Tạo hứng thú trong giờ học môn ngữ văn cho học sinh miền núi - Pdf 44

A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lí luận
Như chúng ta đã biết văn học vốn là một môn học có đặc thù riêng. Bằng những
hình tượng và ngôn từ phong phú sinh động của mình, nó cung cấp cho
người đọc những kiến thức về cuộc sống cũng như những điều bí ẩn trong
tâm hồn con người .Vì vậy nhìn chung môn Ngữ văn là môn học ít có vẻ
khô khan so với một số môn khoa học tự nhiên như Toán, Lí, Hóa trong
chương trình phổ thông.
Trong trường học ngoài những môn học khác như Giáo dục công dân, Lịch
sử… thì Ngữ Văn cũng là môn học rất quan trọng vì là môn học góp phần giáo
dục tư tưởng, bồi dưỡng hoàn thiện nhân cách học sinh. Mỗi bài thơ, bài văn,
mỗi tác phẩm văn học trong chương trình học phổ thông là một bài học đạo đức
dành cho học sinh (HS). Nếu không học môn Văn thì làm sao thế hệ trẻ ngày
nay hiểu được những tấm gương chiến đấu ngoan cường của những chiến sĩ
cách mạng, những người đã hy sinh xương máu nhằm giành lại độc lập, tự do để
bao thế hệ ngày sau được sống yên vui, hạnh phúc? Nếu không học môn Văn thì
làm sao HS hiểu rõ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
một bậc vĩ nhân tài đức vẹn toàn được cả thế giới kính phục? Học Văn chính là
cách học làm người. Môn Văn thật sự là môn học quan trọng giúp cho học sinh
học tốt các môn học khác.
1.2. Cơ sở thưc tiễn
Những năm gần đây, tình trạng học sinh không thích học môn Văn ngày càng
có chiều hướng gia tăng nhất là đối tượng học sinh THPT miền núi. Đây là
nỗi băn khoăn của nhiều thầy cô giáo dạy văn nói chung và cũng là của
riêng tôi nói riêng. Trong khi môn Văn có một giá trị đích thực mà nhiều
em chưa hiểu được nên còn học với tinh thần gượng ép.
Hiện tượngHS (kể cả phụ huynh) xem nhẹ môn Văn ngày càng trở nên phổ
biến. Nhiều HS học rập khuôn những bài văn mẫu rồi làm theo vì vậy xảy
ra các trường hợp đáng buồn là trong lớp học các HS làm bài văn viết nhiều
đoạn văn giống nhau.

niềm yêu thích môn văn cho học sinh. Bên cạnh đó tác giả cũng mong muốn
được chia sẻ kinh nghiệm của bản thân với đồng nghiệp.
3. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ có hạn của một sáng kiến kinh nghiệm người viết chỉ chọn một
số đối tượng để nghiên cứu gồm các lớp 11A1, 12A3, 12A4, của trường THPT
Quan Hóa-Thanh Hóa năm học 2015-2016.
Thực trạng về đối tượng nghiên cứu:
Trường THP Quan Hóa nói chung, 3 lớp 11A1, 12A3, 12A4 nói riêng có
tỷ lệ học sinh người dân tộc thiểu số khá cao(hơn 80%), đa số các em có hoàn
cảnh gia đình còn khó khăn, trọ học xa nhà, cuối tuần thường phải về nhà phụ
giúp cha mẹ làm rẫy…Thêm vào nữa là vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế
nên ít nhiều có ảnh hưởng đến việc học. Các em thường ngại học văn và chưa
mạnh dạn trong các hoạt động nhóm. Việc tự học và soạn bài ở nhà dường như
chỉ mang tính đối phó với giáo viên. Việc học đối phó của các em dẫn đến nhiều
hệ quả xấu như chất lượng môn văn của HS suy giảm, ảnh hưởng đến tương lai
của các em,chưa kể đến là giáo viên khi bước vào lớp cảm thấy mất hứng thú
với giờ dạy của mình…
4. Phương pháp nghiên cứu.

