Vận dung các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy tác phẩm văn học dân gian ở chương trình ngữ văn 10 - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN Ở
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10

Người thực hiện: Lương Thị Thuỳ An
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ Văn

THANH HOÁ NĂM 2016

1


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu....................................................................................1
3. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................1
4. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................2
B. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận................................................................................................2

văn 10” nhằm giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức, khơi gợi được niềm say
mê, hứng thú học tập của các em.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nhằm mục đích giúp học sinh rèn luyện năng lực cảm thụ tác
phẩm văn học dân gian ở từng thể loại cụ thể với những phương pháp dạy học
phù hợp, nắm được đặc trưng thể loại, giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật độc
đáo ở các văn bản văn học dân gian. Từ đó giáo viên khơi gợi, nuôi dưỡng niềm
say mê, hứng thú của học sinh với một bộ phận văn học đã khá xa với lứa tuổi
các em.
3. Đối tượng nghiên cứu
Ở chương trình Ngữ văn 10, phần văn học dân gian đã giới thiệu nhiều thể
loại phong phú và đặc sắc: sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, ca
dao, truyện thơ. Có cả văn học dân gian người Kinh, văn học dân gian các dân
3


tộc anh em và cả văn học dân gian của một số quốc gia (Hi Lạp, Ấn Độ). Đó
chính là những đối tượng nghiên cứu của đề tài này
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, tôi có sử dụng một số phương pháp:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê
B. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
“Folklore (trong nghĩa rộng: văn hoá truyền thống được lưu truyền, phổ
biến rộng của nhân dân) là sáng tác để định hướng cho một nhóm người nào đó
và được hình thành theo truyền thống của các nhóm người, các thành viên,
phản ánh sự chờ đợi, niềm hi vọng của cộng đồng trong những biểu hiện tương
ứng với nó về nhận thức xã hội và văn hoá. Các quy tắc, giá trị của folklore

sinh THPT ngày nay nên việc tiếp nhận và hiểu thấu đáo giá trị tác phẩm còn
hạn chế . Mặt khác, nhiều giáo viên cũng ít chú trọng đến bộ phận văn học này,
do đó giảng dạy có phần qua loa, không bám sát đặc trưng của văn học dân gian,
chưa truyền lửa đến cho học sinh
Nói đến thực trạng của việc giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường
hiện nay là nói đến những khuynh hướng và các cách dạy phổ biến sau
- Một là: Đồng nhất giữa văn học dân gian và văn học viết, dạy văn học dân gian
như dạy văn học viết nên đã hiện đại hoá tác phẩm, tước đi những vẻ đẹp độc
đáo, đặc trưng vốn có của văn học dân gian
- Hai là: Ngược với khuynh hướng trên là khuynh hướng xoá nhoà ranh giới
giữa khoa nghiên cứu văn học dân gian với các khoa học liên quan như dân tộc
học, lịch sử, xã hội học, văn hoá học, phong tục học...làm cho bài dạy mất đi
những thông tin thẩm mĩ mà chỉ còn lại bức tranh xã hội khô cứng. Ví dụ như:
phân tích Đăm Săn lại nghiêng về tục nối dây, phân tích Truyện An Dương
Vương- Mị Châu và Trọng Thuỷ để giải thích lễ hội Cổ Loa, giảng dạy Tấm
Cám thì lại dẫn dắt học sinh đến thuyết luân hồi trong đạo Phật.

