Sáng kiến kinh nghiệm TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU - Pdf 29

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
Mã số:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Người thực hiện: Lê Thị Bích
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 
- Lĩnh vực khác: 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác
Năm học: 2014 - 2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Lê Thị Bích
2. Ngày tháng năm sinh: 01 – 05 - 1985
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Tam Phước – Biên Hòa – Đồng Nai
5. Điện thoại: 01665.194.055
6. E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Nhiệm vụ được giao: Giảng dạy lớp: 10A1, 10A2, 10A3, 11A7; Chủ nhiệm lớp 10A1
9. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Đại học
Năm nhận bằng: 2010
Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm Ngữ văn

đa số là tuổi đời, tuổi nghề còn trẻ, kinh nghiệm chưa có nhiều nhưng qua 5 năm
công tác cùng với chị em trong tổ tôi nhận thấy rằng tất cả mọi người đã nỗ lực hết
mình để làm sao tạo được hứng thú học Ngữ văn cho học sinh toàn trường. Những
cố gắng đó đã được ghi nhận bằng những con số qua các kì thi nhất là kì thi tốt
nghiệp THPT(đạt chỉ tiêu của trường và Sở đề ra), học sinh đạt giải môn Văn trong
các kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh và tôi thấy học sinh ngày càng yêu thích môn Văn
hơn, không còn hoặc chỉ còn số ít em có tâm lí “chán” môn Văn. Mặc dù đã có rất
nhiều ý kiến bàn về vấn đề này, nhưng trong phạm vi đề tài này tôi xin được đưa ra
một số kinh nghiệm đã sử dụng trong thực tế giảng dạy của bản thân và thông qua
các tiết dự giờ rút kinh nghiệm của các thành viên trong tổ Văn – trường THPT
Nguyễn Đình Chiểu mà theo tôi đã ít nhiều tạo được hứng thú cho học sinh trong
việc học tập môn Ngữ Văn chính vì thế tôi xin được mạnh dạn tìm hiểu đề tài
“Tạo hứng thú trong giờ học Ngữ văn cho học sinh trường THPT Nguyễn Đình
Chiểu”.
3
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
Ngày nay, thế giới ngày càng phát triển chính vì thế nó đòi hỏi nước ta cũng
phải phát triển toàn diện tất các các lĩnh vực, nhất là giáo dục. Đảng ta đã khẳng
định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng,
toàn dân và giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục” (Nghị quyết TW
II - Khóa VIII). Trong sự đổi mới nền giáo dục thì đổi mới phương pháp dạy học
lúc nào cũng được chú trọng hàng đầu, phải làm sao, làm cách nào để tạo điều kiện
tốt nhất cho các em học sinh, sinh viên tiếp thu bài hiệu quả nhất. Chương trình
giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ- BGDĐT ngày
5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT cũng đã nêu: “Phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối
tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho HS phương pháp tự
học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”.

