
HS tiến hành theo nhóm rồi trả lời:
- Học sinh nêu hiện tượng:
Ô1: Xuất hiện Ag màu xám bám vào dây Cu và dung dịch có màu xanh
lam.
- Giải thích: Do Cu đã đẩy Ag ra khỏi dung dịch muối AgNO 3 và một phần Cu
bị hoà tan tạo thành dung dịch Cu(NO3)2 có màu xanh lam.
- PTHH:
Cu(r) + 2AgNO3(dd)
→ Cu(NO3)2(dd) + 2Ag(r)
Ô2 : Không có hiện tượng gì.
14
1. Thí nghiệm thực hành đồng loạt.
Loại thí nghiệm này tất cả các nhóm học sinh đều cùng làm một thí
nghiệm, cùng thời gian và cùng một kết quả. Đây là thí nghiệm được sử dụng
nhiều nhất hiện nay vì có nhiều ưu điểm. Đó là:
Trong khi làm thí nghiệm các nhóm trao đổi giúp đỡ nhau và kết quả
trung bình đáng tin cậy hơn.
Việc chỉ đạo của giáo viên tương đối đơn giản vì mọi việc uốn nắn hướng
dẫn, sai sót, tổng kết thí nghiệm đều được hướng dẫn đến tất cả học sinh.
Bên cạnh những ưu điểm, còn một số hạn chế:
15
Do trình độ các nhóm không đồng đều nên có nhóm vội vàng trong khi
thao tác dẫn đến hạn chế kết quả.
Đòi hỏi nhiều bộ thí nghiệm giống nhau gây khó khăn về thiết bị.
2. Thí nghiệm thực hành loại phối hợp.
Trong hình thức tổ chức này học sinh được chia thành nhiều nhóm khác nhau,
mỗi nhóm chỉ làm thí nghiệm một phần đề tài trong thời gian như nhau, sau đó phối
hợp các kết quả của các nhóm lại sẽ được kết quả cuối cùng của đề tài.
Ví dụ: Trong bài 17 “Dãy hoạt động hóa học”. bài này có 4 thí nghiệm Giáo
viên phân công:
Nhóm 1, 2: Làm thí nghiệm 1.
Nhóm 3, 4: Làm thí nghiệm 2.
Nhóm 5, 6: Làm thí nghiệm 3.
Nhóm 7, 8: Làm thí nghiệm 4
=>Kết quả thí nghiệm của các nhóm khái quát thành dãy hoạt động hóa
học đơn giản: Na, Fe, H, Cu, Ag
-Ưu điểm của loại thí nghiệm này:
+ Tiết kiệm thời gian cho tiết học.
Thứ ba: HS ý thức đúng đắn vai trò của thí nghiệm, tích cực hợp tác với
bạn bè và giáo viên giảng dạy. Đối với những thí nghiệm được hướng dẫn về
nhà làm thì phải làm theo đúng hướng dẫn của giáo viên và phải giải quyết được
vấn đề mà giáo viên nêu ra.
Sau đây tôi xin đưa ra một vài thí nghiệm vui hướng dẫn học sinh về nhà
tự làm để các em khắc sâu hơn kiến thức bài học.
Ví dụ 1: BÀI TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA KIM LOẠI
Ở bài trước, khi hướng dẫn học sinh về nhà GV hướng dẫn làm thì nghiệm đốt
nhôm trong không khí.
GV hướng dẫn: Lấy mảnh nhôm hoặc dây nhôm (VD móc treo quần áo
bằng nhôm bị hỏng) mài vào viên đá mài khô hoặc giũa lấy khoảng 0,5 gam.
Cho bột nhôm vào mảnh giấy gấp hình lòng máng rồi rắc từ từ trên ngọn nến.
Nêu hiện tượng , giải thích và dự đoán sản phẩm rồi lập PTHH.
4. Thí nghiệm vui:
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm vui với mục đích củng cố
bài học, gây hứng thú, tạo niềm say mê học tập.
Với môn hóa học, các thí nghiệm vui chủ yếu là các thí nghiệm phức tạp
hoặc đòi hỏi hóa chất khó kiếm. Tuy nhiên nên tận dụng những thí nghiệm có
thể làm ở nhà để học sinh tự tiến hành ở nhà (thí nghiệm thực hành ngoài lớp)
Ví dụ 1: Mực thần kì:
Khi dạy về tính háo nước của axit sunfric đặc ta có thể làm thí nghiệm này
Chuẩn bị: Dung dịch H2SO4 loãng, tờ giấy A4 trắng, bút lông.