2


Xuất phát từ thực tế đối tượng học sinh, người viết dùng phương pháp vấn đáp,
thăm dò, khảo sát, thống kê số liệu.
Kết quả sơ bộ thăm dò đánh giá suy nghĩ về môn văn của các em như sau(số học
sinh tham gia: 22 em)
Câu 1:Thái độ của anh(Chị)với việc học văn:

STT Các mức dộ
A

0

12A4
0
2
3
0

11A1
0
2
2
1
0

12A3
0
4
4
0
0

12A4
0
6
3
0
0

Như vậy bước đầu ta thấy chưa có nhiều học sinh yêu thích môn văn, đặc biệt

môn văn học rất khó”v.v…Từ việc thăm dò đó tôi nắm bắt được tâm lí của từng
em để có phương pháp dạy học thích hợp. Thường thì thời gian còn lại của tiết
học nhập môn tôi sẽ kể một câu chuyên thú vị nào đó hoặc đọc cho các em nghe
một bài thơ hay( có kèm theo lời bình giảng).
2.2. Chuẩn bị thật tốt cho bài giảng, đơn giản hóa kiến thức:
Do đặc điểm riêng của đối tượng học sinh nên khi soạn bài thầy nên soạn
bài, chọn phương pháp, phương tiện thích hợp phục vụ cho bài giảng. Khi giảng
bài cố gắng đơn giản hóa kiến thức (mà không sơ sài, không cắt bớt) bằng cách
chọn các từ ngữ giản dị, thậm chí nôm na để các em có thể hiểu được những
kiến thức cơ bản nhất. Ví dụ: khi giảng bài có từ Hán Việt nên cố gắng đổi sang
từ thuần Việt tương ứng, có thể dùng cụm từ “em có suy nghĩ gì, cảm xúc gì”
thay cho “ em có cảm nhận gì…”, giáo viên cũng không nên dùng từ địa phương
vì có thể gây khó hiểu cho học sinh. Nói chậm để các em theo dõi và làm theo
hướng dẫn của thầy, nhất là khi giáo viên nói theo phương ngữ của một số địa
phương …Bên cạnh mục đích giúp học sinh nghe dễ hiểu thì còn giáo dục học
sinh có ý thức bảo tồn gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt. Tôi thường liên hệ
thực tế để các em hiểu thế nào là trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của Tiếng
Việt.
Khi dạy về phần tác giả văn học tôi thường kể cho em nghe những câu chuyện
hấp dẫn liên quan đến tác giả đó. Ví dụ: khi dạy bài Đây thôn vĩ dạ phần tìm
hiểu tác giả tôi kể cho các em nghe về số phận đau thương và những mối tình
lãng mạn của Hàn Mặc Tử . Khi dạy thơ Nguyễn Bính, tôi thường đọc cho cá
em nghe nhưng bài thơ hay của ông không có trong chương trình sgk như: Mưa
xuân, Lỡ bước sang ngang…Dạy bài “ SÓNG” của XUÂN QUỲNH tôi sẽ kể
cho các em nghe về mối tình đẹp và cũng nhiều sóng gió giữa chị và nhà viết
kịch tài năng LƯU QUANG VŨ… Những điều đó sẽ giúp các em có thêm hứng
thú và cơ sở nhất định để đi sâu cảm nhận văn bản văn học.

4


Bên cạnh đó cũng còn nên chú ý khâu kiểm tra, đánh giá cũng hết sức
quan trọng. Các em sẽ thích học hơn nếu đề ra vừa sức, các em làm được bài,
thêm tự tin và hứng thú bước chân vào thế giới văn học vốn không đễ được điểm
cao như một số môn khoa học tự nhiên.
Khi chấm bài, cần tránh tâm lí “văn mình” để mạnh dạn cho điểm 8,9,10
nếu bài viết có sự sáng tạo độc đáo của học sinh.

5


Lời nhận xét bài làm cần có chừng mực, khuyến khích động viên nếu các
em có lỗi, tránh phê cộc lốc hay chỉ có chê, sẽ khiến các em nản, ngại học. Khi
các em phát biểu sai hoặc chưa thật chính xác nên nhận xét và sửa lại với thái
độ nhẹ nhàng, lịch sự, tránh giễu cợt hay chỉ trích làm các em bị thương tổn.
5.5. Có nhiều hình thức học tập
Bên cạnh các phương pháp truyền thống như thuyết giảng (dùng xen kẽ
tùy theo đặc điểm đối tượng), đàm thoai( áp dụng ở lớp 11A1hiệu quả hơn vì có
nhiều học sinh nhận thức nhanh hơn), thảo luận nhóm, đóng tiểu phẩm, đọc diễn
cảm, ngâm thơ, hát bài thơ đã được phổ nhạc cũng thu hút các em vào bài học.
Tùy vào từng bài học và đối tượng học sinh ở mỗi lớp giáo viên lựa chọn
phương pháp cho phù hợp.
Ví dụ: Dạy phần học sử giáo viên chủ yếu dùng phương pháp thuyết giảng kết
hợp vấn đáp. Dạy phần Tiếng Việt chủ yếu dùng phương pháp thảo luận nhóm.
Phần thơ có thể yêu cầu đọc diễn cảm, ngâm thơ, hoặc hát bài thơ đã được phổ
nhạc…
Chẳng hạn với lớp 11A1 khi học tác gia Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng tôi đã
dành một buổi ngoại khóa cho các em thể hiện những bài thơ yêu thích của tác
giả. Các em có thể đọc, ngâm, hoặc bình về một bài thơ mà mình yêu thích. Và
tôi nhận thấy buổi ngoại khóa đó cả cô và trò đều rất hào hứng. Sau khi học
xong phần thơ mới 1930-1945 tôi thường cho các em thưởng thức những tiết

Tường) nên liên hệ thực tế và giúp các em nhận thức được nhiệm vụ giữ cho
môi trường ngày càng xanh-sạch-đẹp hơn, để những dòng sông không bị biến
thành “những dòng sông chết” do rác thải, do nguồn nước ô nhiễm từ các công
trình xây dựng và sinh hoạt do con người thải ra. Khi dạy bài bài Tây
Tiến(Quang Dũng) về vẻ đẹp bi tráng của người lính trong kháng chiến chống
pháp cần liên hệ với phẩm chất của người lính trong thời đại ngày nay. Đặc biệt
những người lính đang ngày đêm canh giữ đảo xa. Với bài Chiếc Thuyền Ngoài
Xa( Nguyễn Minh Châu) giáo viên khi dạy về số phận người đàn bà hàng chài
nên liên hệ thực tế nạn bạo lực gia đình trong xã hội ngày nay…
2.Kết quả đạt được
Sau một năm thực hiện áp dụng kinh nghiệm nêu trên, tôi nhận thấy đã
có nhiều học sinh thích thú và mong đợi giờ văn.Tỉ lệ học sinh các lớp tôi dạy
khi thi thử tốt nghiệp khoảng hơn 50% trên trung bình(với lớp 12). Thi học kì
lớp 11A1 90%., và chỉ còn lại một số em điểm bình quân dưới 3,5.
Cụ thể: Kết quả kì I- Năm học 2015-2016:
Điểm/lớp/Sĩ số
111 A1/44
12A3/40
12A4/43

Giỏi
1(2.2%)
0
0

Khá
22(50%)
5(11,6%)
1(2,3%)


XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.

Cù Thị Lụa

8


MỤC LỤC

A-LỜI NÓI ĐẦU

Trang

1-LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI……………………………………………………1
1.1. Cơ sở lí luận…………………………………………………………….1
2.2. Cơ sở thực tiễn………………………………………………………….1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU……………………………………………..2
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU……………………………………………2
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………………………………..2
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. CÁC GIẢI PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC
MÔN VĂN…………………………………………………………………..3
2. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC ………………………………………………….7
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…………………………………………..7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status