nghệ, dễ hiểu là đại đa số học sinh chỉ muốn học các ngành khoa học tự nhiên, kĩ
thuật, kinh tế… “Tình trạng thờ ơ với các môn học, đặc biệt là môn Văn hiện đã
đến mức báo động”(Văn học và Tuổi trẻ - Số tháng 12(153), 2007).
- Về phía giáo viên: Lâu nay chúng ta suy nghĩ theo cách cũ là thầy nói gì
thì học trò phải nghe như thế, không cãi lại dẫn đến sự trì trệ, thụ động của cả một
thế hệ học sinh đã qua. Đó là sự áp đặt của thầy nên chưa phát huy tính tích cực ở
học sinh.
- Về nguyên nhân ở phương pháp dạy học văn: Phương pháp dạy học cũ,
chỉ dựa vào giảng, bình, diễn giảng; chỉ cung cấp kiến thức áp đặt, học sinh phải
học thuộc kiến giải của thầy; chưa xem học sinh là chủ thể của hoạt động học văn,
chưa trao cho các em tính chủ động trong học tập; chưa xem dạy học tác phẩm văn
học là là dạy học đọc văn; Về dạy học làm văn nghị luận chủ yếu vẫn là dạy làm
văn theo đề sẵn và văn mẫu của bộ đề; Dạy tiếng Việt thì nặng về dạy lí thuyết, ít
thực hành, trau dồi ngữ cảm.
Có thể là chưa hoàn toàn chính xác, song những điều nói trên có thể coi là
bức tranh chung về phương pháp dạy học ngữ văn hiện nay. “Hậu quả của nó
không chỉ làm giảm sút hiệu quả giáo dục, mà hơn thế, còn có phản tác dụng là nó
làm cho trí óc học sinh trơ lì, chán học, làm mòn mỏi trí tuệ, phá hoại tư duy. Hệ
quả của nó là một hệ quả kép, vừa giảm thiểu kết quả giáo dục vừa phá hoại bản
thân giáo dục. Phải thấy rõ điều đó thì mới thấy nhu cầu đổi mới”.(“Đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn” – Trần Đình Sử)
Đối với học sinh trường THPT Nguyễn Đình Chiểu một thực tế là lực học
của các em còn yếu, đầu vào của học sinh là xét tuyển nên chưa sàng lọc hết những
em thật sự có thành tích, có y thức và ham mê học tập. Cho nên vừa để các em
thích học Văn, vừa để các em thi cử đạt kết quả cao quả là điều rất khó khăn đối
với tập thể giáo viên trường THPT Nguyễn Đình Chiểu nói chung và tổ Văn chúng
tôi nói riêng. Bản thân là giáo viên dạy Văn, tôi luôn băn khoăn, trăn trở là làm sao
học sinh của mình luôn yêu thích môn Ngữ văn, làm sao để chất lượng học tập
môn Ngữ văn của trường mình được cải thiện hơn và điều quan trọng là làm sao
các em biết tự bộc lộ mình, nói lên được những suy nghĩ trước tập thể và trong

11A8 và 10A6, trong đó: Thích môn Ngữ văn là 18 em; Năng lực: Giỏi: 0, Khá:
18, Trung bình: 22, Yếu: 15
Từ thực trạng đó tôi đã tiến hành nghiên cứu, thực hiện đề tài từ đầu năm
học 2013 – 2014 đến hết học kì I, năm học 2014 – 2015 bằng một số biện pháp gây
hứng thú trong giờ học Ngữ văn như sau:
1. Gây hứng thú bằng nghệ thuật lên lớp của giáo viên: Nghệ thuật lên lớp
của giáo viên được xem là yếu tố quan trọng nhất. Nghệ thuật lên lớp của giáo viên là:
1.1. Giáo viên phải tác động vào tình cảm, nhận thức học sinh: Đây là
khâu rất quan trọng để gây hứng thú học tập Ngữ văn bởi vì môn Văn khác với các
môn học tự nhiên không phải nhìn vào những con số để chỉ ra đúng – sai mà mọi
y nghĩa đều nằm bên trong con chữ. Muốn dạy được một tiết Văn hoàn chỉnh trước
tiên giáo viên phải xác định được mục tiêu về kiến thức và kỹ năng, có nghĩa là
dạy cái gì, dạy như thế nào và dạy để làm gì? Một tác phẩm nhà văn viết ra nó
chứa đựng những bài học to lớn về y nghĩa cuộc sống chứ phải là những con chữ
khô khan. Chính vì thế người thầy phải làm sao sau mỗi bài học học sinh biết yêu
cái đẹp, cái thiện; biết ghét xấu; đồng cảm với những số phận không may mắn; biết
sống như thế nào cho tốt đó là chúng ta đã tác động vào tình cảm và nhận thức của
các em
1.2. Xây dựng không khí lớp học: Tạo không khí lớp học sôi nổi, bám sát
nội dung bài học, học sinh thoải mái là điều không phải dễ trong tiết dạy Văn.
6
Trong các giờ dạy thời gian một tiết học là 45 phút nhưng có khi chúng ta dạy chỉ
dạy khoảng 42, 43 phút, nếu là tiết học cuối buổi chúng ta nói với các em là “Các
em học bài tiếp theo” thì đa số các em thường năn nỉ “Thôi cô ơi còn 2 phút nữa
hết giờ cô cho chúng em được nghỉ 2 phút đó, hoặc cô kể chuyện gì cho hết giờ đi
cô!”. Nghe các em nói thế chúng ta cũng không nên la mắng các em, mà nên hiểu
rằng: “Bắt đầu làm việc bằng sự nghỉ ngơi” (Ngạn ngữ Đức). Đúng vậy, trong mọi
công việc, 40 phút làm việc và 5 phút để thư giãn sẽ mang lại kết quả lớn so với 45
phút làm việc liên tục bị gò bó.
Giáo viên có thể tạo không khí lớp học bằng các chuyện vui, các câu