5


- Ba là: Diễn xuôi một cách khô khan, nhạt nhẽo các bài ca dao, các câu chuyện
cổ tích..
Tuy nhiên có rất nhiều thầy cô tâm huyết, họ đã dạy văn học dân gian như
nó vốn có trong đời sống thực của dân gian nhưng thời lượng tiết dạy quá ít nên
không chuyển tải hết được vẻ đẹp về nội dung cũng như nghệ thuật của tác
phẩm.
Bên cạnh đó cũng là thực trạng của việc học tập văn học dân gian ở học
sinh: các em ngày càng xa rời với môn văn, đặc biệt là với văn học dân gian và
văn học trung đại, dẫn đến việc nhiều em xem nhẹ bộ phận văn học này, học
theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa, tác phẩm chưa thực sự sống trong lòng các em.

dạy tác phẩm văn học dân gian cũng đã thực hiện các phương pháp phù hợp:
a. Đọc tác phẩm
Bước đầu tiên đến với tác phẩm là phải đọc tác phẩm. Giáo viên cần
hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm để tạo ấn tượng ban đầu ở tác phẩm.
- Sử thi:
+ Đoạn trích “Chiến thắng Mtao- Mxay” (Trích Đăm Săn- sử thi Tây Nguyên)
+ Đoạn trích “Uy-lít-xơ trở về” (Trích Ô-đi-xê- sử thi Hi Lạp)
+ Đoạn trích “Rama buộc tội” (Trích Ra-ma-ya-na- sử thi Ấn Độ)
 Đọc phân vai. Đặc trưng của thể loại sử thi là xây dựng hình tượng người anh
hùng đại diện cho sức mạnh, vẻ đẹp lí tưởng của cả cộng đồng, bộ lạc được thể
hiện chủ yếu thông qua lời thoại và hành động. Vậy nên, giáo viên chú ý cho
học sinh cách đọc phân vai, lời của người kể chuyện và lời thoại - của các nhân
vật trực tiếp.
- Truyền thuyết: Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thuỷ
 Đọc- kể, chú ý thể hiện thái độ, tình cảm của các nhân vật qua các câu nói tiêu
biểu: tiếng thét lớn của Rùa vàng ở bờ biển, câu nói chủ quan của An Dương
Vương khi quân Triệu Đà đến chân thành Cổ Loa, lời khấn của Mị
Châu….Truyền thuyết được nhân dân ta sáng tạo dựa trên cốt lõi lịch sử, vì vậy
khi đọc phải thể hiện được không khí lịch sử
- Truyện cổ tích: Tấm Cám

7


 Kết hợp đọc- kể, chú ý những câu đối thoại, những câu văn vần. Khơi gợi được
không khí cổ tích
- Truyện cười: Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
 Hình thức truyện cười ngắn gọn, tập trung thể hiện mâu thuẫn gây cười, đặc
biệt ở câu cuối. Đọc- kể diễn cảm qua từng câu, lời đối thoại, giữ thái độ lạnh
lùng, khách quan để tạo sự hấp dẫn, lí thú.

viên đánh giá, nhận xét và nêu định hướng chung cho việc trả lời câu hỏi.
Ví dụ 1: Bài “Tấm Cám”
Câu hỏi nêu vấn đề: Về hành động trả thù của Tấm, có bạn học sinh cho rằng:
Cô Tấm thực ra không hiền như lâu nay chúng ta vẫn nghĩ (Quả thị thơm cô
Tấm rất hiền) mà trái lại rất ghê gớm, thậm chí có phần độc ác vì hành động
giết người trả thù của Tấm cũng độc ác không kém hành động giết hại Tấm của
mẹ con Cám. Suy nghĩ của anh (chị ) thế nào?
Định hướng giải quyết vấn đề của Kết quả đạt được sau khi giải quyết
giáo viên
vấn đề
- Tấm là nhân vật văn học đại diện cho - Học sinh có cơ hội củng cố và tích
cái thiện mà nhân dân lao động sáng hợp kiến thức vì cần phải huy động
tạo ra để thể hiện quan niệm, thái độ những kiến thức về tác phẩm, về thể
của mình về cuộc sống. Cái tư tưởng loại truyện cổ tích, về tư tưởng của dân
cốt lõi mà dân gian muốn gửi gắm đến gian mới có thể lí giải được vấn đề.
người đọc, người nghe là: “thiện luôn - Các em được tự bộc lộ suy nghĩ riêng
thắng ác”, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp của bản thân, được đặt mình vào vị trí
ác”. Với suy nghĩ như thế, dân gian của Tấm, của tác giả dân gian để lí giải
không cho rằng hành động của Tấm là hành động của Tấm. Từ đó, hiểu được
độc ác, thậm chí là cần thiết đối với nội dung tư tưởng của tác phẩm mà tác
Cám tức là kẻ ác cần bị trừng trị đích giả dân gian muốn gửi gắm qua nhân
đáng.

vật.

