MỤC LỤC
Nội dung
Trang
I. Mở đầu
1
1.1. Lí do chọn đề tài
1
1.2. Mục đích nghiên cứu
3
1.3. Đối tượng nghiên cứu
4
1.4. Phương pháp nghiên cứu
4
II. Nội dung nghiên cứu
4
1. Cơ sở lí luận
4
1.1. Sơ lược về khái niệm văn hóa
4
1.2. Cách tiếp cận văn hóa học
5
2. Thực trạng của vấn đề
7
3. Phương pháp tiếp cận văn hóa học qua đoạn trích Nỗi thương
10
mình
3.1. Vị trí đoạn trích
10
3.2. Phân tích đoạn trích từ góc độ văn hóa học với hai khái
12
ra, nhìn thấy cần phải đổi mới dạy văn nhưng cụ thể đổi đến đâu và như thế nào thì
vẫn còn nhiều chuyện đáng bàn.
1.1.1. Xét cho cùng mọi phương pháp dạy học văn học đều liên quan đến
việc sáng tác văn học và đọc văn bản nghệ thuật. Có nhiều cách đọc văn bản, tùy
theo lý thuyết được người đọc lựa chọn. Trước đây, ở nước ta xu hướng nghiên
cứu, tiếp cận văn học theo lập trường xã hội học một thời gian dài được chú trọng.
Nhà nghiên cứu hình thức học lại quan tâm đến cấu trúc hình thức của tác phẩm.
Xem văn bản nghệ thuật như một hệ thống có giá trị nội tại, khép kín. Người ta gọi
những người nghiên cứu theo xu hướng này là nhà Thi pháp học.Tuy nhiên, trong
quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tác phẩm nghệ thuật, giữa các lý thuyết nghiên cứu
vẫn có mối quan hệ gắn bó với nhau, không có phương pháp nào là độc tôn, không
có sự phân tách tuyệt đối khi nghiên cứu văn bản nghệ thuật.
Có nhiều phương pháp tiếp cận tác phẩm khác nhau: tiếp cận từ góc độ ngôn
ngữ học, từ cấu trúc, thi pháp học, xã hội học vv… Trong phạm vi bài này, người
viết có một vài kinh nghiệm khi nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm văn chương từ góc
độ tiếp cận Văn hóa học. Đây là phương pháp tiếp cận văn bản tác phẩm nghệ thuật
ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa trong đó tác phẩm văn học đã ra
đời.Xác lập sự chi phối của các quan điểm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị,
luật pháp, thuần phong mỹ tục…cũng như quan niệm về con người và sự chi phối
của các phương diện khác nhau trong đời sống, sinh hoạt xã hội từng tồn tại trong
2
một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm, về các mặt xây dựng nhân vật,
kết cấu, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc nghệ thuật, sử dụng ngôn ngữ…Phương
pháp nghiên cứu giảng dạy từ góc độ văn hóa học mang tính tổng hợp, trung gian
giữa các phương pháp đọc văn bản khác nhau, nhưng vẫn có những đặc trưng riêng,
phù hợp với xu hướng tìm hiểu tác phẩm nghệ thuật.
1.1.2. Trong nhà trường THPT hiện nay, một thực tế khách quan là học sinh
không thích học văn, đọc văn. Tại sao như vậy? Có nhiều nguyên nhân khác nhau:
Để đạt được mục đích yêu cầu như trên, tôi đã sử dụng một số phương pháp
tiếp cận văn hoá học như sau:
- Phương pháp tái hiện: Đối với văn học trung đại cần phục nguyên tái hiện
không gian văn hoá cũng như những nhân tố thời đại tác động.
- Phương pháp đối chiếu, liên hệ: Tìm ra mối liên hệ giữa tác phẩm với văn
hoá thời đại.
- Xác định cơ sở văn hoá xã hội đã hình thành nên tác phẩm (đề tài, chủ đề,
hình thức nghệ thuật, cách cảm nhận, mọi yếu tố cấu thành tác phẩm...)
- Phương pháp thuyết trình: trong quá trình tìm hiểu văn bản, giáo viên kết
hợp với học sinh bình giảng về số phận, cuộc đời, nỗi đau, sự bất hạnhThúy Kiều,
từ đó học sinh khắc sâu kiến thức của bài học đồng thời bổ trợ cho các em khi làm
bài tập tự luận.