phân vai đóng một đoạn kịch khi học bài “Tình yêu và thù hận”
Đối với môn Ngữ Văn 12, khi dạy bài “Sóng” của Xuân Quỳnh có thể cho
một em hát bài hát “Thuyền và biển”, Xem các bức ảnh về sông Đà khi dạy
“Người lái đò sông Đà”, về sông Hương thơ mộng khi dạy “Ai đã đặt tên cho dòng
sông”, hoặc dạy bài “Sóng” cho các em xem những bức ảnh về Xuân Quỳnh, về
cảnh dữ dội và dịu em của sóng. Khi củng cố bài học “Đàn ghi–ta của Lor-ca” cho
hai em lên biểu diễn: một em hát, một em chơi đàn Ghi –ta ,…
1.3. Phong phú, đa dạng và luôn đổi mới về phương pháp: Giáo viên
luôn thay đổi về phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học, tạo nên sự phong
phú đa dạng trong các hoạt động của quá trình dạy học sẽ làm cho học sinh cảm
thấy thoải mái, không bị ức chế về mặt tâm lí bởi sự nhàm chán, mệt mỏi vì sự đơn
điệu tẻ nhạt. Ví dụ: Khi dạy phần Tiểu dẫn của bài “ Chữ người tử tù” – Nguyễn
Tuân, sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập I, thay vì dùng phương pháp vấn đáp (hỏi và
ghi chép), giáo viên ghi sẵn trên bảng và bỏ ngỏ những ý chính sau:
1.Tác giả:
a. Cuộc đời:
8
- Năm sinh: , năm mất
- Quê quán:
- Xuất thân trong gia đình:
- Sự kiện tiêu biểu trong cuộc đời:
b. Sự nghiệp sáng tác:
- Các tác phẩm chính:
- Đánh giá:
2. Tác phẩm:
- Xuất xứ:
Giáo viên yêu cầu học sinh điền vào chỗ còn trống. Học sinh thay nhau làm
theo yêu cầu của giáo viên. Lớp học sẽ sinh động và học sinh hứng thú học tập
hơn. Từ đó, ta thấy rằng các em sẽ tiếp thu kiến thức tốt hơn nếu trong giờ học có
sự xen kẽ nhau giữa các hoạt động dạy- học.

