TÊN ĐỀ TÀI
KINH NGHIỆM DẠY BÀI TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG BÀI VIẾT BÀI TẬP LÀM
VĂN SỐ 5: BÀI VĂN THUYẾT MINH VỀ MỘT DANH LAM THẮNG
CẢNH - NGỮ VĂN LỚP 10
1.MỞ ĐẦU
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh
giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên
tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo, sau khi Quốc hội thông qua Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ
thông, Bộ GD-ĐT tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng
cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó
tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp, liên môn” là một trong những
vấn đề cần ưu tiên Kiểm tra, đánh giá học sinh (HS) là những khâu rất quan trọng
trong quá trình dạy học và giáo dục. Bộ GD&ĐT đã có nhiều giải pháp nhằm cải
tiến kiểm tra, đánh giá (KTĐG), bước đầu đã có chuyển biến tích cực, song kết quả
đạt được vẫn còn hạn chế, chưa hướng đến đánh giá năng lực HS. Trong bài viết
này, tôi xin đề cập đến đổi mới KTĐG KINH NGHIỆM DẠY BÀI TÍCH HỢP LIÊN
MÔN TRONG BÀI VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 5: BÀI VĂN THUYẾT
MINH VỀ MỘT DANH LAM THẮNG CẢNH - NGỮ VĂN LỚP 10 đồng thời
đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng KTĐG, góp phần nâng cao chất
lượng cho dạy và học của trường ta hiện nay.
Kiểm tra: trong Đại từ điển Tiếng Việt Nguyễn Như Ý giải thích KT là xem
xét thực chất, thực tế. Theo Bửu Kế, KT là tra xét, xem xét, là soát xét lại công
việc. KT là xem xét tình hình thực tế để ĐG và nhận xét. Theo Trần Bá Hoành,
kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, thông tin làm cơ sở cho việc ĐG. Một số nhà
khoa học GD cho rằng: KT với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét,
soát xét lại công việc thực tế để ĐG và nhận xét.
Đánh giá: là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả
công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục
trên cơ sở hiểu biết về vấn đề đề xuất cách ra đề KINH NGHIỆM DẠY BÀI TÍCH
HỢP LIÊN MÔN TRONG BÀI VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 5 : BÀI VĂN
THUYẾT MINH VỀ MỘT DANH LAM THẮNG CẢNH - NGỮ VĂN LỚP 10
1.3. ĐỐI TƯỢNG
* Đối tương nghiên cứu :Về phía học sinh, tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động,
quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những
gì giáo viên đã giảng. Đa phần học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám
phá bài học. Điều này đã thủ tiêu óc sáng tạo, suy nghĩ của người học, biến học
sinh thành những người quen suy nghĩ diễn đạt bằng những ý vay mượn, bằng
những lời có sẵn, đáng phải làm chủ tri thức thì lại trở thành nô lệ của sách vở.
Người học chưa có nhu cầu tự thân bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân
trước tập thể, nếu phải nói và viết học sinh cảm thấy khá khó khăn.
Đối tượng dạy học của dự án là học sinh.
Số lượng: 84 em.
Số lớp thực hiện: 2.
Khối lớp: 10
* Phạm vi nghiên cứu: BÀI VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 5: BÀI VĂN
THUYẾT MINH VỀ MỘT DANH LAM THẮNG CẢNH - NGỮ VĂN LỚP 10
1.4 .PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2
Phương thức đánh giá không chú trọng yêu cầu học thuộc, nhớ máy móc, nói
đúng và đầy đủ những điều thầy, cô đã dạy… mà coi trọng ý kiến và cách giải
quyết vấn đề của mỗi cá nhân người học; động viên những suy nghĩ sáng tạo, mới
mẻ, giàu ý nghĩa; tôn trọng sự phản biện trái chiều, khuyến khích những lập luận
giàu sức thuyết phục…
Muốn thế đề thi và đáp án cần theo hướng mở; với những yêu cầu và mức độ
phù hợp; tránh cả hai khuynh hướng cực đoan: “đóng” một cách cứng nhắc, máy
thiếu sáng tạo. một phần nữa là do vốn kiến thức của một bộ phận học sinh còn
nghèo nàn nên trình bày cách hiểu sáo mòn công thức thậm chí là sai lệch một cách
tai hại. Số học sinh này kỹ năng diễn đạt yếu nên bài văn hệ thống lộn xộn, bố cục
3
không rõ ràng. Giáo viên còn lúng túng trong việc ra đề vì thiếu một “cơ chế mở”
trong khi yêu cầu của ngành học và người học ngày càng cao và yêu cầu đổi mới.
