I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mục tiêu giáo dục THCS nhấn mạnh tính toàn diện: “Dạy chữ- dạy ngườidạy nghề", qua dạy học hình thành cho học sinh các năng lực chủ yếu đó là: năng
lực hành động, năng lực thích ứng, năng lực cùng sống và làm viêc, năng lực tự
khẳng định mình.
Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung và
trường THCS nói riêng phải có nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
cho thế hệ trẻ về đạo đức và trí tuệ, về thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản phát
triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người
Việt Nam XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cao phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, tiêp cận trình độ giáo dục phát triển
của các nước trong khu vực và trên thế giới trước xu thế hội nhập toàn cầu.
Trường THCS Quảng Cát là một trường vùng ven của Thành phố Thanh
Hóa, việc nâng cao chất lượng giáo dục để hòa nhập với mặt bằng chung của Thành
phố Thanh Hóa là vấn đề mà cán bộ quản lý, giáo viên nhà trường luôn trăn trở.
Làm thế nào để nâng cao chất lượng khi mà cơ sở vật chất còn khó khăn, đội ngũ
còn thiếu cả về số lượng, cơ cấu bộ môn, đối tượng học sinh đa số chưa thực sự
được gia đình quan tâm đúng mức, trong bốí cảnh như vậy mỗi cán bộ quản lí, mỗi
giáo viên trong nhà trường đều đã trăn trở để tìm ra những giải pháp phù hợp, hữu
hiệu nhằm phát huy nội lực, tập trung đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao
chất lượng dạy học nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Để đổi
mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng giáo dục thì chúng ta không thể
không quan tâm đến vai trò của đội ngũ giáo viên và tổ chuyên môn bởi: Tổ
chuyên môn là một bộ phận không thể thiếu được trong nhà trường, vì vậy việc
quản lý chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học là một
vấn đề không thể thiếu được của mỗi nhà trường .
Trong một số năm trước đây tôi nhận thấy tình hình sinh hoạt tổ chuyên môn
của trường đôi khi vẫn còn mang tính hình thức, các thành viên trong tổ khi sinh
hoạt chưa mạnh dạn trao đổi về chuyên môn, với một số giáo viên việc thao giảng
các cấp chỉ là nghĩa vụ, đi thi giáo viên giỏi là thực hiện nghĩa vụ khi được nhà
trường phân công, việc dự giờ thăm lớp đôi khi chỉ là bắt buộc, đối phó với việc
Cát.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này giúp CBQL nhà trường chỉ đạo quản lý tổ chuyên môn đổi mới sinh
hoạt chuyên môn qua nghiên cứu bài học nhằm nâng cao năng lực giáo viên, nâng
cao chất lượng giảng dạy.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu về thực hiện sinh hoạt chuyên môn qua nghiên cứu bài
học, Quy định, thông tư hướng dẫn của Bộ, ngành... phân tích - tổng hợp tài liệu
xây dựng cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu thực tiễn nhằm thu thập các thông tin thực tiễn như:
Điều tra, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, ý kiến của giáo viên, kinh nghiệm bản
thân rút ra trong quá trình thực hiện, một số ý kiến đóng góp của đồng nghiệp…
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GD;
Phương pháp thống kê toán học.
Thời gian nghiên cứu từ đầu năm học 2015-2016 đến hết tháng 3 năm học
2015-2016.
2
II. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Tổ chuyên môn là tổ chức cơ sở của bộ máy chính quyền nhà trường trực tiếp
quản lý giáo viên về mặt tư tưởng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kế hoạch giáo
dục và giảng dạy, kết quả đào tạo học sinh.
Là nơi tổ chức thực hiện chương trình theo nội dung, phương pháp và biên
chế đã quy định; nơi triển khai toàn bộ các hoạt động giáo dục tới học sinh.
