SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
……………………………..&……………………………..
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN
TRONG GIỜ HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS
Người thực hiện : Nguyễn Thị Loan
Chức vụ : Bí thư Chi bộ, Tổ trưởng chuyên môn
Đơn vị công tác : Trường THCS Trần Mai Ninh
SKKN thuộc lĩnh vực (môn) Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:………………………………………………………...Trang 2
2. Mục đích nghiên cứu:……………………………………………………Trang 4
3. Đối tượng nghiên cứu:…………………………………………………...Trang 5
4. Phương pháp nghiên cứu: :…………………………………………......Trang 5
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:……………………………...Trang 5
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:……...Trang 11
3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn
đề:……………………………………………………………………..........Trang 12
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường:………………………………………..Trang
cấp trong toàn quốc cũng như trên các diễn đàn khác.
Hiện nay, việc giao quyền chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà
trường và tập huấn giáo viên về các phương pháp dạy học tích cực đã tạo nhiều
thuận lợi cho nhà trường và giáo viên dạy kiến thức liên môn hướng tới mục tiêu
tích hợp. Nhiều giáo viên đã thực hiện tốt việc dạy học theo chủ đề tích hợp liên
môn, thể hiện qua kết quả Cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo
viên trung học mà Bộ GD-ĐT tổ chức trong những năm qua. Khó khăn của giáo
viên khi dạy tích hợp liên môn không nằm nhiều ở vấn đề nội dung mà ở vấn đề
phương pháp dạy học. Dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn đòi hỏi giáo viên
phải có năng lực trong tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực và sáng tạo cho học
sinh, mà các hoạt động ấy phải được tổ chức ở trong lớp, ngoài lớp, trong trường,
ngoài trường, ở nhà và cộng đồng, đặc biệt quan tâm đến hoạt động thực hành và
ứng dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Nếu trong dạy học đơn
3
môn, giáo viên đã sử dụng được các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để
tổ chức hoạt động học của học sinh, thay vì dạy học theo lối truyền thụ kiến thức
thì khó khăn này có thể vượt qua được.
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm trong nhà trường THCS, bản thân tôi nhận
thấy mặc dù đội ngũ giáo viên trong các nhà trường đã được tập huấn về đổi mới
phương pháp dạy học; công tác chỉ đạo, quản lý của các cấp cũng đã có những
chuyến biến tích cực. Tuy nhiên, hầu hết giáo viên còn e ngại khám phá, vận động
và còn nhiều lúng túng trong sự đổi mới, đặc biệt là trong vấn đề dạy học theo chủ
đề tích hợp liên môn. Trong các giờ học, giáo viên vẫn còn nặng về việc truyền đạt
kiến thức hàn lâm khoa học, học sinh vẫn còn thụ động, máy móc với những kiến
thức trong sách vở; giờ học đơn điệu, nhàm chán, học sinh không phát huy được
tính tích cực, chủ động, khả năng vận dụng thực hành giải quyết tình huống trong
thực tiễn bị hạn chế.
Sau khi được tiếp thu các chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học cũng
2. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích chung mà bài viết này muốn hướng tới, đó là đóng góp một tiếng nói
chung cho sự thành công của công cuộc đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và
kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của
học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, mục đích của người viết còn muốn hướng tới
cho đội ngũ giáo viên và học sinh nhận thức được một cách đầy đủ, rõ ràng hơn về
khái niệm dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn, cũng như bản chất, hiệu quả của
những giờ dạy theo chủ đề tích hợp khi mà vấn đề này đang còn nhiều tranh luận,
bàn cãi, cũng như hầu hết giáo viên đang còn lúng túng, chưa định hình rõ.
Với đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, mục đích của người viết cũng mong
muốn được trình bày những nhận thức, suy nghĩ, việc làm của mình để trao đổi
cùng anh chị em, bạn bè đồng nghiệp để góp phần tháo gỡ những vướng mắc, khó
khăn trong quá trình thực hiện. Đồng thời đây cũng chính là cách tự bồi dưỡng, rèn
luyện nâng cao năng lực chuyên môn của bản thân.
Việc nghiên cứu đề tài này cũng nhằm mục đích tìm ra phương pháp, cách thức
hữu hiệu nhất nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá
trình tiếp nhận kiến thức và tăng khả năng thực hành, vận dụng giải quyết tình
huống trong thực tiễn đời sống. Bởi các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn
nên sinh động, hấp dẫn, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho
học sinh. Học các chủ đề tích hợp liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng
kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến
thức một cách máy móc.