- Tôi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm ở một số câu hỏi khó, đọc diễn
cảm, dựng lại cuộc đời của Thúy Kiều trước và sau khi bị “Bán mình” … nhằm
mục đích phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, từ đó các em tự mình
chiếm lĩnh kiến thức của văn bản, hiểu được nỗi đau của Thúy Kiều ở lầu xanh của
Tú bà trong đoạn trích.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lí luận
1.1. Sơ lược về khái niệm văn hóa
4
Văn hóa là sản phẩm của cộng đồng người, tồn tại và phát tri ển g ắn
liền với cộng đồng người ấy trong suốt chiều dài lịch sử. Mỗi một cộng đồng
người du có lạc hậu đến đâu vẫn có văn hóa của riêng mình. Nói văn hóa là
nói đến sự sáng tạo của con người từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất trên m ọi
lĩnh vực sinh tồn. Theo Các phương diện chính sách văn hóa Canadda – Unesco
1997 – bản tiếng Pháp, người ta đã thống kê được 256 định nghĩa khác nhau
về văn hóa. Có những định nghĩa nói về chức năng của văn hóa, có nh ững đ ịnh
B.Tylor với tác phẩm nổi tiếng “Văn hóa nguyên thủy”. Cho đến gần 40 năm sau,
từ khi cuốn sách “Văn hóa nguyên thuỷ” ra đời, năm 1909 thuật ngữ Văn hóa học
mới được khẳng định bởi Willhelm Ostwald – nhà khoa học và triết học Đức. Thuật
ngữ này dùng chỉ cho môn học mới mà ông gọi là “Khoa học về các hoạt động văn
hóa, tức là hoạt động đặc biệt của con người”.
Khi nói về bộ môn Văn hóa học, các nhà khoa học về văn hóa cho rằng, có
ba định hướng nhận thức cơ bản là: Văn hóa học triết học, Văn hóa học lịch sử và
Văn hóa học lý thuyết.
Vì thế, trong các khoa học về văn hóa, cho đến nay, đã có sự đóng góp của
nhiều môn học khác nhau như: dân tộc chí, dân tộc học, nhân học, xã hội học, tâm
lý học, ngôn ngữ học, ký hiệu học v.v.. mà trước hết và chủ yếu là hai môn: Nhân
học và Xã hội học. Tất cả các môn học này, từ nhiều khía cạnh khác nhau, chúng
nghiên cứu các hiện tượng văn hóa cũng bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Trong thực tế, có nhiều bộ môn khoa học cùng nghiên cứu văn hóa dưới
nhiều góc độ khác nhau, song không loại trừ nhau, từ đó Văn hóa học đã ra đời. Có
thể nói, Văn hóa học được xem là môn học mang tính xuyên/ liên ngành – một
khoa học tích hợp bao quát nhiều bộ môn nghiên cứu chuyên biệt về văn hóa. Đây
là một phương hướng nghiên cứu lý luận bao gồm phương pháp luận và bộ máy
phân tích của Triết học văn hóa, Lịch sử văn hóa, Nhân học văn hóa và Xã hội học
văn hóa.
Khác với phần lớn các ngành học thuộc khoa học xã hội và nhân văn nghiên
cứu mọi lĩnh vực trong hoạt động đời sống của con người, được phân biệt theo đối
6
tượng đặc thù của hoạt động như: kinh tế, chính trị, quân sự, giáo dục, nghệ thuật
v.v.. và các khoa học khác, Văn hóa học thuộc về nhóm các khoa học nghiên cứu
với tư cách khách thể tất cả các hình thức và thể loại thực hành, có mục đích trong
hoạt động sống của con người. Nhóm này bao gồm các khoa học Lịch sử, Tâm lý
học, Xã hội học, Nhân học v.v... văn hóa là một lĩnh vực rất rộng và hết sức trừu
tìm hiểu văn học từ góc độ văn hóa học cho giáo viên ở các trường ĐH, THPT,
THCS.