Cách tiến hành:
- GV làm trước tiết học lấy bút lông chấm vào dd axit trên rồi viết lên giấy một
thông điệp bất kì rồi để cho khô VD " thời gian hành quân lúc 4h"
- Thông báo với học sinh: Một chiến sĩ tình báo X 9 của ta hoạt động trong lòng
địch đã chuyển về cho chúng ta một thông điệp trong tờ giấy này. Bây giờ làm
thế nào để biết được nội dung thông điệp đó là gì?
GV để học sinh suy nghĩ và thảo luận một lúc.
- Bông, băng, gạc đã tẩy trùng.
b.Cách cứu chữa một số tai nạn thường gặp.
* Cứu chữa chảy máu nhẹ:
- Lấy bông tẩm máu.
- Cầm máu bằng dung dịch FeCl3.
- Lấy bông bôi sát trùng bằng dung dịch KMnO4, cồn iot
- Dùng băng gạc băng lại.
* Cứu chữa bỏng A xit đặc, nhất là a xit H2SO4 đặc:
-Dội nước rửa ngay nhiều lần, nếu có vòi nước thì cho chảy vào vết bỏng
khoảng 5 phút.
-Rửa lại bằng dung dịch NaHCO3( tuyệt đối không rửa bằng xà phòng).
* Cứu chữa bỏng kiềm:
- lúc đầu rửa như bỏng a xit.
- Rửa lại bằng dung dich CH3COOH 3-5% (giấm ăn)
* A xit bắn vào mắt ( Kiềm bắn vào mắt)
- Nhanh chóng phun nước cất ở bình tia vào mắt hoặc nhúng mắt vào chậu
nước cất và mở to mắt ra vài phút.
- Tiết theo rửa bằng dung dịch NaHCO3 3% ( nếu a xit bắn vào mắt) và dung
dịch a xit bo ric 2% (nếu kiềm bắn vào mắt)
c .Cách phòng tránh cháy nổ
18
- Cách phòng tránh: trong phòng thí nghiệm phải được trang bị các dụng cụ
phòng tránh cháy nổ như bình CO2,túi cát, nước, tấm vải cotton dày…
- Dập tắt đám cháy trong phòng thí nghiệm
+Nước: Nước sử dụng có hiệu quả khi dập cháy các vật rắn thông thường
như gỗ, giấy, than, cao su, vải và một số chất lỏng hòa tan trong nước (axit hữu
dụng sáng kiến
Sau khi áp
dụng sáng kiến
Giỏi
Khá
Trung
bình
Yếu
4%
20%
58%
18%
13%
32%
53%
2%
3%
Để tiết học thành công thì người giáo viên cần phải nghiên cứu trước bài
học nắm vững được mục tiêu bài học. Cần xây dựng trước các hoạt động sẽ tiến
hành trên lớp,chuẩn bị tốt các phương tiện phục vụ cho dạy học, lường trước các
tình huống có thể xảy ra. Đối với các tiết có thí nghiệm cần phải trực tiếp làm
thử trước đảm bảo cho thí nghiệm thành công.Trong các tiết dạy có sử dụng đồ
dùng thí nghiệm người giáo viên cần phải tổ chức cho học sinh các hoạt động
nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, rèn luyện tư duy sáng tạo cho
học sinh, kích thích các em đề ra phương án và cách tiến hành thí nghiệm
khác…. Trong sử dụng đồ dùng thí nghiệm cần coi trọng việc rèn luyện kĩ năng tự
học cho học sinh, kĩ năng tập đề xuất các phương án thí nghiệm. Trong việc tổ
chức sử dụng đồ dùng thí nghiệm cần phải kết hợp hài hòa việc học tập cá nhân
với việc học tập hợp tác nhóm. Qua thí nghệm cần phải định hướng cho học
sinh,khuyến khích học sinh tự tìm tòi khám phá và vận dụng vào thực tiễn
khuyến khích khả năng tự chế tạo đồ dùng phục vụ học tập…..
Để thực hiện được đề tài này tôi có được sự hỗ trợ rất lớn của Nhà trường,
tổ chuyên môn, và các đồng nghiệp. Không những vậy, tôi còn nhận được sự
đầu tư về cơ sở vật chất cũng như sự động viên, góp ý của hội đồng khoa học
nhà trường. Nhờ vậy tôi đã thực hiện thành công đề tài này.
II. NHỮNG KIẾN NGHỊ SAU KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Với những kinh nghiệm ít ỏi của bản thân, chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp bổ sung
góp ý thêm để cùng học hỏi nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Tôi xin chân thành
cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 12 tháng 4 năm 2015
Tôi xin cam đoan đây là SKKN do
chính bản thân viết. Không coppy của
người khác