Tổ chuyên môn là nơi tập hợp đoàn kết giáo viên, tiến hành trao đổi chuyên
môn, phát huy những sáng kiến kinh nghiệm giáo dục. Đây cũng chính là nơi chịu
trách nhiệm trực tiếp về chất lượng hiệu quả dạy và học của nhà trường. Đồng thời
3
Giáo viên cần xác định mục tiêu kiến thức và kỹ năng mà học sinh (HS) cần
đạt được khi tiến hành nghiên cứu (theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở từng môn học),
đảm bảo phù hợp với trình độ của HS, năng lực chuyên môn của giáo viên.
Các GV trong tổ thảo luận chi tiết về thể loại bài học, nội dung bài học, các
phương pháp, phương tiện dạy học đạt hiệu quả cao, cách tổ chức dạy học phân hóa
theo năng lực của học sinh, cách rèn kỹ năng, hướng dẫn học sinh vận dụng kiến
thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn...Dự kiến những thuận lợi, khó khăn
của HS khi tham gia các hoạt động học tập và các tình huống xảy ra và cách xử lý
(nếu có)…
Tổ trưởng chuyên môn (TTCM) giao cho GV trong nhóm soạn giáo án của
bài học nghiên cứu, trao đổi với các thành viên trong tổ để chỉnh sửa lại giáo án.
Các thành viên khác có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch chi tiết cho việc quan sát và
thảo luận sau khi tiến hành bài học nghiên cứu.
Bước 2. Tiến hành bài giảng minh họa (BGMH) và dự giờ
Sau khi hoàn thành giáo án của bài học nghiên cứu chi tiết, một GV sẽ dạy
minh họa bài học nghiên cứu (BGMH) ở một lớp học cụ thể, các GV còn lại trong
nhóm tiến hành dự giờ và ghi chép thu thập dữ kiện về bài học.
GV dự giờ phải đảm bảo nguyên tắc: Không làm ảnh hưởng đến việc học tập
của học sinh; không gây khó khăn cho giáo viên dạy minh họa; khi dự giờ phải tập
trung vào việc học của học sinh, cách phản ứng của học sinh trong giờ học, cách
làm việc nhóm HS, những khó khăn vướng mắc, thái độ tình cảm của học sinh...
Quan sát tất cả đối tượng học sinh, không được “bỏ rơi” một HS nào.
GV cần từ bỏ thói quen đánh giá giờ qua hoạt động của GV dạy, người dự
cần học tập, hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy. Đặt mình vào vị trí của
người dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học của HS để tìm cách giải
quyết.
Luyện tập cách quan sát và suy nghĩ về việc học của HS trong giờ học, có
bài, chuẩn bị phương tiện dạy học...chiếm rất nhiều thời gian. Vậy làm thế nào để
giáo viên hào hứng tham gia sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là cả
một vấn đề cần quan tâm của công tác quản lí chuyên môn trong nhà trường, đòi
hỏi phải xây dựng kế hoạch khoa học, phù hợp, nội dung sinh hoạt phải thiết thực,
gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ của giáo viên, làm cho giáo viên thấy tham gia sinh
hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là một nhu cầu để nâng cao chất lượng.
Theo quy định, tổ chuyên môn sinh hoạt một tháng hai lần, nhưng thực tế
nếu việc xây dựng kế hoạch, chuẩn bị nội dung sinh hoạt không đảm bảo, giáo viên
gặp khó khăn không được giúp đỡ kịp thời; các văn bản chỉ đạo không được tìm
hiểu kĩ càng dẫn đến thực hiện không tốt, ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy của
giáo viên và người phải chịu thiệt thòi chính là học sinh.
Tình hình thực tế năm học 2015 – 2016 tại trường THCS Quảng Cát :
5
*Đội ngũ: Tổng số 23 CBGV trong đó biên chế 21 người, hợp đồng thành
phố 02 người, vì vậy nhà trường phải hợp đồng công việc thêm 02 người để đảm
bảo về cơ cấu bộ môn, trường có 2 tổ chuyên môn:
- Tổ KHTN có 12 người, trong đó 02 CBQL còn 10 GV ( 07 biên chế, 03
hợp đồng) trình độ đại học 10 đ/c, Thạc sĩ 02 đ/c.