Ta thường hay nói “Văn học là nhân học”. Nói văn hóa học chính là nói đến
con người - nhân học. Bất cứ tác phẩm văn chương nào cũng thể hiện con người và
hoạt động của con người trong một không gian thời gian nhất định. Con người
trong văn học ở mỗi thời kỳ lại có những cách thể hiện riêng, diện mạo riêng. Con
người Trung đại khác con người Hiện đại. Con người là sản phẩm của xã hội đã và
không ngừng được văn hóa hóa. Tức là thành những “khuôn”, “mẫu” riêng để ngày
càng hoàn thiện, phát triển đi lên.
Với tư cách là một thực thể văn hóa,con người bao giờ cũng tồn tại trong ba
mối quan hệ: quan hệ với môi trường tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với
chính bản thân mình. Mọi ứng xử của con người đều nằm trong ba mối quan hệ đó.
Điểm khác biệt của cách tiếp cận văn hóa học so với Thi pháp học là ở chỗ: tiếp
cận văn hóa học không chủ trương miêu tả thế giới nghệ thuật của tác phẩm như là
một thế giới khép kín, có giá trị tự thân màđặt ra nhiệm vụ đối chiếu, so sánh các
quan niệm văn hóa của thời đại nơi tác phẩm được sản sinh để tìm nguồn gốc của
các dạng thức quan niệm về con người, về không gian, thời gian trong tác phẩm.
Tiếp cận văn hóa học là tiếp cận khoa học liên ngành. Vận dụng tri thức tổng hợp
về lịch sử, địa lý, tôn giáo, triết học, khảo cổ học, nhân loại học…để giải mã các
hiện tượng thi pháp tác phẩm văn học.
Phương pháp này không phải là một cái gì tuyệt đối so với các phương pháp
khác. Cách tiếp cận văn hóa học chú trọng phân tích văn hóa từ phương diện lịch sử
nên nó gần với xã hội học – lịch sử. Cách tiếp cận này nhằm tái hiện lại đời sống
văn hóa trong một thời đại nhất định, do đó có nhiều trường hợp giống với công
8
việc của chú giải học, giải mã các hiện tượng văn hóa không còn tồn tại trong hiện
tại.
Ví dụ, khi phân tích vấn đề Hồng nhan bạc phận và Tài mệnh tương đố trong
pháp nghệ thuật sở dĩ hấp dẫn, có sức thuyết phục vì nó tìm được sự chia sẻ, đồng
cảm của những người cùng một nền văn hóa.
3. Phương pháp tiếp cận văn hóa học qua đoạn trích “Nỗi thương mình”
trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Dưới đây là trích đoạn “Nỗi thương mình” được trích trong Truyện Kiều từ câu
1229 đến câu 1248 :
“Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chương bấy thân
Mặc người mưa Sở mây Tần
Những mình nào biết có xuân là gì
Đòi phen gió tựa hoa kề
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Đòi phen nét vẽ câu thơ
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa
10
Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó, mặn mà với ai”
cũng đã thấy được điều này. Vấn đề ở đây là làm sao chuyển tải được các nội dung
đoạn trích cho học sinh hiểu và thấu cảm nhân cách Thúy Kiều và tấm lòng nhân
đạo cao cả của Nguyễn Du gửi gắm vào trong câu chữ.
3.2. Phân tích đoạn trích từ góc độ văn hóa học với hai khái niệm Thân và
Tâm