Việc chọn tiết dạy thử nghiệm : Tiết 39 – Bài 10 “Thông tin về Ngày Trái Đất
năm 2000” trong chương trình Ngữ văn lớp 8, mục đích của người viết muốn tích
hợp với chủ đề “Bảo vệ môi trường” nhằm giảm thiểu việc sử dụng bao bì ni lông
giữ cho môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn; đồng thời trong nội dung bài học
có thể tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề: Môn GDCD (giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường), môn Ngữ văn (viết bài thuyết minh, bài văn nghị luận),
tượng, nội dung nghiên cứu)
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: qua các hoạt động nhóm của học sinh, kiểm
tra, đánh giá sau khi áp dụng SKKN.
Trong giờ dạy thử nghiệm có sử dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động của học sinh như tổ chức hoạt động nhóm, đại diện học
sinh thuyết trình theo sự phân công chuẩn bị, tổ chức cho học sinh thảo luận, sử
dụng Bản đồ tư duy để hệ thống kiến thức bài học,...
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
1.1. Quan điểm tích hợp liên môn trong dạy học nói chung:
* Thế nào là dạy học "tích hợp liên môn"?
6
Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan đến
hai hay nhiều môn học. "Tích hợp" là nói đến phương pháp và mục tiêu của hoạt
động dạy học còn "liên môn" là đề cập tới nội dung dạy học. Đã dạy học "tích hợp"
thì chắc chắn phải dạy kiến thức "liên môn" và ngược lại, để đảm bảo hiệu quả của
dạy liên môn thì phải bằng cách và hướng tới mục tiêu tích hợp.
+ Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá
trình dạy học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp
luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển đảo; giáo dục sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông...
+ Dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan đến hai hay
nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội
dung kiến thức ở các môn học khác nhau. Đối với những kiến thức liên môn nhưng
có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương trình của môn đó
và không dạy lại ở các môn khác.
Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các
môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong
dạy học.
Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo
viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác
dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kỹ năng sư phạm cho giáo viên, góp phần
phát triển đội ngũ giáo viên bộ môn hiện nay thành đội ngũ giáo viên có đủ năng
lực dạy học kiến thức liên môn, tích hợp. Thế hệ giáo viên tương lai sẽ được đào
tạo về dạy học tích hợp liên môn ngay trong quá trình đào tạo giáo viên ở các
trường sư phạm.
* Nguyên tắc dạy học tích hợp liên môn:
Trên quan điểm dạy học tích hợp liên môn, giáo viên cần chú ý tới các nguyên
tắc dạy học như sau:
+ Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu giáo dục phổ thông, đảm bảo mục tiêu giáo
dục môn học, đặc biệt đảm bảo chuẩn kiến thức và kỹ năng cho từng môn học.
+ Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học.
+ Nguyên tắc đảm bảo tính nội dung: không làm tăng tải nội dung chương trình,
không tích hợp ngược. Nội dung trong chủ đề yêu cầu học sinh khai thác, vận dụng
kiến thức của môn chính với các môn liên quan phải tương đồng để phát hiện và
giải quyết vấn đề một cách chủ động, sáng tạo, hợp tác…
+ Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi: chủ đề tích hợp liên môn phải gắn với thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, phù hợp
với năng lực của học sinh, phù hợp với điều kiện khách quan của từng trường hiện
nay. Các chủ đề tích hợp liên môn đảm bảo để tổ chức cho học sinh học tập tích
cực, giúp học sinh khai thác kiến thức môn, phát hiện một số kỹ năng, năng lực
chung.
* Các bước xây dựng chủ đề tích hợp liên môn:
Bước 1: Xác định chủ đề tích hợp: rà soát và phân tích nội dung chương
trình của từng môn để tìm ra những nội dung chung có liên quan với nhau, bổ
sung, hỗ trợ cho nhau nhưng lại được trình bày riêng biệt ở mỗi bộ môn.
năng, năng lực liên môn để giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tác
động các hoạt động, kỹ năng riêng rẽ lên một nội dung riêng rẽ thuộc “nội bộ phân
môn”.