Điều đó lý giải vì sao mà học sinh nhiều em không thích học môn văn học.
Qua thực tế quá trình dạy học tôi thấy rằng việc kết hợp kiến thức liên môn
học vào để giải quyết một vấn đề nào đó trong một môn học là việc làm hết sức cần
thiết. Điều đó đòi hỏi người giáo viên bộ môn không chỉ nắm chắc môn mình dạy
mà còn phải không ngừng trau dồi kiến thức các môn học khác để tổ chức, hướng
dẫn các em giải quyết các tình huống, các vấn đề đặt ra trong môn học một cách
nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Là giáo viên nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động này
nên tôi trình bày và thực hiện thử nghiệm một dự án nhỏ đối với môn Ngữ văn 10.
Việc kết hợp các kiến thức liên môn như Lịch sử, Địa lý, GDCD vào môn
Ngữ văn rất quan trọng, giúp cho bài làm văn bao quát, đầy đủ ý hơn. Từ đó bài
làm có sức thuyết phục hơn nhất là đối với bài văn Thuyết minh.
Như vậy, kiến thức liên môn tạo điều kiện cho học sinh chủ động, tích cực,
sáng tạo; giáo dục thêm những hiểu biết về quê hương bồi dưỡng lòng tự hào và
yêu quê hương đất nước mình hơn đồng thời giúp học sinh ý thức hơn việc học
phải đi đôi với hành; rèn luyện các kĩ năng giải quyết tình huống trong cuộc sống
và ứng dụng vào thực tế đời sống.
Thiết bị dạy học , học liệu :
Cần kết hợp các tri thức khách quan ở địa phương:
- Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Sầm Sơn .
- Đặc điểm địa lý, địa hình của thị xã Sầm Sơn .
- Đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội của thị xã.
trong tiết học có hướng dẫn của giáo viên .
* . HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
Vận dụng các kiến thức liên môn:
- Lịch sử : nguồn gốc, lịch sử đấu tranh
- Ngữ văn : sử dụng từ ngữ, phương thức biểu đạt phù hợp cho bài văn;
- Địa lí : vị trí địa lí, địa hình, đặc điểm phát triển kinh tế;
- Giáo dục công dân : lòng yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc.
Viết các ý chính : Tìm hiểu -> Lập dàn ý -> Viết thành bài văn.
Từ các kiến thức đó để học sinh viết thành bài làm văn thuyết minh:
Ví dụ:
Thanh Hóa có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và độc đáo với phong
cảnh thiên nhiên hùng vĩ, danh lam thắng cảnh nổi tiếng, di sản văn hóa hết sức có
giá trị. Là vùng đất địa linh đầu miền Trung, trên tuyến đường xuyên Việt, một vị
trí địa lý thuận lợi để du khách dừng chân, hơn thế Thanh Hóa còn là cái nôi của
nền văn minh sông Mã. Sầm Sơn! Vùng đất có núi, sông, ruộng đồng, biển cả.
Cảnh sắc như một bức tranh thiên nhiên hài hòa, giàu tiềm năng lợi thế; gắn liền
những di tích – danh thắng đậm tính nhân văn, với truyền thống lịch sử - văn hóa
lâu đời; từ lâu đã trở thành một trung tâm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn du khách bốn
phương và bạn bè quốc tế.
Vài nét về quê hương Sầm Sơn
TỔNG QUAN VỀ SẦM SƠN
5
I - CÁC YẾU TỐ VÀ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN
Thị xã Sầm Sơn nằm ở phía Đông tỉnh Thanh Hoá, cách Thành phố Thanh
Hoá khoảng 16 km; phía Bắc giáp huyện Hoàng Hoá (ranh giới là sông Mã); phía
Nam và phía Tây giáp huyện Quảng Xương (cách sông Đơ); phía Đông giáp Vịnh
Bắc Bộ. Thị xã Sầm Sơn có 5 đơn vị hành chính, gồm 04 phường và 01 xã với tổng
diện tích tự nhiên gần 17,9 km2, dân số năm 2010 là 62.550 người, chiếm 0,16%
leo núi, du lịch mạo hiểm. Ngoài ra ở đây còn có những bãi cỏ rộng và những sườn
thoải phù hợp cho du lịch cắm trại, vui chơi giải trí...