3.2.1. “Thân” trong Truyện Kiều và trong đoạn trích Nỗi thương mình
“Thân”– thân xác là một thực thể hiển nhiên khẳng định sự có mặt của con
người trên cuộc đời, nếu không có thân xác thì cũng không có con người. Trong
văn hóa trung đại, phạm trù thâncó một vị trí rất quan trọng. Các học thuyết tôn
giáo lớn nhất ở phương Đông như Nho – Phật – Lão đều có đề cập đến phạm trù
thân. Có các cấp độ khác nhau trong việc tiếp cận một khái niệm văn hóa như khái
niệm thân. Trên thực tế có ba cấp độ: vấn đề thân được nhìn qua các học thuyết tư
tưởng tôn giáo (Nho – Phật – Đạo); vấn đề thân qua các ghi chép lịch sử và thân
được trình bày trong các tác phẩm văn học. Nho giáo chia thân thành hai phạm trù
thân xác thịt và thân danh tiết. Thân xác thịt cũng cần được bảo vệ nhưng thân danh
tiết quan trọng hơn, vào thời điểm bất đắc dĩ thì phải biết hi sinh nhục thân cho thân
danh tiết. Phật giáo chú trọng đến cái tâm nhưng cũng có một triết lí về thân. Thái
độ của nhà Phật cũng là phủ nhận cái thân, coi “sắc” (vật chất) là “không”. Tóm lại
các học thuyết tôn giáo đã gặp gỡ nhau trong chủ trương ứng xử khá nghiệt ngã,
đầy khắc kỉ đối với thân xác. Các nhà tư tưởng cổ đại tin rằng tư tưởng tiết chế dục
vọng, thủ tiêu bản năng có thể đạt được một trật tự xã hội hài hòa. Tất cả mọi người
nếu đều khắc kỉ với thân xác bản thân thì không còn ham muốn vật chất, nguồn gốc
của mọi rối loạn sẽ được khắc phục. Đó là ý nghĩa nhân đạo của các học thuyết này.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cho ta thấy có nhiều biểu hiện của một quan
niệm khá mới mẻ về thân xác của con người. Nhìn chung quan niệm này khác với
12
quan niệm coi thường thân của truyền thống văn hóa, văn học và tôn giáo mà
chúng ta vừa nói sơ lược ở phần trên. Nguyễn Du tại nhiều thời điểm đã có khuynh
Đoạn trích Nỗi thương mình đúng như cách lựa chọn tiêu đề của người biên
soạnlà đỉnh cao của sự Tự thương của Thúy Kiều.
Truyện Kiều không chỉ cất lên tiếng nói thương thân, xót thân mà còn là
tiếng hát ngợi ca thân, tôn vinh thân. Thương xót thân và ngợi ca thân là hai mặt
của một quan niệm thống nhất về con người trong Truyện Kiều, quan niệm này
tước bỏ màu sắc thánh nhân, đưa nhân vật trở về cuộc sống thường ngày, con người
tự nhiên. Giữa chốn lầu xanh ô nhục, giữa bao nhiêu cám dỗ của đồng tiền, của
nhục dục, Thúy Kiều vẫn “Vô cảm”. Nguyễn Du đã để cho Kiều Tự thương, tự
nhận ra nỗi ô nhục trong chốn lầu xanh.
Chúng ta ai cũng biết, khi xảy ra cơn gia biến, Kiều đã quyết định “bán mình
chuộc cha”
“Quyết tình nàng mới hạ tình,
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”
Mình tức là thân mình, là thể xác, hiện hữu vật chất của cá thể trên cuộc đời
này. Bán mình tức là không còn chủ sở hữu thân thể của mình nữa mà trao quyền
sở hữu cho người mua mình. Đó là một thực tế nghiệt ngã trong xã hội cũ. Hy sinh
tình yêu để giữ tròn chữ hiếu là một phẩm chất cao đẹp của Thúy Kiều, cũng là một