Thực tế cho thấy, lâu nay từ khi thay đổi chương trình, cấu trúc SGK Ngữ văn ở
cấp THCS vốn đã có sự tích hợp giữa 3 phần Đọc – hiểu văn bản, Tiếng Việt và
Tập làm văn. Tuy nhiên theo tinh thần Dạy học theo hướng tích hợp liên môn này,
quan điểm tích hợp cần được hiểu mở rộng ra là hình thức tìm tòi những nội dung,
những chủ đề giao thoa giữa các môn học với nhau, những khái niệm, tư tưởng
chung giữa các môn học, tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số môn
9
học có liên hệ với nhau làm cho nội dung học trong chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế
hơn và học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào
thực tiễn.
Cụ thể trong chương trình Ngữ văn cấp THCS có những bài dạy có thể tích
hợp được với các chủ đề giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh và có
thể tích hợp với các bộ môn khác để giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học hay
trong thực tiễn đời sống:
Ví dụ 1 : Văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh” (Ngữ văn 9) có thể lồng kết chủ
đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tích hợp với môn Giáo
dục công dân (Đức tính giản dị), môn Lịch sử (Con đường hoạt động cách mạng
của Bác),…
Ví dụ 2: Văn bản “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” (Ngữ văn 6) có thể lồng ghép
chủ đề “Bảo vệ môi trường”, tích hợp môn Giáo dục công dân 6 (Bài 7 “Yêu thiên
nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên”),…
Ví dụ 3: Bài “Ôn tập văn thuyết minh” (Ngữ văn 8, tập 2) với 4 nhóm đề bài
thực hành phân công cho 4 nhóm học sinh chuẩn bị. Mỗi đề thuyết minh có sử
dụng kiến thức liên môn như : Thuyết minh về một loài thực vật (cây bóng mát trên
đại nào của nước ta?
- Học sinh trả lời: Thời đại Hùng Vương
- Giáo viên hỏi: Đất nước ta thời ấy có tên gọi là gì?
- Học sinh trả lời: Hùng Vương lên ngôi đặt tên nước là Văn Lang.
* Tích hợp kiến thức Địa lí:
- Giáo viên hỏi: Kinh đô thời ấy đặt ở đâu? Địa danh ấy ngày nay là
phường, thành phố nào?
- Học sinh trả lời: Đóng đô ở Phong Châu ngày nay là phường Bạch Hạc,
thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
* Tích hợp kiến thức môn GDCD lớp 6 tuần 7 tiết 7 bài 6 (Biết ơn):
- Giáo viên hỏi: Hằng năm nhân dân ta vẫn nhớ đến ngày giỗ Tổ Hùng
Vương và rất nhiều người đã hành hương về với đất Tổ, về thăm Đền Hùng. Ngày
giỗ Tổ Hùng Vương là ngày nào? Câu ca nào nói đến điều này?
- Học sinh trả lời:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3
Hay câu ca dao : Ai về Phú Thọ cùng ta/ Nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba mồng
mười.
* Tích hợp học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:
- Giáo viên hỏi: Để nhắc nhở về trách nhiệm, lòng tự hào dân tộc, Bác Hồ đã có
câu nói nổi tiếng nào khi đến thăm Đền Hùng ngày 19-9-1954, trong buổi nói
chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 ( Đại đoàn quân Tiên Phong)?
- Học sinh trả lời: “Ngày xưa các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác
cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” Câu nói của Bác có tác dụng giáo dục truyền
thống yêu nước, ý thức dân tộc, nâng cao tinh thần đại đoàn kết, nguồn sức mạnh to
lớn chi phối toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử dân tộc; là động lực cổ vũ lớn
lao tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
11
trường.
+ Điều kiện cơ sở vật chất (thiết bị thông tin, truyền thông) phục vụ cho việc
dạy học trong nhà trường thực ra cũng chưa thật đầy đủ, hiện đại.
- Đối với học sinh:
+ Dạy tích hợp là cả một quá trình từ tiểu học đến THPT nên giai đoạn đầu này,
đặc biệt là thế hệ học sinh hiện tại đang quen với lối mòn cũ nên khi đổi mới học
sinh thấy lạ lẫm và khó bắt kịp.
+ Do xu thế chọn ngành nghề theo thực tế xã hội nước ta hiện nay và việc quy
định các môn thi trong các kì thi tuyển sinh nên đa số các học sinh và phụ huynh
kém mặn mà (coi nhẹ) với các môn không thi, ít thi (môn phụ).
+ Trong lớp 8B vẫn con một số em chưa thật hào hứng, nhiệt tình lắm để đầu tư
thời gian, công sức vào việc sưu tầm tư liệu, khảo sát thực tế, thực hành theo sự
hướng dẫn của cô.
3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn
đề:
Các giải pháp đã thực hiện và hiệu quả:
1. Giải pháp chung:
13
- Tìm tư liệu, nghiên cứu về bản chất, phương pháp, nguyên tắc, quy trình thực hiện
tiết dạy theo chủ đề, tích hợp liên môn.
- Lựa chọn chủ đề, tiết dạy thử nghiệm:
+ Tiết 8 – Bài 7: Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên (Giáo dục công
dân lớp 6) tích hợp với chủ đề “Biến đổi khí hậu và hành động của chúng ta” đã
thực hiện trong năm học 2014 – 2015.
+ Tiết 39 – Bài 10: “Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000”) (Ngữ văn lớp 8, tập
1) tích hợp chủ đề: “Bảo vệ môi trường”, giúp học sinh vận dụng kiến thức giải
quyết vấn đề trong thực tiễn “Làm thế nào để giảm thiểu việc sử dụng bao bì ni
+ Các bài thuyết trình (theo sự phân công cho các nhóm của giáo viên): Các em sẽ
sưu tầm tài liệu, vận dụng kiến thức liên môn, điều tra thực tế ở địa phương kết hợp
với nội dung của văn bản để soạn bài thuyết trình kết hợp với hình ảnh minh họa
trên giáo án PowerPoint.
Nhóm 1: Thuyết trình về thực trạng sử dụng bao bì ni lông
Nhóm 2: Thuyết trình về tác hại của bao bì ni lông
Nhóm 3: Thuyết trình về giải pháp giảm thiểu việc sử dụng bao bì ni lông
+ Làm Video Clip tư liệu truyền thông (tổng hợp 3 nội dung nói trên)
2.4. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học:
Hoạt động 1: Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh (các bài thuyết trình của các
nhóm đã phân công ở tiết học trước).
Hoạt động 2: GV nêu mục tiêu, cách thức, quy trình thực hiện giờ học -> dẫn dắt,
giới thiệu vào bài.
Hoạt động 3: Tổ chức cho học sinh thảo luận, đại diện các nhóm lên thuyết trình
phần đã chuẩn bị, giáo viên tổng hợp ý kiến, đánh giá, rút ra kết luận cho bài học
với các đơn vị kiến thức trọng tâm học sinh thu nhận được như sau:
1. Nguyên nhân ra đời của bản thông điệp ?
2. Thực trạng sử dụng bao bì ni lông hiện nay.
3. Tác hại của bao bì ni lông.
4. Những giải pháp hạn chế việc sử dụng bao bì ni lông.
5. Lời kêu gọi hành động cụ thể.
Hoạt động 4: Tổng kết nội dung bài học -> cho HS xem Video Clip tư liệu truyền
thông về chủ đề “Giảm thiểu việc sử dụng bao bì ni lông cho một môi trường xanh
– sạch – đẹp – an toàn”.
Hoạt động 5: Hướng dẫn HS tự học ở nhà với những nội dung sau:
- Nắm được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn bản “Thông tin
về Ngày Trái Đất năm 2000”.
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề rác thải ở địa phương em tuyên truyền và vận động
cho gia đình, hàng xóm thực hiện“Một ngày không sử dụng bao bì ni lông”, “Nói
không với bao bì ni lông” giữ cho môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn;
pháp hạn
chế việc
sử dụng
bao bì ni
lông
tài liệu sách
vở, qua phần
thuyết trình
của bạn, qua
hình ảnh trên
màn
chiếu,
qua sự quan
sát, nhận biết
từ thực tế đời
sống ở trường,
lớp học, địa
bàn sinh sống.
- Nhận thức, hiểu
rõ được tác hại
của bao bì ni lông
(hiểu biết từ thực
tế đời sống, qua
các môn học như
Hóa học, Sinh
học…; qua phần
thuyết trình của
bạn, qua hình
ảnh, tư liệu sách
- Làm sản phẩm sáng tạo
khoa học kĩ thuật, sản
phẩm khéo tay tận dụng từ
các chất thải bao bì ni lông.
- Tập làm báo cáo viên,
tuyên truyền viên.
về tác hại của bao bì ni lông và giải
Điểm TB
SL Tỉ lệ
3
5,5%
Điểm Yếu
SL Tỉ lệ
0
0
Điểm kém
SL Tỉ lệ
0
0
16
Kết quả chấm bài cho thấy ngoài kiến thức trong văn bản ở Sách giáo khoa, các
em đã có sự tìm tòi, tra cứu tài liệu để mở rộng thêm kiến thức và thể hiện khá rõ
quan điểm, thái độ của mình qua bài viết. Đồng thời qua bài viết, các em đã có sự
hiểu biết, nhận thức đúng đắn về vấn đề và đề ra những giải pháp thiết thực để giảm
+ Đóng góp cho công tác truyền thông đạt hiệu quả cao hơn.
17
+ Từ nội dung bài học, các em đã có nhận thức và hành động thiết thực chung tay
bảo vệ, giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn ngay chính nơi các em đang
sinh sống, vui chơi và học tập.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường:
4.1. Đối với hoạt động giáo dục:
- Đóng góp một tiếng nói chung cho sự thành công của công cuộc đổi mới đồng bộ
phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
- Góp phần xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện
đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần
ở các lớp học trên.
- Bên cạnh đó, học sinh hứng thú với những tiết học hơn, dễ hiểu và hiểu sâu nội
dung bài học. Đặc biệt các em sẽ có những chuyển biến rõ rệt trong khả năng vận
dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn, tăng cường khả năng vận dụng tổng hợp,
khả năng tự học, tự nghiên cứu.
- Khắc phục được thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng rời rạc, phiến
diện và thụ động, máy móc.
4.2. Đối với bản thân, đồng nghiệp:
- Thực tế cho thấy giảng dạy tích hợp liên môn đem lại lợi ích là kích thích giáo
viên tư duy và không ngừng trau dồi kiến thức ở nhiều lĩnh vực, bộ môn khác nhau
để có một phông kiến thức sâu, rộng đủ để đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng
cao của dạy học hiện nay. Và đối với bản thân tôi đã có thể tự tin, vững vàng hơn
về chuyên môn, sẽ thực hiện được nhiều hơn, tốt hơn các tiết dạy học tích hợp liên
quyết các vấn đề trong thực tiễn, từ đó các em phát triển toàn diện hơn về mọi mặt:
đức- trí- thể- mĩ.
Phương pháp dạy học tích hợp liên môn không phải là mới, nhưng nếu biết vận
dụng hợp lý, người giáo viên sẽ làm cho bài giảng thêm sinh động, có tính hấp dẫn
với học sinh. Qua kết quả thực nghiệm của bản thân, tôi thấy vận dụng nguyên tắc
liên môn trong dạy học Ngữ văn theo phương pháp tích hợp đã kích thích hứng thú
học tập trong học sinh, giúp các em lĩnh hội bài tốt nhằm nâng cao hiệu quả của bài
học. Việc vận dụng phương pháp trên kết hợp với các hình thức dạy học tích cực
khác sẽ làm học sinh thêm yêu thích môn Ngữ văn, truyền cho các em lòng yêu
nước, tự hào với truyền thống dân tộc, từ đó có ý thức hơn trong việc xây dựng và
bảo vệ đất nước.
Với nội dung nghiên cứu và đưa vào áp dụng cụ thể sáng kiến kinh nghiệm
trên, bản thân tôi đã rút ra được những bài học kinh nghiệm cụ thể như sau :
- Về phía học sinh :
+ Học sinh sẽ dành thời gian đọc, tiếp cận văn bản nhiều hơn. Buộc các em phải
tìm tòi tư liệu kiến thức liên môn, suy nghĩ, nghiên cứu bài học, chuẩn bị bài có
hiệu quả cao hơn.
+ Tạo cho học sinh tính nhạy bén, năng động, sáng tạo và hứng thú với giờ học
Văn.
+ Mặt khác, các em biết chủ động hòa nhập với cộng đồng, vận dụng kiến thức
vào thực tế cuộc sống, giải quyết những vấn đề trong thực tiễn.
19
- Về phía giáo viên :
+ Thúc đẩy giáo viên đầu tư nhiều hơn trong công tác chuẩn bị, thiết kế giáo án
cho phù hợp với tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “lấy học sinh
làm trung tâm”.
+ Đầu tư nghiên cứu kiến thức liên môn có liên quan để cùng hợp tác với học
văn ở trường THCS”
20
Rất mong nhận được ý kiến nhận xét, đánh giá và đóng góp của Hội đồng khoa
học nhà trường cũng như các đồng nghiệp để đề tài từng bước được hoàn chỉnh và
áp dụng có hiệu quả hơn nữa. Xin chân thành cảm ơn./.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người viết
Nguyễn Thị Loan
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và Đào tạo, Chương trình THCS môn ngữ văn, NXB GD, Hà Nội,
2002.
2. Một số vấn đề về phương pháp dạy- học Văn trong nhà trường, NXBGD, 2001.
4. Ngữ văn 8, tập 1, NXB GD, Hà Nội, 2001.
5. Sách giáo viên Ngữ văn 8, tập 1, NXB GD, 2002.
6. Học liệu “Một số vấn đề chung về dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn”
(truonghocketnoi.edu.vn/data/thuvien/DongPhD/hoclieu_3650611_1446867073.pd
f)
tố Hán – Việt ở cáp THCS
Một số kinh nghiệm xây dựng hệ
thống bài Tập làm văn ở cấp THCS
Tổ chức hoạt động ngoại khóa
VHDG trong nhà trường cấp
THCS
Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy
học môn Ngữ văn cấp THCS
Tổ chức cho học sinh tham gia có
chất lượng các hoạt động phong
trào “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực”
Cấp đánh giá
xếp loại
Kết quả
đánh giá
Năm học
đánh giá xếp
loại
Sở GD&ĐT
B
1995 - 1996
Sở GD&ĐT
Người viết
Nguyễn Thị Loan
23
PHẦN PHỤ LỤC
1. THIẾT KẾ BÀI DẠY THEO CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP:
Ngày soạn : 26 / 10 / 2016
Tiết 39:
Văn bản : THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000
I. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức:
- Mối nguy hại đến môi trường sống và sức khỏe con người của thói quen dùng túi
ni lông.
- Tính khả thi trong những đề xuất được tác giả trình bày.
- Việc sử dụng từ ngữ dễ hiểu, sự giải thích đơn giản mà sáng tỏ và bố cục chặt
chẽ, hợp lí đã tạo nên tính thuyết phục của văn bản.
- Tích hợp với chủ đề : Bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn.
2. Kỹ năng:
- Tích hợp với phần Tập làm văn để tập viết bài văn thuyết minh, bài văn nghị
luận.
- Tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề: Môn GDCD (giáo dục ý thức
bảo vệ môi trường), môn Ngữ văn (viết bài thuyết minh, bài văn nghị luận), môn
Sinh học và môn Hóa học (giải thích đặc tính và tác hại của bao bì ni lông), môn
Tin học (làm Clip tư liệu truyền thông), môn Mĩ thuật (vẽ tranh), môn Công nghệ
(sản phẩm khéo tay sử dụng chất thải ni lông).
- Đọc – hiểu một văn bản nhật dụng đề cập đến một vấn đề xã hội bức thiết.
lót…Túi ni-lông còn được dùng đựng canh, đựng nước mía, đựng dưa muối, cà
muối, đựng các loại thực phẩm dạng lỏng để mang đi xa. Cuộc sống có vẻ sẽ khó
khăn nếu như một ngày nào đó không còn túi ni-lông. Nhưng có ai biết được rằng
đằng sau sự tiện lợi, thói quen đó là cả một mối nguy cơ tiềm ẩn đang đe dọa hủy
hoại môi trường sống cũng như tính mạng, sức khỏe của con người. Để thấy rõ tầm
quan trọng của vấn đề này, cô cùng các em sẽ đến với văn bản “Thông tin về Ngày
Trái Đất năm 2000”.
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu chung I- Tìm hiểu chung:
về văn bản
GV hướng dẫn cách đọc: Mạch lạc, rõ ràng, 1- Đọc – giải thích từ khó::
chú ý đến các thuật ngữ chyên môn.
- Cho 1-2 học sinh đọc văn bản?
- Chú ý các chú thích sau:
+ Phân hủy: Chia thành những chất khác
nhau, không còn mang tính chất ban đầu.
+ Plac-tic: Chất dẻo
+ Đi-ô-xin: Chất rắn, không màu, rất độc.
+ Giảm thiểu: Bớt đi một ít, giảm bớt.
+ Giải pháp: Cách giải quyết một vấn đề
+ Ô nhiễm: Nhiễm bẩn, làm bẩn, gây hại.
? Nhận xét về kiểu văn bản, phương thức 2- Kiểu văn bản - phương thức biểu
biểu đạt.
đạt::
HS trả lời
- Văn bản nhật dụng thuyết minh một
GV giới thiệu và cho học sinh biết sẽ học thể vấn đề khoa học tự nhiên.
loại thuyết minh sau.
? Tìm bố cục cho văn bản