Nền địa chất của Sầm Sơn khá tốt, cường độ chịu tải của đất cao, đạt từ 1 - 2
2
kg/cm , riêng khu vực gần núi Trường Lệ đạt trên 2 kg/cm 2, rất tốt cho xây dựng
các công trình.
1.2. Đặc điểm khí hậu
Thị xã Sầm Sơn nằm trong miền khí hậu Bắc Việt Nam, thuộc vùng khí hậu
nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa hạ
nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa.
Chế độ nhiệt: Sầm Sơn có chế độ nhiệt tương đối cao, nhiệt độ trung bình
năm khoảng 23oC. Nhiệt độ trung bình mùa hè (tháng 5 - 9) là 25 oC, tháng nóng
nhất nhiệt độ lên đến 40oC; nhiệt độ trung bình mùa đông (từ tháng 12 năm trước
đến tháng 3 năm sau) là 200C, tháng lạnh nhất có thể xuống đến 5oC. Tổng tích ôn
cả nămkhoảng 8.6000C; số giờ nắng cao, trung bình 1700 giờ/năm. Tháng có số giờ
nắng cao nhất (tháng 7) là 225 giờ, tháng có số giờ nắng thấp nhất (tháng 2) là 46
giờ.
Chế độ gió: Sầm Sơn chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Đông
Bắc và gió mùa Tây Nam. Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa đông (từ
tháng 11 đến tháng 2 năm sau), bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa
Đông Bắc mang theo không khí lạnh, làm nhiệt độ giảm xuống từ 5 - 10 oC so với
nhiệt độ trung bình năm. Về mùa hè (từ tháng 3 - 11) gió thịnh hành là Đông Nam
mang theo hơi nước gây mưa nhiều. Riêng đầu mùa hè thường xuất hiện gió Tây
khô nóng (gió Lào) ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
Chế độ mưa: Lượng mưa ở Sầm Sơn khá lớn, trung bình năm từ 1600 - 1900
mm, nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa. Mùa khô (từ tháng 12 - 4 năm
sau) lượng mưa rất ít, chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm, ngược lại mùa mưa (từ
tháng 5 - 11) tập trung tới 85% lượng mưa cả năm. Mưa nhiều nhất vào tháng 8,
lượng mưa có năm lên tới gần 900 mm. Ngoài ra trong mùa này thường có giông,
bão kèm theo mưa lớn gây úng lụt cục bộ.
leo núi, du lịch mạo hiểm. Trên núi Trường Lệ còn có các di tích như đền Độc
Cước, đền Cô Tiên, đền Tô Hiến Thành... rất có giá trị du lịch văn hóa, du lịch tâm
linh. Đặc biệt hòn Trống Mái trên núi Trường Lệ là cảnh quan tự nhiên độc đáo của
Sầm Sơn cũng như của cả nước, rất hấp dẫn khách du lịch.
Ngoài ra, cảnh quan tự nhiên dọc hai bờ sông Mã, sông Đơ cũng là điều kiện
lý tưởng để Sầm Sơn phát triển các tuyến du lịch sinh thái trên sông, biển
Tóm lại, sự đan xen giữa các loại địa hình (sông, núi, biển), giữa các bãi biển
với núi Trường Lệ và cảnh quan sông nước, cùng với các hồ, đầm ở Quảng Cư và
những rặng thông, phi lao dọc ven biển... tạo nên sự phóng phú và đa dạng của tài
nguyên du lịch trên địa bàn, là điều kiện rất thuận lợi để Sầm Sơn phát triển nhiều
loại hình du lịch hấp dẫn.
* Về tài nguyên du lịch nhân văn: Bên cạnh những tài nguyên du lịch tự
nhiên, Sầm Sơn còn có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn khá phong phú gồm các
di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, ngành nghề truyền thống và các giá trị văn hóa
khác. Theo thống kê, trên địa bàn Sầm Sơn có 16 di tích, là một trong số các địa
phương có tỷ lệ di tích cao trong cả nước, trong đó có 6 di tích cấp Quốc gia gồm:
SẦM SƠN DI TÍCH - DANH THẮNG VÀ LỄ HỘI
SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ VÀ DANH
LAM, THẮNG CẢNH THỊ XÃ SẦM SƠN.