- Tổ KHXH có 11 người. (Trình độ đại học 7 đ/c, CĐSP 04 đ/c )
Nhìn chung, đội ngũ giáo viên có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt, có năng
lực chuyên môn, có uy tín với học sinh và nhân dân địa phương, nhiệt tình trong
công việc và có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ.
*Học sinh: tổng 423 em chia 12 lớp, mỗi khối 3 lớp.
Đa số học sinh là con em nông dân, mức sống còn khó khăn, điều kiện học
tập còn hạn chế, cha mẹ thường phó mặc việc học tập của con em cho nhà trường.
*Cơ sở vật chất: Phòng học đầy đủ, đã có 3 phòng chức năng được trang bị
máy chiếu đa năng, song đồ dùng dạy học đã hư hỏng, xuống cấp nhiều chưa đáp
ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học.
môn qua nghiên cứu bài học.
- Một số giáo viên chưa thực sự hiểu rõ về cơ sở lý luận về sinh hoạt chuyên
môn qua nghiên cứu bài học, còn mơ hồ chưa xác định cần làm thế nào.
- Tâm lý ngại thay đổi, cách sinh hoạt cũ đã đi vào tiềm thức.
Thực hiện nhiệm vụ năm học 2015 – 2016, thực thi nhiệm vụ của cán bộ
quản lý phụ trách chuyên môn, tôi nhận thấy cần tăng cường công tác quản lý, chỉ
đạo để việc sinh hoạt tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học trong nhà trường đạt
hiệu quả cao hơn, mặc dù gặp nhiều khó khăn khi đề cập vấn đề này song được sự
quan tâm hỗ trợ của đồng nghiệp, được sự thống nhất giúp đỡ của đồng chí Hiệu
trưởng, tôi xin đưa ra vấn đề “Một số biện pháp quản lý tổ chuyên môn sinh hoạt
chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học” góp phần nâng cao chất lượng dạy
học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
2.3. Những giải pháp đã thực hiện tại trường THCS Quảng Cát
2.3.1. Giải pháp thứ nhất: Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch
thực hiện sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học
Căn cứ Công văn số 1487/SGDĐT-GDTrH ngày 21 tháng 8 năm 2013
của Sở GD&ĐT Thanh Hóa về việc hướng dẫn nhiệm vụ GDTrH năm học 20132014, Căn cứ Công văn số 361/PGDĐT-THCS ngày 28 tháng 8 năm 2013
của
Phòng GD&ĐT TP Thanh Hóa về việc hướng dẫn nhiệm vụ GDTrH và TTGDTX
năm học 2013-2014 trong đó có nội dung triển khai thực hiện đổi mới sinh hoạt tổ
chuyên môn theo NCBH và kế hoạch đổi mới PPDH, kiểm tra đánh giá của nhà
trường, các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch thực hiện Đổi mới nội dung SHCM
theo NCBH trình ban giám hiệu phê duyệt, coi việc SHCM theo NCBH là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm về đổi mới PPDH trong năm học 2014-2015 và
năm học 2015-2016. Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch thực hiện ít nhất 2
bài/năm/môn đối với hai môn Ngữ văn, Toán, 1 bài/năm/ môn đối với các môn còn
lại chia ra theo học kỳ để thực hiện. Thời gian chuẩn bị cho một bài dạy là 2 tuần,
thảo luận xây dựng kế hoạch bài học trong tuần 2, dạy minh họa sở tuần 4 hàng
tháng.
2.3.2. Giải pháp thứ hai: Động viên về mặt tư tưởng, nâng cao nhận thức
sinh hoạt chuyên môn truyền thống và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài
học.