mô hình ứng xử có tính chất “mô típ” mang màu sắc Nho giáo. Nguyễn Du là một
nhà Nho, nên ông chịu sự chi phối của văn hóa Trung đại phương Đông. Tuy nhiên,
một điểm khác biệt giữa nàng Kiều của Nguyễn Du và nàng Kiều của Thanh Tâm
tài nhân mà nhiều nhà nghiên cứu phê bình đã phát hiện phân tích: Nếu Kiều của
Thanh Tâm tài nhân có ý thức trở thành liệt nữkhông thua kém các tấm gương kim
cổ hy sinh thân mình vì cha mẹ thì Kiều của Nguyễn Du lại hành động xuất phát từ
3 Trần Đình Sử, 1997. Thi pháp Truyện Kiều tr112.
14
tình cảm cha con, một tình cảm nhân bản hơn là một ứng xử theo mẫu hình thánh
đề cập đến như một phạm trù cần phải nghiên cứu và cho học sinh thụ cảm khi tìm
hiểu đoạn trích Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Trước hết, phải cho học sinh biết, trong văn học trung đại Việt Nam chữ tâm
được biểu hiện rất nhiều phương diện, có thể chia thành mấy nhóm sau đây:
(1) Thuyết lí về trạng thái lí tưởng của tâm mà tác giả tâm đắc (hư tâm, thanh
tâm, quả dục, tâm đạo lí:
(2) Ca ngợi sự lựa chọn thiên nhiên trong sạch (ẩn dật), đối lập, phê phán thế
giới vật dục, chỉ rõ vật dục là cội nguồn tội lỗi, cội nguồn bất hạnh, đau
khổ của kiếp người, xem cuộc sống đạm bạc thanh tịnh là con đường đảm
bảo hạnh phúc chân chính nhất;
(3) Cảm hứng về tính chất mộng ảo, tạm bợ, vô nghĩa của cuộc đời trần tục
đầy những tham vọng vật chất.5
Trong truyện Kiều, từ trước đến nay có nhiều ý kiến khác nhau về thế giới
nội tâm của nhân vật Thúy Kiều. Nguyễn Du đã nêu lên một vấn đề gây tranh cãi:
Tình là nguyên nhân của khổ (Lại mang lấy một chữ tình – Khư khư mình buộc lấy
mình vào trong) và Tu là cội phúc tình là dây oan. Các nhà nghiên cứu, đọc truyện
Kiều có nhiều tranh cãi cũng xuất phát từ vấn đề này…
Đọan trích Nỗi thương mình thẻ hiện rất rõ chữ tâmcủa Kiều (và cũng là của
Nguyễn Du!
Trong hoàn cảnh tủi nhục nhất, thân xác bị đọa đày, Thúy Kiều vẫn luôn
hướng về người thân, về cha mẹ, về người yêu. Cho nên Tâm trong Truyện Kiều là
tấm lòng. Nguyễn Du đã mượn lời nhân vật Từ Hải để gửi gắm điều đó “Tấm lòng
nhi nữ cũng xiêu anh hùng”. Giáo sư Trần Đình Sử đã nhận xét: Nhân vật Truyện
Kiều sống bằng thế giới tấm lòng. Chữ lòng có nghĩa tương đương với chữ tâm,
được tác giả trung đại dùng để dịch chữ tâm. Cái mới của Nguyễn Du chính là
chuyển cảm hứng từ quan niệm con người tỏ lòng sang thế giới tấm lòng. Nói thế
giới vì nó bao quát và bao gồm cả những “lòng riêng” và “tấm riêng” không tỏ ra
5Dẫn theo Trần Nho Thìn (2008) Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa Nxb Giáo dục, trang 451.
khoe sắc ngát hương, trăng thu sáng vằng vặc, tuyết đông phủ kín cả lầu tất cả đều
rất thực, rất sinh động như vẽ nên bức tranh đầy màu sắc, âm thanh của lầu xanh và
17
trong đó có đủ những thú vui của con người: cầm – kì – thi – họa càng tô điểm cho
bức tranh ấy thêm phần nhộn nhịp, sống động hơn bao giờ hết.
Nhưng nêu lên những cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, tao nhã, nên thơ ấy lại như
một sự giễu cợt, mỉa mai, chua chát. Vì dù ngụy trang khéo đến mấy, cũng không
thể che đậy nổi cái bản chất nhơ nhớp, bẩn thỉu bên trong của chốn “buôn thịt bán
người”. Đoạn thơ vì thế đồng thời hướng vào tâm trạng Kiều: Kiều luôn phải tách
mình thành hai nửa: một con người bề ngoài vui gượng, giả tạo và một con người
thực, sống để xót xa mỗi lúc canh tàn.
Cảnh không thể vui vì lòng người nặng trĩu nỗi tê tái.. Khi gió tựa hoa kề, khi
cung cầm thi họa, lúc nào nỗi đau cũng dâng đầy và nghẹn ứ trong lòng nàng. Ý
thức về nhân phẩm một khi trỗi dậy là lại bị giày xéo, khiến nàng không nguôi bẽ
bàng, nhục nhã về thân phận. Hai từ “đòi phen” được lặp lại trong tám câu thơ càng
thể hiện rõ hơn đó là một nỗi đau thường trực, chưa lúc nào thôi dằn vặt Kiều. Nỗi
sầu của Kiều lan tỏa sang cảnh vật :
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Bằng sự thông cảm lạ lùng, và bằng tài năng kì diệu, Nguyễn Du đã viết nên
hai câu thơ hay nhất giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và tình. Từ một trường
hợp cụ thể, thơ Nguyễn Duđã vươn tới tầm phổ quát, trở thành chân lí của mọi thời.