9
Thị xã Sầm Sơn có diện tích 18 km 2 với 17 Di tích – Danh lam được phân bố
đều ở 5 xã phường.
1. Đền Độc cước :
Nằm trên hòn Cổ Giải thuộc Núi Trường Lệ, Phường Trường Sơn. Thờ vị
Thần Một Chân (Độc Cước) đã có công tự xẻ đôi thân mình, dẹp loài Thuỷ Quái,
bảo vệ cuộc sống bình yên cho Dân chài Sầm Sơn, được nhân dân phụng thờ 4 mùa
cúng tế. Nơi đây còn là nơi diễn ra Lễ hội truyền thống Bánh Chưng – Bánh Dày
hàng năm vào ngày 12 tháng 5 âm lịch. Di tích đã được Bộ Văn hoá TT xếp hạng
phục cho hoá thành đôi Chim Đá để ngày ngày quấn quýt bên nhau trên núi cao
không bao giờ chịu cảnh lũ lụt nữa . Danh thắng được bộ văn hoá xếp hạng cùng
Đền Độc Cước, Cô Tiên và Đền Tô Hiến Thành
4. Chùa Khải Minh:
Là ngôi chùa cổ được khôi phục lại (1994) có quy mô lớn nhất trong hệ thống thờ
Phật ở Sầm Sơn, chùa có hàng chục pho tượng cổ đẹp, khánh đá to đẹp và chuông
đồng có cữ “ Đông Khê áp chung”. Chùa Khải Minh nay thuộc Khu phố Bình Sơn
Phường Bắc Sơn. Được Sở Văn hoá - TT Thanh Hoá công nhận là Di tích Lịch sử
Văn hoá năm 1994
5. Đền Đề Lĩnh (Thu phường Trung Sơn)
11
)
Đây là ngôi đền thờ Thần Hoàng làng Lương Trung: Đường Công Quang
Lộc, là Tứ trụ triều đình thời vua Lê Tương Dực (1510 – 1515) có công khai dân,
lập ấp nên Làng Lương Trung trong lịch sử. Được nhân dân tôn thờ cúng tế và suy
tôn là ông tổ của Lò võ vật Lương Trung. Vào dịp ngày giỗ Thần 16 tháng giêng,
nơi đây diễn ra lễ hội truyền thống với các hoạt động văn hoá mang tính giáo dục
cho nhiều thế hệ. Di tích được Sở Văn hoá - TT Thanh hoá cấp bằng công nhận
năm 1995
6. Đền Bà Triều.
Được người xưa dựng trên đất Làng Chấp, nay thuộc Thôn Công Vinh, xã
Quảng Cư (Trước đây Đền được tọa lạc trên Làng Triều ngoài), nay thuộc thôn
Tiến Lợi, do sụt lở sông ngòi, Đền được cha, ông di dời đến địa điểm ngày nay).
Ngôi Đền thờ Bà Triều; Tổ Sư của nghề dệt săm súc, một phương tiện đánh bắt
tôm, moi, hải sản của vùng Sầm Sơn. Đây là một làng nghề truyền thống đang được
khôi phục và phát triển tại thôn Tiến Lợi, nơi Bà đã truyền nghề cho con cháu
ngoài Đầu Voi”Hòn ở đây theo cách nói của người địa phương nghĩa là ngọn núi.
Mỗi hòn núi mang một dáng dấp, vẻ đẹp riêng, cho ta một bức tranh toàn thể, cao,
dài bát ngát. Bài thơ của ông Nghè Khuyến (Người Nghĩa Trang – Hoằng Hoá)
đoạn đầu đã viết:
“ Bể rộng ai đào để đắp non,
Vết chân Độc Cước tới nay còn.
Lô nhô sườn núi nhà thưa mái
Khấp khểnh chân mây, đá mấy hòn”.
13
Dẫu không có giá trị nhiều về tư tưởng, nhưng đã phản ánh được vẻ đẹp hoàn
toàn tự nhiên của núi Trường Lệ mà không phải nơi nào cũng có. Mỗi hòn núi, mỗi
bờ khe tự nó có thể kể cho chúng ta một sự tích, một huyền thoại, hay ít nhất với
hình dáng kỳ lạ, nó gợi mở cho chúng ta trí tưởng tượng của người du ngoạn cất
cánh, bay bổng.