Thông qua tập huấn làm cho giáo viên nắm được bản chất của sự đổi mới
sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là xóa bỏ cách sinh hoạt chuyên
môn truyền thống, hình thành thói quen và cách sinh hoạt chuyên môn mới trên các
phương diện sau: triết lí sinh hoạt chuyên môn, vấn đề quan tâm và thời lượng thảo
luận. Cụ thể là: từ chỗ chủ yếu quan sát giáo viên sang quan sát học sinh là trọng
tâm, từ đánh giá trình độ, cách dạy của giáo viên sang suy ngẫm và chia sẻ về việc
học của học sinh, cùng suy đoán các nguyên nhân và đưa ra những cách giải quyết
khắc phục. Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là một quá trình với
nhiều khâu, nhiều bước chứ không còn đơn thuần chỉ là một buổi các thành viên
trong tổ đến để bàn bạc về một đơn vị kiến thức khó dạy nào đó trong chương trình
nữa.
Sự khác nhau giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống
và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
Sinh hoạt chuyên môn truyền Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên
thống
cứu bài học
1. Mục - Tập trung vào việc đánh giá, - Không thực hiện đánh giá xếp loại
đích
xếp loại tiết dạy theo các tiêu chí giờ dạy theo các tiêu chí đã quy
đã quy định;
định.
- Thống nhất cách dạy các dạng - Tạo cơ hội cho GV phát triển năng
8
bài để tất cả GV thực hiện nhằm
nâng cao kỹ năng dạy học. Bài
dạy minh họa được coi là bài dạy
họa
các kiến thức trong bài), tuân thủ
thời gian, tập trung vào các HS
khá giỏi (sợ cháy giáo án). Vì
vậy, không báo quát lớp. Sau tiết
dạy, GV không biết được suy
nghĩ và cảm xúc của (từng nhóm)
HS.
- Đa số các tiết dạy minh họa
thường mang tính “biểu diễn trình diễn”.
(- Để đối phó với việc đánh giá,
xếp loại tiết dạy, mốt số GV đã
“chuẩn bị trước”).
lực chuyên môn, phát huy khả năng
sáng tạo của mình, kết nối lí thuyết
với thực hành, ..
- Đảm bảo tất cả HS tham gia quá
trình học tập, đồng thời nâng cao
chất lượng học tập của từng HS
- Bài dạy minh hoạ do nhóm CBQL,
GV trong tổ thiết kế. Khuyến khích
linh hoạt sáng tạo, không phụ thuộc
máy móc vào quy trình, các bước
dạy học trong SGK, SGV.
- Nhóm có thể điều chỉnh nội dung,
thời lượng, PPDH, KTDH, ... cho
phù hợp với yêu cầu tiết dạy và đối
tượng HS.
là đánh giá, xếp loại tiết dạy. Vì
vậy, người dự giờ thường tập
trung mọi sự chú ý theo dõi GV
dạy, ít chú ý đến người học (HS).
- Người dự giờ là GV các khối, các
môn học để cùng chia sẻ kinh
nghiệm dạy học dựa trên thực tế học
tập của HS
- Bố trí số lượng vừa phải, đứng ở vị
trí thuận lợi để quan sát, ghi chép, sử
dụng các kĩ thuật, chụp ảnh, quay
phim ... những hành vi, tâm lí, thái
độ của HS để có dữ liệu phân tích
việc học tập của HS.
5. Phân
tích tiết
dạy
minh
họa
- Các ý kiến phân tích, nhận xét
sau tiết dạy nhằm mục đích đánh
giá xếp loại GV dạy. Thông
thường người dự giờ sẽ dựa vào
các tiêu chí đã quy định để nhận
xét. Ý kiến nhận xét thường
chung chung, ít có minh chứng từ
việc học của HS.
mang tính xây dựng; tập trung phân
tích các vấn đề liên quan đến việc
học của HS.
- Không đánh giá, xếp loại người dạy
(nếu kết quả không như mong muốn)
thì xem đó là bài học chung để mỗi
GV tự rút kinh nghiệm.
- Người chủ trì tôn trọng và lắng
nghe tất cả ý kiến của GV, không áp
đặt ý kiến của mình hoặc của một
nhóm người. Tóm tắt các vấn đề thảo
luận và đưa ra các biện pháp hỗ trợ
HS.
6. Kết
quả
a) Đối với học sinh
- Kết quả của HS được cải thiện.
- HS tự tin hơn, tham gia tích cực
vào các hoạt động học, không có học
sinh nào bị “bỏ quên”.
- Quan hệ giữa các HS trở nên thân
thiện, gần gũi về khoảng cách kiến
10
- Một số tiết dạy minh họa được
“chuẩn bị trước”, HS chủ yếu là
“diễn viên” nên tiết dạy không
của GV trong quá trình dạy học.
Vì, vậy, GV thường ngại tâm sự,
chia sẻ với CBQL.
- GV dạy phải thiết kế bài soạn
theo mẫu chung, bám sát SGK,
sách GV, ... Vì vậy, các GV
thường chép (in) giáo án lẫn
thức.
b) Đối với giáo viên.
- Chủ động sáng tạo, tìm ra các biện
pháp để nâng cao chất lượng dạy và
học.
- Tự nhận ra hạn chế của bản thân để
điều chỉnh kịp thời.
- Quan tâm đến những khó khăn của
HS, đặc biệt là HS yếu, kém.
- Quan hệ giữa đồng nghiệp trở nên
gần gũi, cảm thông, chia sẻ và giúp
đỡ lẫn nhau.
c) Đối với cán bộ quản lí.
- Đặt bài học lên hàng đầu, đánh giá
sự linh hoạt sáng tạo của của từng
GV.
- Có cơ hội bám sát chuyên môn,
hiểu được nguyên nhân của những
khó khăn trong quá trình dạy và học
để có biện pháp hỗ trợ kịp thời.
Học kì I: Tháng 9 hai môn: Vật lý (đ/c Cao Thanh); Tiếng anh (đ/c Kiều Hoa)
Tháng 10 hai môn: Lịch sử (đ/c Lê Trang); Toán (đ/c Đỗ Dung)
Học kì II: Tháng 02 hai môn: Địa lí (đ/c Nguyễn Quang); Hóa (đ/c Nguyễn Nga)
Tháng 03 hai môn: Ngữ văn (đ/c Hoàng Yến); Sinh (đ/c Bùi Tuyết)
Cả tổ chuyên môn dự giờ, rút kinh nghiệm một cách tỉ mỉ, cụ thể từ lí luận
phương pháp dạy học đến điều kiện trang thiết bị dạy học, tình hình thực tế chất
lượng học tập của học sinh, các khó khăn của học sinh gặp phải khi học bài, cách
tháo gỡ khó khăn...
2.3.6. Giải pháp thứ sáu: Đầu tư mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ
sở vật chất đáp ứng yêu cầu đổi mới
Để tạo điều kiện triển khai sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học,
nhà trường đã bố trí dạy ở 3 phòng chức năng có bảng phụ, máy chiếu … phục vụ
việc giảng dạy. Mua thêm dụng cụ thí hóa nghiệm cho các môn có bài thực hành
như Hóa, Lý, Sinh...
Hướng dẫn bố trí lại chỗ ngồi thuận lợi cho giáo viên dự giờ và học sinh
tham gia thảo luận. Muốn đổi mới PPDH thành công, yêu cầu người học cũng phải
đổi mới cách học. Cách dạy và cách học phải phù hợp với nhau. Học sinh lâu nay
12
vẫn quen cách học cũ, thụ động. Một trong những cách làm thay đổi cách học của
học sinh là thay đổi cách bố trí chỗ ngồi truyền thống như lâu nay. Trong các giờ
dạy minh họa nghiên cứu bài học, nhà trường chỉ đạo giáo viên phải ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy học, phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, các
kỹ thuật dạy học mới sao cho hiệu quả và bố trí học sinh ngồi theo các nhóm nhỏ.
2.3.7. Giải pháp thứ bảy: Tham gia sinh hoạt tổ chuyên môn theo nghiên
cứu bài học một cách tích cực chủ động. Đánh giá định kỳ kết quả
sinh hoạt CM qua nghiên cứu bài học.
Khi tham gia sinh hoạt chuyên môn qua nghiên cứu bài học tôi đóng vai trò
là thành viên chứ không phải cán bộ quản lí chuyên môn đến giám sát để tạo không
13
- Mọi người đã nhận thức được trách nhiệm của mình trong công cuộc “Đổi
mới căn bản và toàn diện” nền giáo dục nước nhà bắt đầu từ những việc làm cụ thể
như sinh hoạt chuyên môn qua nghiên cứu bài học..
4.2. Thông qua thực hiện SHCM theo NCBH, giáo viên dần dần tự tin, chủ
động, sáng tạo hơn trong giảng dạy, luôn phải suy nghĩ tìm ra biện pháp để nâng
cao chất lượng dạy và học; có cơ hội nhìn lại quá trình dạy để kịp thời điều chỉnh;
quan tâm nhiều hơn đến mọi đối tượng học sinh; cải thiện tốt hơn mối quan hệ với
đồng nghiệp, sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ đồng nghiệp, tôn trọng và học hỏi lẫn
nhau. Giáo viên được “tự do-sáng tạo” định hướng, hướng dẫn học sinh biết biến
quá trình học thành quá trình tự học. Như thế, mối quan hệ thầy- trò được cải thiện
theo chiều hướng tích cực, thân thiện, cởi mở hơn trước đây. Giờ học không còn
căng thẳng và việc rút kinh nghiệm giờ dạy cũng không còn căng thẳng như trước
đây.
4.3. Thực hiện SHCM theo NCBH, thông qua các bài giảng minh họa chúng
ta dễ nhận thấy học sinh hào hứng, chủ động trong học tập hơn, điều này hết sức
quan trọng, học sinh được tự do thể hiện mình, được giáo viên quan tâm hướng dẫn
học và tự học một cách có hiệu quả.
Từ chỗ thay đổi đặc điểm, tính chất thì mục đích và ý nghĩa của sinh hoạt
chuyên môn cũng sâu sắc, đúng nghĩa hơn: Hiểu rõ hơn về cách học sinh học, về
tác dụng của phương pháp dạy học đến việc học tập của học sinh để nâng cao hiệu
quả tối đa. Đồng thời cũng cần hướng đến phát triển năng lực chuyên môn của giáo
viên thông qua sự tương tác có hệ thống với các giáo viên khác trong trường hoặc
cụm trường.
So sánh Kết quả đạt được học kỳ I năm học 2015 - 2016 với cùng kỳ năm
học 2014-2015:
*Về phía cán bộ giáo viên học kì I:
Chất lượng giáo viên đã được nâng lên thể hiện qua kết quả so sánh sau đây
0
1
7
11
14
* Về phía học sinh: Chất lượng học tập của học sinh đã được nâng lên thể hiện qua
bảng so sánh cùng kỳ của hai năm học trước và sau khi thực hiện đề tài.
Bảng so sánh kết quả Học lực học kỳ I của hai năm học
Giỏi
Khá
Tb
Yếu
Kém
Tổng
số HS
SL
0
0
2015-2016
423
61 14,42
171
40,43
161
38,05
30
7,1
0
0
Tăng- Giảm
Giảm
13
2015-2016
56
1
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1.Kết luận
- Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là một vấn đề mới và xa lạ
đối với giáo viên. Vì vậy việc quán triệt ý nghĩa, tầm quan trọng và thực hiện đúng kỹ
thuật SHCM theo NCBH cho mọi giáo viên trong trường hiểu rõ, tin tưởng là hết sức cần
thiết.