- Hiền không đồng nghĩa với nhút nhát, - Học sinh hiểu sâu hơn những triết lí
sợ hãi, nhường nhịn hay là chịu khuất sống của dân gian và rút ra cho mình
phục trước cái ác, cái xấu. Trong quan những bài học bổ ích về cách ứng xử
niệm của dân gian là “đi với bụt mặc trong cuộc sống “gieo gió gặt bão”,
áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”.


Kết quả đạt được sau khi giải quyết
vấn đề
- Học sinh được rèn luyện kĩ năng làm
văn tự sự, được nhập vai đồng sáng tạo
với tác giả.
- Học sinh hiểu sâu sắc hơn giá trị tư
tưởng và giá trị nghệ thuật của tác
phẩm đặc biệt là đặc điểm của thể loại
truyền thuyết.
- Qua bài văn tự sự của mình các em
cũng đã bày tỏ nhiều quan niệm sống
hay như: phải biết khát vọng nhưng
không nên tham vọng, phải biết thông
cảm và tha thứ…

Bản chất của nghệ thuật là sự sáng tạo. Tuy nhiên, giữa các tác phẩm văn
học ở các thể loại khác nhau, các thời kì văn học và cả ở những quốc gia trên thế
giới vẫn có những điểm gặp gỡ về tư tưởng, tình cảm. Mục đích sử dụng phương
pháp so sánh là để giáo viên giúp học sinh thấy được sự gần gũi trong sự việc
nhưng khác về đề tài, kết cấu, loại hình nhân vật, các thể hiện trong tác phẩm.
Ví dụ 1: Đoạn trích “Ra-ma buộc tội” (Trích Ra-ma-ya-na- sử thi Ấn Độ)

10


?) Có điểm gì gần gũi và khác biệt giữa Vũ Nương (Người con gái Nam XươngNguyễn Dữ) và nàng Xi-ta (Ra-ma buộc tội)
+ Giống nhau: Cùng bị oan ức, chồng nghi ngờ, ghen tuông thất tiết, cùng tìm
đến cái chết để thanh minh sự trong trắng của mình và đã được thanh minh
+ Khác nhau:

(Cendrilon ở Pháp, Cinderella ở Anh, Cenerentola ở Ý hay Doluska ở Nga). Về
hình mẫu nhân vật và các tình tiết cơ bản giống nhau. Tuy nhiên, ở mỗi quốc
gia, do đặc trưng văn hoá nên có những chi tiết khác biệt. Cô Tấm trong truyện
cổ tích Việt Nam là một người con gái thuần Việt với những công việc đồng áng,
lời ăn tiếng nói, dung mạo ngoại hình. Hình ảnh cái yếm đỏ, con cá bống, con
gà, chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị, miếng trầu là những hình
ảnh xuất hiện nhiều trong văn hoá Việt. Ngoài ra, riêng ở Việt Nam cũng có
những dị bản khác nhau của truyện Tấm Cám
11