Truyền thuyết: “Thần Độc Cước”
Thuở xưa, xưa lắm, ngoài biển khơi có một loài Quỷ đỏ rất thích ăn thịt
người; Dân chúng kể rằng: Loài Quỷ này mình tròn trùng trục, mõm dài vêu vao,
răng nhọn hoắt, miệng đỏ lòm; dân chài ra khơi đánh cá thường bị chúng bắt ăn
tươi nuốt sống... không đi biển thì cả nhà đói khát, mà đi thì khó thoát khỏi nanh
vuốt loài Quỷ biển, họ đành phải mò ngao, bắt con tôm, con ốc nơi cửa sông, ven
bờ để sống lần hồi cho qua ngày đoạn tháng.
Nhưng lũ Quỷ nào chịu để yên, chúng khát mồi, mò vào tận đất liền, hàng
loạt người dân vô tội, không kể đàn ông, đàn bà, trẻ em... tóm được người nào
chúng ăn thịt ngay người đó. Xóm làng dần dần trở nên vắng ngắt, ruộng vườn, nhà
cửa xơ xác hoang tàn.
Hồi bấy giờ, một chú bé mồ côi vừa chui ra khỏi bụng mẹ đã biết chạy nhảy
và lớn nhanh như thổi (Theo truyền thuyết thì đây là con của Mẹ núi); Hột lúa lớn
Người phong Thần, phong Thánh cho Chàng với tên gọi là “Thần Độc Cước”.
Câu chuyện trên phản ánh sức vóc vĩ đại của tổ tiên ta, nói lên ước mơ kì
diệu của người xưa trong công cuộc đấu tranh chống thiên tai ác liệt, đồng thời ca
ngợi một tấm gương chói lọi xả thân bảo vệ nhân dân, bảo vệ quê hương đất nước,
biển trời. Đền Độc Cước ngày nay là do nhiều thế hệ cha ông chúng ta xây nên để
thờ Thần Độc Cước, và để nhân dân Sầm Sơn cùng du khách bốn phương quanh
năm được hương khói, phụng thờ, vãn cảnh...
Sự Tích:Bà Triều
Đã lâu và lâu lắm ở Sầm Sơn chưa có nghề ngư. Người dân chỉ kiếm sống
bằng cách đi ven biển tìm bắt những con còng, con trai chứ ít khi bắt được cá tôm
vốn rất nhiều ở dưới biển.
15
Một ngày nọ biển động sóng to, gió lớn khiến không một ai dám ra khỏi nhà,
nhưng trên bãi biển vẫn có một bà già đầu bạc, lưng còng đang lần bước cố chống
chọi lại với bão tố phũ phàng. Bà cụ khó thoát khỏi cái lưỡi khổng lồ của sóng thần
đang chuẩn bị ập tới. Nhưng rồi có một cô gái không chịu nổi cảnh sắp xảy ra, nên
đã liều mình lao tới cõng bà cụ chạy vào nơi an toàn. Từ đó bà cụ sống với cô gái,
thương nhau như hai mẹ con vì cô gái cũng không còn ai nương tựa.
Một già, một trẻ tựa vào nhau kiếm ăn trên bãi biển ngày ngày, có một điều thật
lạ, từ ngày ở chung với nhau cuộc sống của họ khấm khá hẳn lên. Làng xóm đồn
rằng cô gái ấy được bà cụ trao cho một vật báu có thể đánh bắt được cá tôm theo ý
muốn. Người làng dò hỏi, nhưng ai nấy đều ngạc nhiên khi thấy cô đưa ra một tấm
lưới gai se rất săn, được đan thành những chéo đều và dày, không ai tin mành lưới
đơn sơ ấy đánh được tôm cá. Mọi ngưới đều cho rằng mẹ con bà không thật bụng
đã lừa dối dân làng, nên buộc họ phải dời đi nơi khác. Mẹ con người đàn bà nọ phải
sang phía Bắc Lạch Trào ở vì họ không thể nào sống xa biển được. Ngày họ ra đi
không có ai đưa tiễn, nhưng có nhiều chàng trai để thương, để nhớ trong lòng. Họ
đã ra đi. Đó là nghè Triều Dương – Nghĩa là thuỷ triều buổi sáng – ý muốn nói tới
sự phong quang, tốt đẹp của vùng biển này.
Không ai biết tên bà cụ, người ta gọi bà là Bà Triều. Những tấm lưới của Bà
Triều dệt nên không chỉ để đánh bắt tôm cá, mà nó còn dệt nên tình yêu, hạnh phúc
của bao nhiêu chàng trai và cô gái. Bà Triều chính là Tổ sư của nghề dệt săm súc
đánh moi, nghề cổ truyền của dân biển Sầm Sơn.
SẦM SƠN VỚI CÁC LỄ HỘI
Sầm Sơn là vùng đất gắn với nhiều di tích - danh thắng và những lễ hội văn
hoá truyền thống lâu đời. Ở đây Chúng tôi xin trích giới thiệu một số lễ hội lớn,
được nhân dân khôi phục tổ chức hàng năm trong phạm vi Thị xã.
Lễ hội Bánh Chưng Bánh Dày
Thường niên, vào ngày 12 tháng 5 âm lịch, nhân dân của 4 làng thuộc xã Lương
Niệm xưa tổ chức rước kiệu hội đồng, Thần linh tập trung tại sân Đền Độc Cước, tế
lễ và thi làm Bánh Chưng – Bánh Dày. Đây là Lễ hội cầu mưa (Cầu vũ), cầu cho
biển lặng gió êm, cầu cho thôn xóm được mùa, cho làng xóm bình yên, nhân dân
vào lộng ra khơi đánh bắt được nhiều tôm cá.
Những năm gần đây, lễ hội được nhân dân Sầm Sơn khôi phục và phát triển.
Vào ngày Lễ hội, kiệu của 8 làng trên địa bàn Thị xã được rước về sân trước Đền
Độc Cước từ rất sớm, mỗi đoàn rước có khoảng 300 đến 400 người. Đoàn rước
gồm người cầm biển hiệu dẫn đường, sau đó là nhóm người vừa đi vừa diễn trò dân
gian đến kiệu làng, mâm bánh chưng bánh dày tế lễ, mâm sơn trang, ngũ quả, và
17
sau cùng là đoàn người già, trẻ, gái, trai ăn vận quần áo truyền thống, khăn xếp áo
the. Ở Làng núi và Làng Cá lập còn có đôi nam thanh nữ tú, rước theo bộ quân cờ
để diễn trò múa trao quân cờ trước khi khai mạc Lễ hội. Thông thường trong
chương trình Lễ hội, ngoài màn tế Thần (Tế chung cho Lễ hội), ban tổ chức Lễ hội
còn tổ chức thi Tế giữa các làng, thi đi Cà kheo, thi hát dân ca, Hội vật, cờ người...
ngày hội đua thuyền, các làng rước kiệu Thần của làng mình xuống thuyền, mỗi
thuyền một kiệu rồi xuôi thuyền ra giữa dòng sông và tế lễ. Khi tế lễ xong thì cuộc
đua chính thức bắt đầu. Mỗi thuyền đua 16 người, ăn vận đồng phục đồng mầu,
trong đó có một người chỉ huy, một người cầm lái, còn lại là các tay bơi, họ đều là
những thanh niên trai tráng, nhanh nhẹn, thông thạo luồng lạch.
Đội bơi của mỗi làng mặc một màu quần áo khác nhau: Xanh - Đỏ – Vàng ...
Trên chít khăn mỏ rìu, lưng thắt khăn màu đỏ, hiệu lệnh phát ra, các thuyền
đua lướt tới, mỗi thuyền phải bơi đủ 4 lượt (2 lượt đi ; 2 lượt về). Thuyền nào về
đích trước thì dành phần thưởng bằng mấy vuông vải lụa, rượu và một ít tiền; phần
thưởng tuy không lớn nhưng thuyền làng nào về đích sớm thì năm đó sẽ được Thần
phù hộ cho làm ăn phát đạt. Các làng sau khi nhận giải thưởng thì đem lễ vật đến
Đền tạ Thần, rồi chia phần thưởng cho mọi người, mỗi người một miếng vải lụa
nhỏ, một hớp rượu để lấy phước lộc cho cả năm.