cái ác được. Sau khi các em tranh luận, chọn câu trả lời xong thì giáo viên mới
nhận xét và định hướng cách giải quyết. Hoặc cũng có thể đưa ra tình huống:
“Vì sao tác giả dân gian lại cho Tấm biến hóa nhiều lần như vậy?”.
Khi dạy “Hồi trống Cổ Thành”, giáo viên có thể đặt câu hỏi: “Vì sao tác
giả lại cho Sái Dương dẫn quân xuất hiện khi Quan Công vừa nói với Trương
Phi “Nếu ta đến bắt em, tất phải đem quân mã chứ!”?”.
Khi dạy tác phẩm “Chí Phèo”- sách Ngữ văn 11, tập I, giáo viên đặt ra
những tình huống có vấn đề: -“Tại sao Nam Cao lại để cho ba con chó “lên tiếng”
đáp lại tiếng chửi của Chí Phèo?” – “Tại sao Nam Cao lại xây dựng nhân vật thị
Nở xấu ma chê, quỷ hờn như vậy?”
Dạy “Đây thôn Vĩ Dạ” – Sách Ngữ văn 11, tập II, giáo viên có thể đặt ra
tình huống có vấn đề: - “Hãy chỉ ra mạch cảm xúc liên kết ba khổ thơ tưởng chừng
như rời rạc?”
Tập luyện cho học sinh biết giải quyết các vấn đề từ đơn giản đến phức tạp
trong học tập không những tạo nên sự hưng phấn mà chính là chuẩn bị cho các em
khả năng sáng tạo, giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống.
1.5. Gắn bài giảng với thực tế cuộc sống: Việc gắn nội dung bài giảng
với thực tế cuộc sống là một trong những biện pháp gây hứng thú học tập môn
Ngữ văn. Bởi lẽ giáo viên chỉ mải mê với những lí thuyết khô khan mà xa rời
thực tế thì bài học sẽ thiếu tính thực tiễn, mất đi tính thuyết phục và sự lôi
cuốn, không kích thích được hứng thú học tập của học sinh. Lúc này, Ngữ văn
đối với học sinh chỉ còn là một môn học bắt buộc, xa lạ Trong khi đó, Ngữ
văn lại có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn, với tâm hồn học sinh. Vì vậy,
gắn dạy học với thực tế cuộc sống không những có tính chất bắt buộc trong
dạy học Ngữ văn mà còn rất cần thiết để gây hứng thú học tập cho học sinh. Ví
dụ: Khi dạy bài “Thương vợ” hay “Tự tình – bài II” – Sách Ngữ văn 11, tập I
giáo viên có thể liên hệ với cuộc sống ngày nay bằng câu hỏi: “Người phụ nữ
ngày nay có gì giống và khác với hình ảnh người phụ nữ trong bài thơ?”, hay
trong “Chiếu cầu hiền”, “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” giáo viên
cũng đặt câu hỏi để học sinh liên hệ thực tế: “Em suy nghĩ như thế nào về vai

em nghe một bài hát, một làn điệu dân ca nào đó. Với “Hồi trống Cổ Thành”
giáo viên cũng có thể cho các em xem phim về đoạn trích. Khi dạy“ Chí Phèo”-
Sách Ngữ văn 11, tập I, giáo viên cho học sinh xem một vài đoạn phim nhỏ nói
về hình ảnh Chí Phèo cùng với tiếng chửi, hình ảnh của thị Nở cùng với bát
cháo hành, hình ảnh chí Phèo hiền lành sau khi ăn cháo hành Với đoạn trích
“Hạnh phúc của một tang gia” có thể cho các em xem một số đoạn phim, như
cảnh đám ma, cảnh hạ huyệt cậu Tú Tân chụp hình,… Khi dạy bài “ Phong cách
ngôn ngữ báo chí” thay vì tìm hiểu “chay” những thể loại và đặc điểm của
chúng thì giáo viên có thể tận dụng công nghệ thông tin đưa một bản tin thời sự,
một đoạn phóng sự ngắn, hay đoạn quảng cáo,…Hoặc bài “Phong cách ngôn
ngữ sinh hoạt” chúng ta cũng có thể tận dụng đưa lên trình chiếu đoạn hội thoại
trong sách giáo khoa hoặc cho các em xem một đoạn phim có sử dụng ngôn ngữ
sinh hoạt. Đối với những bài thơ có thể cho các em nghe những bài ngâm của
các nghệ sĩ như “Đây thôn Vĩ Dạ” có thể nghe nghệ sĩ Hồng Ngát ngâm. Khi
dạy lớp 12, một số bài chúng ta cũng có thể tận dụng thao tác này như “Sóng”,
“Đàn ghi-ta của Lor-ca”, hay lời đọc “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí
Minh. Có thể xem một đoạn phim hay những bức ảnh về hình ảnh sông Hương
hay sông Đà khi dạy “Ai đã đặt tên cho dòng sông” và “Người lái đò sông
Đà”. Ở bài “Vợ chồng A Phủ” có thể cho các em nghe bài hát “Bài ca trên núi”
khi dạy Tiểu dẫn. Ở bài “Tóm tắt văn bản thuyết minh”- Ngữ văn 10, tập II
trong bài luyện tập trang 72,73 thay vì đọc tóm tăt văn bản “Đền Ngọc Sơn và
hồn thơ Hà Nội” giáo viên có thể cho các em xem một đoạn phim có lồng lời
thuyết minh cho văn bản này. Tất cả sẽ tác động trực tiếp đến tâm hồn của các
em, làm cho các em phải trăn trở suy nghĩ và từ đó sẽ gây hứng thú hơn trong
việc tìm hiểu tác phẩm, tìm hiểu về số phận của nhân vật và chắc hẳn niềm hứng
thú học văn chương sẽ tăng lên rất nhiều trong tâm hồn các em.
2. Gây hứng thú bằng việc lồng ghép các trò chơi trong dạy học Ngữ văn
11
Chúng ta thường nghe nói “Học mà chơi, chơi mà học”. Chính vì thế việc
tận dụng các trò chơi cũng góp phần làm nên sự thành công trong bài học. Giáo