Khi giáo viên giảng dạy các tác phẩm văn học dân gian nên lưu ý đến tính
dị bản để học sinh thấy được sự phong phú đa dạng trong sức sáng tạo của tập
thể nhân dân lao động.
d. Phương pháp giảng dạy theo đặc trưng thể loại
Văn học dân gian có bao nhiêu thể loại thì có bấy nhiêu hệ thống thi pháp.
Mỗi thể loại có những đặc điểm riêng. Vì thế dạy văn học dân gian không thể
giống và đồng nhất với thi pháp văn học viết. Dạy sử thi là phải bám sát vào đặc
điểm thi pháp của sử thi như tính chất anh hùng ca, âm điệu hào hùng, ngôn ngữ
có tính trang trọng với nhiều hình ảnh so sánh, phóng đại, nhân vật là người anh
hùng đại diện cho sức mạnh, ý chí nguyện vọng của cộng đồng. Dạy truyện cổ
tích là phải nắm được kết cấu cốt truyện, là tính chất hư cấu tưởng tượng của tác
phẩm, là mô típ nhân vật, mô típ tình tiết, là kiểu kết thúc có hậu.
Trước hết người dạy cần bám sát văn bản ngôn từ với những đặc trưng
của nó như tính lặp đi lặp lại trở thành mô típ, biểu tượng nghệ thuật, cách phô
diễn dân gian, kết cấu, nhân vật, thời gian và không gian nghệ thuật, ngôn ngữ
làm cơ sở để phân tích tác phẩm, tìm ra những thông tin thẩm mĩ ẩn chứa trong
đó. Tuy nhiên văn bản ngôn từ văn học dân gian cũng có nét riêng đó là tính dị
bản, là tư duy cộng đồng, là cảm hứng dân gian. Điều đó giải thích vì sao truyện
cổ tích thường có cốt truyện, kết cấu giống nhau, với những kiểu nhân vật như



Di tích Cổ Loa và lễ hội Cổ Loa hàng năm
Chẳng hạn, khi dạy truyện cổ tích Tấm Cám, giáo viên chia lớp làm 2
nhóm. Mỗi nhóm trình diễn lại một phần cuộc đời của cô Tấm. Nhóm 1 là giai
đoạn Tấm ở cùng mẹ con Cám. Nhóm 2 là giai đoạn Tấm vào cung vua. Sau đó,
các em tự nhận xét về trang phục, đạo cụ, cách diễn xuất, ý nghĩa truyện. Cuối
cùng giáo viên nhận xét, đánh giá, rút ra kết luận.
Phương pháp này tạo được rất nhiều hứng thú và tạo cho học sinh sự tích
cực, chủ động trong quá trình chuẩn bị bài, để lại ấn tượng sâu sắc về một tác
phẩm văn học dân gian trong lòng học sinh.
3.3. Bài tập vận dụng
Để đánh giá về kĩ năng và kết quả học tập của học sinh một cách toàn
diện hơn, sau mỗi bài học về tác phẩm văn học dân gian cụ thể, giáo viên nên
14


cho học sinh làm thêm một số bài tập vận dụng. Bài tập này phải phù hợp với
từng đối tượng học sinh.
Ví dụ: Khi dạy về thể loại ca dao
- Đối với học sinh trung bình, giáo viên có thể cho dạng bài tập như sau:
+ Thống kê các hình ảnh so sánh, ẩn dụ trong những bài ca dao đã học và
cho biêt người lao động bình dân thường lấy các hình ảnh đó từ đâu
+ Tìm thêm một số câu ca dao nói về: Chiếc khăn, chiếc áo, mô thức Thân
em như…
- Đối với học sinh khá giỏi, giáo viên có thể cho dạng bài tập:
+ Tìm một vài bài thơ (hoặc câu thơ) của các nhà thơ trung đại và hiện đại
có sử dụng chất liệu văn học dân gian để chứng minh vai trò của văn học dân
gian đối với văn học viết.


Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa là bộ phận phong phú nhất trong
kho tàng ca dao trữ tình Việt Nam. Nó phản ánh những biến thể, những cung bậc
khác nhau trong đời sống tình cảm của người Việt xưa với những đặc trưng nghệ
thuật rất đặc thù. Buổi học hôm nay, chúng ta tìm hiểu về “Ca dao than thân,
yêu thương tình nghĩa”.
Hoạt động của giáo viên- học sinh
Yêu cầu cần đạt
Tiểu dẫn SGK giới thiệu những I. Tìm hiểu chung
vấn đề gì?
1. Thể loại: Ca dao
1. Nêu khái niệm ca dao?
- Định nghĩa: Là lời thơ trữ tình dân gian,
thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng,
được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của
con người.
2. Nội dung chủ yếu của ca dao là - Nội dung: Ca dao diễn tả đời sống tâm hồn, tư
gì?
tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ
gia đình, xã hội, đất nước…(thiên về trữ tình).
- Nghệ thuật: Lời ca dao thường ngắn gọn, gần
3. Đặc điểm nghệ thuật của ca gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, giàu hình
dao?
ảnh so sánh, ẩn dụ, đặc biệt là lối diễn đạt bằng
một số công thức mang đậm sắc thái dân gian.
2. Văn bản SGK:
Cho học sinh nghe hát một số bài - Nội dung: than thân và yêu thương, tình
ca dao.
nghĩa…
- Nghệ thuật: Thể hiện nhiều nét nghệ thuật đặc
trưng của ca dao: thể thơ, hình ảnh so sánh, ẩn

trữ tình ntn?
quyền quyết định hạnh phúc của mình. Nỗi đau
xót của nhân vật trữ tình chính là ở chỗ khi
người con gái bước vào độ tuổi đẹp nhất thì
cũng là lúc họ lại lo cho thân phận , tương lai
của họ
- So sánh hai bài ca dao:
GV hướng dẫn Hs tìm hiểu bài số + Giống nhau: Hai bài ca dao nói lên thân phận
2 cùng chủ đề với bài 1
bị phụ thuộc của người phụ nữ và là tiếng nói
? Cho Hs thảo luận về những hình khẳng định giá trị, phẩm chất của họ
ảnh so sánh: tấm lụa đào, củ ấu + Sắc thái tình cảm riêng: Bài trên nhấn mạnh
gai ... những hình ảnh đó có giá vẻ đẹp của tuổi xuân thì bài 2 nhấn mạnh đến
trị như thế nào trong việc thể hiện giá tri thực của người con gái: “Ruột trong thì
chủ đề than thân. Điểm giống trắng, vỏ ngoài thì đen” Lời mời mọc càng
nhau và sắc thái tình cảm riêng khẳng định giá trị thực đó
biệt của hai bài.
2. Bài số 4: Ca dao yêu thương, tình nghĩa
17


GV dẫn dắt : Thương nhớ vốn là
tình cảm khó hình dung nhất là
thương nhớ trong tình yêu . Vâỵ
mà cũng có khi nó lại được dân
gian thể hiện một cách cụ thể
trong ca dao. Đó là nhờ cách nói
mang tính nghệ thuật cao của ca
dao.
? Hs đọc bài-> hsinh khác nhận

+ Khăn thương nhớ ai- khăn- rơi xuống đất
vắt lên vai
chùi nước mắt
điệp từ, điệp ngữ
=> nỗi nhớ triền miên da diết trải nhiều chiều,
nhiều hướng-> không gian
-> trạng thái bồn chồn ko yên.
- Thanh bằng 16/24-> nỗi nhớ nhẹ nhàng, da
diết, đằm sâu nữ tính.

- Đèn: Sự chuyển biến từ không gian sang thời
gian
+, Đèn - thương nhớ ai-> nhân hóa
không tắt-> trằn trọc, cồn cào, da diết,
thời gian (ngày->đêm)
18


ntnào?
? Tại sao ca dao lại sử dụng hình
ảnh đèn trong việc thể hiện nỗi
nhớ?
? ánh sáng của ngọn đèn ko tắt
giúp em liên tưởng điều gì?
? Hình ảnh mắt được biểu hiện
ntnào?
? Tại sao ca dao lại sử dụng hình
ảnh đôi mắt để biểu hiện nỗi nhớ?
? Em biết câu ca dao nào cũng có
hình ảnh đôi mắt?