Kế tục truyền thống ấy, hàng năm Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức tại Cảng
Hới phường Quảng Tiến. Chủ yếu để trai tráng các khu phố thuộc Phường Quảng
Tiến đua tài bằng những chiếc thuyền rồng lớn hơn xưa, số tay bơi mỗi thuyền
cũng nhiều hơn ( Từ 23 đến 25 người ), có năm Tỉnh Thanh Hoá và Thị xã Sầm
Sơn tổ chức Lễ hội Cầu Ngư mở rộng, mời thêm một số phường xã trên địa bàn
Tỉnh và Thị xã cùng tham gia. Từ năm 2008, Lễ hội Cầu Ngư Quảng Tiến đã được
Chủ Tịch UBND Thị xã Sầm Sơn Quyết định nâng cấp thành Lễ hội Cầu Ngư toàn
Thị xã.
Lễ hội làng Lương Trung
19
Theo các tài liệu của nhà nghiên cứu Văn hoá Hoàng Tuấn Phổ – Lê Kim Lữ và
Tiến sỹ Hoàng Minh Tương; võ vật vốn có gốc từ Làng Lương Trung, gắn với vai
trò một quan võ Thời Lê: Đường Công – Quang Lộc (Người làng Bồng Báo – Vĩnh
đề văn theo hướng mở kích thích sự ham mê học văn của học sinh ( dẫn dụ, lôi kéo
học sinh trở về với môn ngữ văn ). Từ đó để rèn luyện bồi dưỡng học sinh về tâm
hồn và kiến thức để viết bài tốt hơn. đồng thời, trên lớp, giáo viên phải dày công
rèn luyện kỹ nănglàm bài và huy động kiến thức cho học sinh.
2.4. KẾT QỦA, HIỆU QUẢ CỦA THỰC TRẠNG.
Sau tiết học, tôi nhận thấy học sinh học rất hứng thú học tập, tích cực phát biểu
xây dựng bài, nắm nội dung bài học nhanh hơn, đầy đủ hơn. Học sinh hiểu văn bản
theo đúng đặc trưng của thể loại, kết hợp giữa kiến thức đã khai thác trong văn bản
và đời sống thực tế làm nổi bật được tính nhật dụng của văn bản.
Kết quả khảo sát bằng việc kiểm tra
Lớp
Sĩ số
10D/43
Hứng thú làm bài
Kết quả bài kiểm tra
Hứng thú
Không
hứng thú
Giỏi
Khá
TB
Yếu
- Các em tích cực tìm tài liệu tham khảo, xử lý các thông tin trên mạng, ti vi, báo…
- Chất lượng bài làm của các em được nâng lên một cách rõ rệt, kiến thức được
khắc sâu. Đặc biệt phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh.
Trong quá trình chấm và trả bài cho học sinh, giáo viên luôn chú ý khắc phục
những nhược điểm thường hay mắc phải khi làm bài làm văn nói chung và bài làm
văn theo hướng mở nói riêng như: viết chung chung, khô khan, diễn đạt lộn xộn
(luận điểm không rõ ràng), thiếu sự uyển chuyển mềm mại.
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề kết hợp với quá trình thử nghiệm trong
giảng dạy trực tiếp từ 2 lớp 10C và 10D trường THPT Nguyễn Thị lợi, đây là hai
lớp cùng một đối tượng học sinh. Một lớp khi chưa áp dụng các biện pháp trên và
một lớp đã tiến hành áp dung những biện pháp trên, tôi đã thu được kết quả sau đây
để làm bài học rút kinh nghiệm:
* Đối với Lớp 10C khi chưa áp dụng.
Sau tiết học, tôi nhận thấy học sinh chưa hứng thú, chưa tích cực, nhiều em
còn rất mơ mồ, chưa hiểu kĩ về văn bản. Đặc biệt chưa có thói quen tự học, giờ học
chưa được sôi nổi. Tôi tiến hành kiểm tra. Kết quả khảo sát chất lượng của học sinh
như sau:
Lớp
Sĩ số
10C/41
Hứng thú làm bài
Kết quả bài kiểm tra
Hứng thú
Không
hứng thú
Lớp
Sĩ số
10D/43
Hứng thú làm bài
Kết quả bài kiểm tra
Hứng thú
Không
hứng thú
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
71%
29%
15%
49%
Thanh hoá, ngày 27tháng 5 năm 2016.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Họ và tên
Trịnh Thị Thanh.
23