quyền thời cổ, giữa thiện và ác trong xã hội. Sức sống mãnh liệt của con người và
niềm tin của nhân dân.
- Kết cấu của truyện cổ tích: người nghèo khổ, bất hạnh trải qua nhiều hoạn
nạn cuối cùng được hưởng hạnh phúc. Sử dụng hợp lí, sáng tạo các yếu tố thần kì.
2. Kĩ năng
- Tóm tắt văn bản tự sự.
- Phân tích một truyện cổ tích thần kì theo đặc trưng thể loại.
12
C. NỘI DUNG LÊN LỚP
1. Ổn định, kiểm tra
- Ổn định lớp: kiểm tra sĩ số
- Kiểm tra bài cũ : Em có cảm nhận gì về con người Ra-ma qua đoạn trích “
Ra-ma buộc tội”?
2. Tiến trình tổ chức dạy học bài mới

Hoạt động của thầy và trò
Nội dung
* Hoạt động 1:
- Tạo tâm thế: giới thiệu bài
- Tìm hiểu tiểu dẫn
Cho học sinh đọc phần tiểu dẫn trong SGK.
1. Hãy nêu các thể loại truyện cổ tích? "Tấm
Cám" thuộc thể loại nào?
2. Nêu đặc trưng cơ bản của thể loại cổ tích
thần kì? Gv yêu cầu học sinh lấy ví dụ?
* Hoạt động 2: Đọc - hiểu văn bản
GV gọi HS đọc hướng dẫn HS đọc đúng thể
loại tự sự. Cho HS tìm hiểu các chú thích.
GV chốt lại các chú thích tiêu biểu.)
(Cách đọc:

thuẫn giữa Tấm và mẹ con
Cám
a. Thân phận của Tấm
- Tấm mồ côi mẹ từ nhỏ.
13
2. Qua đó em suy nghĩ gì?
3. Tác giả dân gian đã miêu tả diễn biến
truyện như thế nào để dẫn đến xung
đột giữa Tấm và mẹ con Cám? Mâu
thuẫn này phát triển như thế nào?
4. Mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám
thuộc phạm vi gia đình hay xã hội?
Cụ thể là mâu thuẫn gì?
(Học sinh tự tìm hiểu, liệt kê các chi tiết,
hành động của mẹ con Cám đối với Tấm và
phản ứng của Tấm trước những sự việc đó).
5. Quá trình biến hoá của Tấm diễn ra như
thế nào? { Cho Hs vẽ sơ đồ và nhận xét }.
- Chim vàng Anh → xoan đào → khung cửi
- Không bao lâu cha mất Tấm ở
với dì ghẻ độc ác.
- Phải làm lụng vất vả từ sáng
đến tối: “Hàng ngày…việc
nặng”.
-> Tấm là cô gái chăm chỉ, hiền
lành, đôn hậu.
b. Mâu thuẫn giữa Tấm và Mẹ
con Cám
- Cám lừa Tấm trút hết giỏ tép
để giành phần thưởng chiếc yếm

2. Cuộc đấu tranh không
khoan nhượng để giành lại
hạnh phúc
14

D. HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC TẬP Ở NHÀ
1. Hướng dẫn học bài
- Đọc (kể) bằng giọng phù hợp với đặc điểm nhân vật : Tấm hiền thục, Cám
chanh chua, Bụt nhân từ, dì ghẻ độc ác.
- Tại sao nói Tấm Cám rất tiêu biểu cho đặc điểm nghệ thuật của thể loại
truyện cổ tích nhất là truyện cổ tích thần kì ?
2. Hướng dẫn soạn bài
Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học tập làm văn “Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu
trong bài văn tự sự”.
Gợi ý:
- Thế nào là sự việc, chi tiết tiêu biểu?
- Ý nghĩa của việc lựa chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu?
Giáo án khi áp dụng đề tài: Tạo hứng thú bằng cách tạo không khí lớp học
bằng tranh ảnh; Sử dụng công nghệ thông tin và Kích thích hứng thú học Ngữ văn
bằng phương pháp dạy học theo tình huống và giải quyết vấn đề:
Tiết 17, 18: Đọc văn TẤM CÁM
I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Hiểu được ý nghĩa của những mâu thuẫn, xung đột trong truyện và sự biến
hoá của Tấm ;
- Nắm được đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích thần kì qua một truyện cụ thể.
B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
1. Kiến thức
- Những mâu thuẫn, xung đột giữa dì ghẻ và con chồng trong gia đình phụ
quyền thời cổ, giữa thiện và ác trong xã hội. Sức sống mãnh liệt của con người và
niềm tin của nhân dân.

- Chú ý các chi tiết tình tiết thể hiện sự xung
đột giữa các nhân vật.
- Chú thích: Bụt, Trầu cánh phượng, Áo mớ
ba GV yêu cầu HS
?Hãy tóm tắt lại cốt truyện dựa vào những
hình ảnh sau?
I. Tiểu dẫn
1. Thể loại
Truyện cổ tích thần kỳ
2. Đặc trưng
Có sự tham gia của các yếu tố
thần kỳ vào tiến trình phát triển
của câu chuyện (Bụt, Tiên, hay
sự biến hoá thần kỳ).
II. Đọc - hiểu văn bản

1. Cách đọc

2. Tóm tắt cốt truyện
16
Học sinh kể tóm tắt lại câu chuyện theo từng
bức ảnh, các em khác nhìn, nghe xem bạn kể
đúng chưa để nhận xét, bổ sung các chi tiết,
sự kiện còn thiếu. Sau đó GV kể lại câu
chuyện.
Gv cho học sinh trả lời theo từng câu hỏi:
1. Cuộc đời và số phận bất hạnh của Tấm
được miêu tả như thế nào?
2. Qua đó em suy nghĩ gì?
3. Tác giả dân gian đã miêu tả diễn biến

- Mẹ con Cám lừa giết cá bống
ăn thịt.
- Mẹ con Cám không muốn cho
Tấm đi xem hội đổ thóc trộn lẫn
gạo bắt nhặt.
- Khi thấy Tấm thử giày, mụ dì
ghẻ bĩu môi tỏ vẻ khinh miệt.
- Giết Tấm và giết cả những
kiếp hồi sinh của Tấm.
-> Mâu thuẫn chủ yếu trong tác
phẩm là mâu thuẫn giữa cô Tấm
mồ côi, xinh đẹp, hiền lành với
17
5. Quá trình biến hoá của Tấm diễn ra như
thế nào? { Cho Hs vẽ sơ đồ và nhận xét }.
- Chim vàng Anh → xoan đào → khung cửi
→ quả thị → người (xinh đẹp hơn xưa).
6. Vì sao tác giả dân gian lại cho Tấm biến
hóa nhiều lần như vậy?
- Các em sẽ lần lượt thay nhau phát biểu y
kiến để trả lời câu hỏi có vấn đề, đó là cô
Tấm hiền lành, nết na như thế không thể chết
một cách dễ dàng mà phải có những yếu tố
thần kì, những lần biến hóa để thể hiện tình
thần nhân đạo của nhân dân ta, ước mơ về
công lí, lẽ phải. Đó là động lực để mỗi người
chúng ta luôn luôn đấu tranh, đấu tranh đến
cùng để tiêu diệt cái xấu, cái ác. Cho nên dù
bị mẹ con Cám tìm mọi cách tận diệt, Tấm
vẫn tái sinh dưới các dạng thức khác nhau.

gian giải quyết theo hướng thiện
thắng ác.
2. Cuộc đấu tranh không
khoan nhượng để giành lại
hạnh phúc
- Sự biến hóa của Tấm: Cái
thiện không bao giờ chịu khuất
phục, chính nghĩa không bao giờ
đầu hàng, cái thiện sẽ chiến đấu
đến cùng để bảo vệ lẽ phải và
công lí.
18
Cho HS thảo luận nhóm: trình bày suy nghĩ
về những quan điểm, cách đánh giá khác
nhau về kết thúc câu chuyện: Có thể chọn kết
thúc trong sách giáo khoa vì nếu theo kết
thúc cô kể thì Tấm không còn hiền lành nữa
mà giết người rồi làm mắm thì ác quá.
Nhưng ngược lại có em khác sẽ phản bác lại
là em chọn kết thúc theo lời cô kể vì như thế
mới đúng với quan niệm của nhân dân ta
“gieo nhân nào thì gặp quả ấy”, Cám giết
Tấm nhiều lần như thế nào là làm thịt chim
vàng anh, nào là chặt cây xoan đào,…. mà
Tấm giết Cám chỉ một lần và làm mắm Cám
thì mới trừng trị thích đáng cái ác được.
Sau khi các em tranh luận, chọn câu trả lời
xong thì giáo viên mới nhận xét và định
hướng cách giải quyết
8. Từ đó nêu ý nghĩa việc trả thù của Tấm ở

* Hoạt động 4: Luyện tập
Gv hướng dẫn học sinh làm luyện tập.
Hãy chọn và phân tích những chi tiết tiêu
biểu trong truyện Tấm cám để chứng tỏ rằng:
“Truyện cổ tích là một giấc mơ đẹp” của
nhân dân lao động.
- Ý nghĩa văn bản
Truyện Tấm Cám ngợi ca sức
sống bất diệt, sự trỗi dậy mạnh
mẽ của con người và cái thiện
trước sự vùi dập của kẻ xấu, cái
ác, đồng thời thể hiện niềm tin
của nhân dân vào công lí và
chính nghĩa.
IV. Luyện tập D. HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC TẬP Ở NHÀ
1. Hướng dẫn học bài
- Đọc (kể) bằng giọng phù hợp với đặc điểm nhân vật : Tấm hiền thục, Cám
chanh chua, Bụt nhân từ, dì ghẻ độc ác.
- Tại sao nói Tấm Cám rất tiêu biểu cho đặc điểm nghệ thuật của thể loại
truyện cổ tích nhất là truyện cổ tích thần kì ?
2. Hướng dẫn soạn bài
Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học tập làm văn “Chọn sự việc, chi tiết tiêu
biểu trong bài văn tự sự”.
Gợi ý:
- Thế nào là sự việc, chi tiết tiêu biểu?
- Ý nghĩa của việc lựa chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu?
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI

tôi phụ trách giảng dạy như sau:
2014-2015 51 51 48
Với kết quả khảo sát như trên, qua việc đối chiếu, so sánh kết quả, tôi
nhận thấy rằng việc áp dụng các biện pháp gây hứng thú học tập vào giảng dạy
thì tỉ lệ học sinh thích học môn Ngữ văn ngày càng cao, các em không còn
thấy “sợ” hay chán môn Văn nữa. Từ đó cho thấy việc áp dụng các biện pháp
gây hứng thú học tập hướng vào việc tạo tinh thần hưng phấn, thoải mái,
không khí lớp học sôi nổi, làm cho học sinh thêm yêu mến môn Ngữ văn bước
đầu đã có hiệu quả và qua đó đã góp phần nâng cao chất lượng của các giờ học
môn Ngữ văn của trường THPT Nguyễn Đình Chiểu chúng tôi.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Sự thay đổi chương trình và sách giáo khoa những năm vừa qua đã có sự tác
động tích cực đến ngành giáo dục. Và đặc biệt từ năm học 2013 – 2104 Bộ đã có
một số cải cách giáo dục trong thi cử, trong dự án đổi mới sách giáo khoa
Những vấn đề, biện pháp, cách thức đã nêu trên về thực hiện đề tài: “Tạo
hứng thú trong giờ học Ngữ văn cho học sinh trường THPT Nguyễn Đình
Chiểu” chỉ là những bước khởi đầu có tính định hướng, gợi ý; còn thực hiện nó
như thế nào, hiệu quả ra sao còn tùy thuộc rất nhiều vào nghệ thuật vận dụng của
thầy cô giáo và môi trường, cũng như hoàn cảnh, đối tượng học sinh
Bản thân người viết chỉ mong sao những ý kiến này sẽ đóng góp được phần
nào trong việc tạo hứng thú cho học sinh trong việc học tập môn Ngữ văn trong
trường THPT Nguyễn Đình Chiểu và giúp các học sinh yêu thích hơn môn học này.
Trên cơ sở những điều đã đạt được của đề tài nghiên cứu, tôi xin đề xuất một
số ý kiến sau:
* Đối với nhà trường:
21
- Ban Giám hiệu nên thường xuyên dự giờ các giáo viên để đánh giá cùng
với giáo viên trong tổ. Tổ chức nhiều hơn các buổi hội thảo để các tổ trao đổi nhiều
hơn kinh nghiệm giảng dạy, nhất là thời gian tới thực hiện chủ trương cải cách giáo
dục về sách giáo khoa và thi cử.

Khoa Ngữ Văn trường Đại học Quy Nhơn, đăng ngày 26/12/2013.
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở. Đổi
mới phương pháp dạy học trong các trường đại học, cao đẳng đào tạo giáo viên
trung học cơ sở. Hà Nội tháng 9/2003.
22
VII. PHỤ LỤC
Đính kèm phiếu khảo sát học sinh.
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT
Nguyễn Đình Chiểu
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Long Thành, ngày 15 tháng 05 năm 2015
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2014 - 2015
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú trong giờ học Ngữ văn cho học sinh trường THPT
Nguyễn Đình Chiểu
Họ và tên tác giả: Lê Thị Bích Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Tổ Văn, trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
Lĩnh vực:
Quản lý giáo dục ¨ Phương pháp dạy học bộ môn ¨
Phương pháp giáo dục ¨ Lĩnh vực khác ¨
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng tại: Tại đơn vị ¨Trong ngành ¨
1. Tính mới
- Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn ¨
- Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn ¨
23
Long Thành, ngày 15 tháng 05 năm 2015
NGƯỜI THỰC HIỆN
Lê Thị Bích

TRƯỜNG THPT NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do- Hạnh Phúc

BÁO CÁO
TÓM TẮT THÀNH TÍCH CÁ NHÂN CỦA BÀ LÊ THỊ BÍCH
ĐỀ NGHỊ CHIẾN SĨ THI ĐUA CẤP CƠ SỞ
(Đề nghị UBND tỉnh Đồng Nai khen thưởng năm học 2014- 2015)
I. Sơ yếu lý lịch bản thân và chức năng nhiệm vụ được giao.
1. Sơ yếu lý lịch bản thân:
- Họ và tên: Lê Thị Bích
- Ngày tháng năm sinh: 01 / 05 / 1985
- Quê quán: Thiệu Duy – Thiệu Hóa – Thanh Hoá
- Chức vụ: Giáo viên
24
2. Nhiệm vụ được phân công: Chủ nhiệm, giảng dạy.
II. Thành tích đạt được trong năm qua.
1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức :
- Bản thân luôn chấp hành đúng chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng,
Nhà nước, luôn có tư tưởng chính trị vững vàng.
- Luôn học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Thực hiện tốt nội quy, quy chế ngành, của trường đề ra.
- Luôn yêu nghề, mến trò, hòa nhã, gần gũi với phụ huynh học sinh. Đoàn
kết với đồng nghiệp. Hòa đồng với mọi người.
2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, tham gia học tập chuyên đề ,
bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ: Khối lượng, chất lượng, tinh thần trách
nhiệm :
•Về khối lượng :
- Thực hiện đầy đủ chương trình của ngành đề ra .
- Đảm bảo ngày giờ công, không cắt xén thời gian bài dạy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status