- Việc thực hiện đổi mới SHCM theo NCBH được tổ chức ít nhất 01 lần/tháng.
Thời gian đầu, khi mới tổ chức SHCM theo NCBH cần bố trí chung toàn trường đối với
trường nhỏ, hoặc liên nhóm đối với trường lớn đông giáo viên, để tập cách làm và xây
dựng thói quen mới; Sau khi đã thành thạo, có thể tách việc tổ chức SHCM theo nhóm bộ
môn, tổ chuyên môn. Không xếp loại giờ dạy minh họa đổi mới SHCM theo NCBH.
- Một số khó khăn cần khắc phục khi đổi mới SHCM theo NCBH
+ Cơ sở vật chất trường lớp học hiện nay tuy đã được cải thiện đáng kể
nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học. Diện
tích lớp học còn hẹp sẽ tạo khó khăn cho hoạt động nghiên cứu bài học và giáo viên
dự giờ quan sát khi phải đứng hai bên và phía trước. Hơn nữa, bàn học sinh đa số là
kiểu bàn liền ghế rất khó để các em di chuyển để hoạt động học tập theo nhóm.
Khắc phục tình trạng này nhà trường đã bố trí sử dụng các phòng rộng như các
phòng bộ môn để sử dụng cho sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
+ Thái độ của GV đối với SHCM: nhiều GV ngại thay đổi và không tin
tưởng vào sự thành công của sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, có tư
tưởng hoài nghi, bàn lùi. Do vậy lãnh đạo nhà trường, tổ trưởng chuyên môn nếu
không quyết tâm cao và chỉ đạo quyết liệt thì dễ rơi vào việc làm hình thức, đối
phó, không đem lại hiệu quả.
15
học, đồng thời hoạt động sinh hoạt chuyên môn này cũng làm giàu kho tài nguyên
của Trường học kết nối.
+ Các tổ, nhóm chuyên môn, trường học có thể ứng dụng giải pháp nghiên
cứu bài học vào các hoạt động thực tiễn như: các tiết học có nội dung tích hợp
trong chương trình dể tích hợp các nội như bảo vệ môi trường, bảo vệ biển
đảo...hướng dẫn học sinh tổ chức tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp, hướng dẫn học
sinh tổ chức sinh hoạt chào cờ đầu tuần...
3.2. Kiến nghị
Đối với các cấp quản lí: Cần tăng cường về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy
16
học hiện đại cho những trường thuộc địa phương còn khó khăn để đáp ứng yêu cầu
thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học, sinh hoạt chuyên môn qua nghiên
cứu bài học.
Thực hiện SHCM theo NCBH là nội dung mới, khi thực hiện có những khó
khăn, rào cản nhất định. Nhưng qua quá trình thực hiện, chúng tôi nhận thấy
SHCM theo NCBH là một phương pháp mới rất có hiệu quả trong việc đổi mới PP
dạy và PP học hiện nay cho giáo viên và học sinh. Tuy nhiên quá trình đổi mới từ
SHCM truyền thống sang SHCM theo NCBH là một quá trình vất vả, lâu dài và
cần có quyết tâm cao, xác định được đây là nhiệm vụ trọng tâm, là yếu tố quan
trọng để đổi mới và nâng cao chất lượng cho người dạy và người học, là nhân tố trụ
cột để phát triển nhà trường, chỉ đạo thực hiện một cách quyết liệt chúng ta mới
thành công.
Trên đây là đề tài “Một số biện pháp quản lý tổ chuyên môn sinh hoạt
chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học” mà tôi đã nghiên cứu và áp dụng
vào trường tôi công tác. Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng lại được sự góp ý của đồng
nghiệp nhưng chắc chắn rằng không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được
sự đóng góp ý kiến của các cấp quản lý, đồng nghiệp để tôi thực hiện tốt hơn