- Đại từ ai- phiếm chỉ-> nỗi nhớ thăm thẳm
mênh mông ko giới hạn.
b, Nỗi lo phiền:
- Đêm qua em những lo phiền.
Lo vì một nỗi ko yên một bề.
trăm mối tơ vò
=> Bài ca là tiếng hát đầy yêu thương của 1
tấm lòng đòi hỏi phải được yêu thương.
19


có nhận xét gì về tình cảm của cô 3. Bài 6: Ca dao tình nghĩa
gái?
- Muối – gừng +, gia vị: bữa ăn
? Vì sao khi nói đến tình nghĩa
+, vị thuốc của những người lao
của con người, ca dao lại dùng động nghèo.
hình ảnh muối – gừng?
+, hương vị tình người.
? Phân tích ý nghĩa biểu tượng và -> biểu tượng ca dao: sự thủy chung gắn bó.
giá trị biểu cảm của hai hình ảnh - Muối – gừng trong bài-> biểu tượng tình cảm
đó?
vợ chồng bền vững, thủy chung.
? Tìm thêm 1 số câu ca dao khác? - Lối nói trùng điệp, nhấn mạnh, tiếp nối, lục
Tay nâng chén muối đĩa gừng
bát biến thể(13 tiếng)
Gừng cay muối mặn xin đừng => Tình cảm sâu nặng, thắm thiết, thuỷ chung,
quên nhau…
luôn bền vững của vợ chồng trước thử thách
? Đặc sắc về nghệ thuật biểu đạt

học sinh hứng thú tham gia xây dựng bài hơn so với phương pháp giảng dạy
trước đây. Cụ thể:
- Về kiến thức:
+ Giúp học sinh hiểu được một tác phẩm văn học dân gian theo đúng đặc trưng
thể loại
+ Cảm nhận được tình cảm, tâm hồn tinh tế của tác giả dân gian
+ Có ấn tượng sâu sắc đối với từng tác phẩm
- Về kỹ năng:
+ Phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh trong giờ học, giúp giờ học
sinh động hơn
+ Có hứng thú và năng lực tiếp cận, phân tích tác phẩm văn học dân gian cụ thể
+ Rèn luyện thêm năng lực cảm thụ văn học dân gian
Kết quả bài thu hoạch ở các lớp 10 sau khi học xong phần văn học dân
gian qua hai năm học: 2014-2015 và 2015-2016 như sau:
Câu hỏi: Sau khi học xong các tác phẩm văn học dân gian, tác phẩm nào để lại
trong em ấn tượng sâu sắc nhất? Viết một bài văn thể hiện cảm nhận của em?
Năm học
2014-2015
2015-2016

Lớp/ Sĩ số < 5 điểm
10A7/ 45 14 (31.1%)
10A2/ 44 8 (18.2%)

5- 6 điểm
20 (44.4%)
17 (38.6%)

7-9 điểm
11 (24.5%)

- Tổ chức các hoạt động nhóm phong phú: chia nhóm thảo luận, sân khấu hoá
các trích đoạn
- Lựa chọn bài tập để rèn kĩ năng và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
2. Kiến nghị
- Nhà trường phối hợp với tổ bộ môn tổ chức các hoạt động ngoại khoá để
đưa tác phẩm văn học dân gian từ văn bản sách giáo khoa gắn liền với môi
trường diễn xướng của nó.
- Duy trì và phát huy việc viết sáng kiến kinh nghiệm về đổi mới phương
pháp dạy học, nếu sáng kiến nào sau thẩm định, thấy có giá trị thực tế cao thì
nên tiến hành triển khai trong nhà trường.
Với mong muốn góp phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học,
mặc dù đã cố gắng những vẫn còn có những hạn chế nên bài viết này chưa thể
chuyển tải hết ý tưởng mà tôi muốn trình bày. Vì thế mong các đồng nghiệp góp
ý để bản thân tôi rút kinh nghiệm và hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Thanh hoá, ngày 18 tháng 5 năm 2016

22


ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người thực hiện

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 10 (tập 1), NXB Giáo dục, năm 2007
2. Sách giáo viên Ngữ văn 10 (tập 1), NXB Giáo dục, năm 2007


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status