Có thể nói hai câu thơ là đỉnh điểm của đoạn trích vì nó lột tả được sâu sắc hơn bao
giờ hết nội tâm của nhân vật từ đó lan tỏa sang cảnh vật một cách thật tự nhiên và
hợp lí. Nỗi buồn của Thúy Kiều cứ dâng lên, như sóng cồn triền miên không bao
giờ dứt, nó cứ khuấy động bên trong sâu thẳm con người Kiều để rồi đến một lúc
nào đó, tức nước vỡ bờ, nó dâng lên cuồn cuộn đánh động vào nỗi lòng, cảm xúc
của Thúy Kiều, khiến cho mọi vật qua cái nhìn của nàng đều trở nên u buồn, tăm
phong kiến để nhìn đúng một người phụ nữ rơi vào thân phận bị cả xã hội coi
thường6.
6Dẫn theo Nguyễn Đức Hiểu – Phương pháp tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn học (truyện Kiều) trang 11
19
4. Kết quả thu được và bài học kinh nghiệm
4.1.Kết quả thu được:
Ngạn ngữ Italia có câu: “Mọi con đường đều đến thành Rôm”. Hiểu theo
nghĩa văn chương có nghĩa là: tiếp nhận văn học có nhiều phương pháp khác nhau,
cái đích cuối cùng vẫn là đạt được mục đích như mong muốn. Phương pháp tiếp
cận Truyện Kiều và các đoạn trích trong Truyện Kiều ở THPT từ góc độ văn hóa
học là một trong những phương pháp để hiểu Truyện Kiều, giúp học sinh được tiếp
nhận tác phẩm một cách sâu sắc nhất. Làm cho các em hiểu Kiều, yêu Kiều, trân
trọng những di sản văn hóa mà cha ông để lại, trao truyền cho các thế hệ.
- Rèn luyện kĩ năng cảm thụ văn học cho HS
- Góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học ở bộ môn Ngữ văn.
4.2.Bài học kinh nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu giảng dạy từ góc độ văn hóa mang tính tổng hợp,
trung hòa giữa các phương pháp đọc hiểu khác nhưng vẫn có những đặc trưng riêng
phù hợp với việc tìm hiểu tác phẩm nghệ thuật. Để vận dụng hiệu quả phương pháp
dạy học này giáo viên phải có sự tìm hiểu vận dụng tri thức tổng hợp về văn
học,lịch sử, địa lí, tôn giáo, khảo cổ học...vv (Kiến thức liên ngành).
- Cần chuẩn bị kĩ trước khi lên lớp để việc sử dụng phương pháp này có tính
chủ động và hiệu quả. Không nên sử dụng này một cách miễn cưỡng, bị động và
tùy hứng.
- Khi sử dụng phương pháp dạy học này cần phải dựa vào đặc điểm, mục tiêu
cần đạt của bài học. Tùy bài đểáp dụng,không lạm dụng một cách thái quá nội dung
bài học sẽ loãng sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn.
dài xuất phát từ mục tiêu giáo dục và từ điều kiện thực tế của nền giáo dục. Việc
tích cực nghiên cứu vận dụng các phương pháp dạy học mới là trách nhiệm của mỗi
giáo viên.Trên tinh thần đó, tôi mạnh dạn trình bày những kinh nghiệm cá nhân
trong việc dạy đọc hiểu văn bản văn học từ góc độ tiếp cận văn hóa học.
21
Nội dung đề tài hoàn toàn là những kinh nghiệm chủ quan mà tôi rút ra từ
thực tiễn.Việc vận dụng nội dung của sáng kiến này tùy thuộc rất lớn vào nỗ lực
của người dạy. Rất mong được đem đến cho thầy cô những kinh nghiệm bổ ích.
Thời gian không cho phép để bản thân có thể đi sâu nghiên cứu tìm hiểu kỹ.
Còn rất nhiều vấn đề đặt ra trong bài viết mà chưa giải quyết hết. Chắc chắn đề tài
này còn nhiều khiếm khuyết, rất mong được sự chia sẻ bạn bè, đồng nghiệp với hy
vọng sau này sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện dần để đề tài thực sự đem lại hiệu
quả.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 05 Năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Lê Thị Hằng
Tài liệu tham khảo
1. Đào Duy Anh (1974). Từ điển Truyện Kiều. Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội,.
2. Đặng Thanh Lê (1973). Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, Nxb Giáo dục
3. Phan Ngọc (1985). Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều.