SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRƯỜNG TH TRẦN BÌNH TRỌNG
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, do ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của
phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Song, trong chương trình
Tiếng Việt bậc Tiểu học phân môn Tập làm văn là một phân môn rất khó đối với
các em học sinh. Đa số các em không thích phân môn này vì việc tìm từ đặt câu khó
rất nhiều so với việc các em giải toán.
Vì vậy, trong giờ dạy Tập làm văn, giáo viên chúng ta không ai không trăn
trở và tìm đủ mọi cách để hướng dẫn học sinh mình làm được những bài Tập làm
văn. Muốn vậy, các em ngay từ khi bước chân vào ngưỡng cửa cấp Tiểu học phải
tích luỹ được một vốn văn học đáng kể. Nếu không có "vốn" thì bài làm của các em
sẽ trở nên nghèo ý và khô khan. Vậy, làm sao để học sinh phát huy được tính độc
lập, sáng tạo của bản thân.
Muốn vậy, học sinh phải có khả năng quan sát tinh tế và giàu óc tưởng tượng,
giàu tư duy hình tượng, vốn từ phong phú và quan trọng là các em phải được nói,
được viết, được nhận xét, đánh giá kết quả. Để có được một tiết văn tốt, một bài
Tập làm văn hay, dồi dào ý tứ thì theo tôi cần phải có một dàn bài chi tiết phong
phú.
Nhận thức được tầm quan trọng của môn Tập làm văn, thấy được những
nhược điểm, khó khăn mà trên lớp đa số học sinh không phát triển được ý tưởng
của mình vì thiếu cơ sở, thiếu " nòng cốt", bản thân tôi tiến hành thực hiện đề tài
“ Một vài kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn”.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Tương Trang 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRƯỜNG TH TRẦN BÌNH TRỌNG
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1/ Đối tượng:
Học sinh lớp 5/3 Trường Tiểu học Trần Bình Trọng
2/ Phạm vi:
Khi nói đến môn Tiếng Việt thì liên quan đến nhiều phân môn. Tuy nhiên
trong đề tài này tôi chỉ nghiên cứu một số biện pháp giúp các em học tốt phân môn
* Kết bài:
Phải gọn, tự nhiên để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc, yêu cầu thông
thường của đoạn kết là phải gói ghém tất cả những ý chính trong bài rồi phát biểu
cảm tưởng của mình. Nếu thiếu phần kết luận sẽ không dính vào nhau. Nhưng vấn
đề này còn tuỳ thuộc vào từng loại văn.
c. Ngoài ra các em còn phải biết khi viết văn cố tránh câu dài, từ chưa rõ
nghĩa các em không nên dùng.
- Làm xong bài ta cần sửa dò chính tả vài lần.
- Làm hết, làm kĩ các bài tập và xem lại nhiều lần các bài văn đã làm, đã
chữa kỹ.
- Đọc kỹ các phần giáo viên đã sửa để tìm hiểu rõ cách làm, biết rõ lý do
tại sao làm thế này lại đúng, làm thế kia lại sai.
2/ Bồi dưỡng vốn từ và cảm thụ văn học môn Tiếng Việt qua các phân môn:
a. Phân môn Tập đọc:
Tập đọc là một phân môn quan trọng, nhờ biết đọc, đọc tốt các em có điều
kiện để học các môn học khác trong chương trình tiểu học. Đây là môn học quan
trọng bởi vì nó rèn luyện cho học sinh kĩ năng học, rèn luyện trí nhớ cho các em,
giúp học sinh trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức đời sống.
Nó góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng học tập của học sonh đồng thời
giáo dục tình cảm, giáo dục thẩm mỹ, phát triển tư duy cho các em nói chung và
giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn nói riêng.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Tương Trang 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRƯỜNG TH TRẦN BÌNH TRỌNG
Qua các tiết Tập đọc, tôi đã hướng dẫn học sinh về cách dùng từ ngữ, hình
ảnh, tích luỹ các tư liệu văn học.
Ví dụ: Ở bài "Quang cảnh làng mạc ngày mùa" giới thiệu với các em vẻ đẹp
của làng quê Việt Nam giữa ngày mùa. Đây là một bức tranh quê được vẽ bằng lời
tả rất đặc sắc của nhà văn Tô Hoài. Tác giả quan sát tinh tế và dùng từ rất gợi cảm
phục vụ cho kiểu bài văn tả cảnh chẳng hạn:
+ Lúa: vàng xuộm.
+ Tìm hiểu ý nghĩa của bài văn (chủ đề, tác dụng giáo dục).
+ Nêu cảm nghĩ của bản thân sau khi đọc bài văn.
Từ các nội dung đó tôi đặt câu hỏi cho học sinh trả lời. Quá trình suy nghĩ và
trả lời sẽ giúp học sinh cảm thụ sâu sắc bài văn, có thể bình luận bài văn và nhận xét
nhân vật.
b. Phân môn Luyện từ và câu:
Qua nhiều năm dạy lớp 5 và nghiên cứu mức độ hiểu biết của học sinh,
bản thân tôi nhận thấy rằng: học sinh có hiểu được các từ ngữ, phân biệt được các
từ hoặc xác định được câu và hiểu được giá trị nghệ thuật của tác phẩm lệ thuộc rất
lớn vào các biện pháp, thủ thuật của giáo viên. Làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh là
nhiệm vụ của việc dạy luyện từ và câu ở Tiểu học. Cần đặc biệt coi trọng việc mở
rộng vốn từ theo hệ thống liên tưởng, so sánh. Cụ thể như mở rộng vốn từ theo hệ
từ đồng nghĩa, trái nghĩa và từ đồng âm.
Tôi chú ý mở rộng vốn từ cho học sinh vì học sinh hiểu thêm một từ mới
là biết thêm một khái niệm, việc cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh với việc hướng
dẫn các em vận dụng vốn từ ngữ đó trong hoạt động nói, viết nhằm tích cực góp
phần xây dựng tiềm lực cho các em trong việc học môn Tập làm văn là môn có tính
chất tổng hợp cao nhất đối với toàn bộ quá trình học tập môn Tiếng việt của học
sinh ở bậc Tiểu học.
Trong những giờ Tiếng việt tăng cường, tự học tôi thường cho các em tìm
những từ ngữ theo từng đề tài nhỏ để làm tăng vốn từ:
Ví dụ: Tìm những từ ngữ chỉ làn da trắng của em bé trong bài "Tả em bé
đang tuổi tập nói, tập đi". (Trắng ngà, trắng hồng, trắng mịn như tuyết, trắng như gà
bóc )
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Tương Trang 5
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRƯỜNG TH TRẦN BÌNH TRỌNG
Hoặc: tả ngoại hình của một người mà em yêu quý (thầy giáo, cô giáo )
Dáng cô mảnh mai, thon thả, cân đối, dáng người vừa, không cao lắm
Ví dụ: Tìm từ đồng nghĩa với mỗi từ sau đây: đẹp, to lớn, học tập .
+ Đẹp: đẹp đẽ, đèm đẹp, xinh, xinh xắn, xinh đẹp,
+ Đôi mắt: Đôi mắt to, đen, sắc sảo - trũng sâu - lờ đờ - nhìn ngây thơ -
đôi mắt có nét nhìn ngay thẳng, trung thực.
+ Đôi má: Đôi má hồng đầy đặn - Đôi gò má cao và nhô lên - Đôi má
hóp
+ Thân mình, nước da:
Thân mình gân guốc với làn da đen sạm.
Thân mình mảnh mai với làn da trắng hồng.
Thân mình khoẻ mạnh, đôi tay đôi chân cân đối được phủ bởi lớp da
màu bồ quân.
+ Điệu bộ: Đàng hoàng, chững chạc, láu táu, nghiêm trang - tháo vát - bẽn
lẽn
* Tính tình:
Khoác lác, huyên thuyên, bình dân, trầm tĩnh, thật thà, vui vẻ, cởi mở, vị
tha, nhân từ, bao dung độ lượng, đảm dang, hoạt bát, ngăn nắp
d. Đối với những học sinh yếu về môn Tập làm văn, tôi có thể cung cấp thêm
những câu hoặc đoạn văn mẫu (không theo thứ tự của dàn bài) để các em luyện tập
thêm ở nhà qua đó giúp các em hiểu thêm về cách dùng từ, đặt câu, diễn đạt, hành
văn
Ví dụ 1: Điền vào chỗ trống một số từ ngữ thích hợp để tạo thành đoạn văn
miêu tả "Tả hình dáng cô giáo em".
Cô có vóc người , nước da , mái tóc Điểm đặc
biệt nhất trên gương mặt thanh tú của cô là đôi mắt. Đôi mắt cô
Ví dụ 2: Căn cứ vào dàn bài tả người, em hãy sắp xếp các câu sau đây theo
một thứ tự hợp lí để thành bài văn đúng, mạch lạc với đề bài "Tả một người thân
trong gia đình em (chú ý những nét nổi bật về ngoại hình, tính tình và hoạt động của
người đó)".
(1) Mẹ em suốt ngày buôn bán ở chợ.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Tương Trang 7
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRƯỜNG TH TRẦN BÌNH TRỌNG
(2) Tất cả công việc nhà đều do chị Ba em đảm đang.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRƯỜNG TH TRẦN BÌNH TRỌNG
(27) Mải miết làm việc chỉ chả còn thì giờ để giải trí.
(28) Thế mà không bao giờ chị cau có, suy bì cùng chị Hai là người
thường chơi nhiều hơn làm việc.
(29) Em rất mến chị Ba vì đức tính đáng quý đó.
- Sau mỗi bài luyện tập như vậy, tôi đều dành thời gian kiểm tra, nhận xét để
giúp các em lần sau làm bài tốt hơn.
e. Ngoài ra, trong tiết Tập làm văn, tôi không chỉ hướng dẫn học sinh xác
định đúng thể loại, kiểu bài mà còn hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh cách dùng
từ, đặt câu, dựng đoạn khi viết văn.
1/ Dùng từ:
*Dùng từ đúng: Dùng từ đúng có hai mặt, đó là dùng từ đúng âm và dùng
từ đúng nghĩa.
a. Dùng từ đúng âm: Biện pháp tốt nhất để giúp học sinh dùng từ đúng âm đó
là rèn viết chính tả, viết đúng chính tả. Muốn đạt được yêu cầu này, giáo viên cần
cho học sinh nhìn cách viết đúng, nghe nói đúng để rồi bản thân các em sẽ viết
đúng, bên cạnh đó, khi giảng dạy cần giảng cho học sinh hiểu rõ nghĩa của từ, các
em sẽ hạn chế được phần nào lỗi dùng từ không đúng âm.
Ví dụ: Đúng âm Không đúng âm
Phiêu bạt Phiêu bạc
Trong trắng Chong chắng
Cần mẫn Cầng mẫng
b. Dùng từ đúng nghĩa:
Dùng từ phải đảm bảo độ chính xác, đồng thời biểu hiện được tư tưởng, tình
cảm một cách rõ ràng.
* Dùng từ hay:
a. Dùng từ chính xác: Là cách dùng từ không những đúng âm, đúng nghĩa mà
còn đạt được yêu cầu không thể thay bằng bất kì từ nào khác.
b. Dùng từ có hình ảnh : Là cách dùng từ có thể vẽ ra trước mắt người đọc
bức tranh của cuộc sống tạo cho người đọc có cảm giác được nhìn thấy tận mắt, sờ
đoạn 3
6 19.4% 17 54.8% 8 25.8%
Các giai
đoạn
Năm học 2006 - 2007
Tổng số học sinh :30
Giỏi Giỏi Giỏi Giỏi Giỏi
SL SL SL SL SL SL SL SL SL SL
Giai
đoạn 1
9 30 11 36.6% 5 16.7% 5
16.7
%
Giai
đoạn 2
4 13.3% 14 4.67% 7 23.3% 2 6.7% 3 10%
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Tương Trang 10
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRƯỜNG TH TRẦN BÌNH TRỌNG
C. KẾT LUẬN
Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi cũng đã rút ra được một số kinh nghiệm
đó là:
1/ Về phía giáo viên :
- Giáo viên cần chú trọng, cần diễn đạt đúng, đủ và rõ ý bằng lời văn tự nhiên,
chân thành có sự hỗ trợ của ngữ điệu, củ chỉ, nét mặt
- Quan tâm hướng dẫn học sinh cách trình bày mạch lạc các ý, các đọan
- Cần phải tích cực làm giàu vốn từ cho học sinh, càng giàu bao nhiêu thì sự lựa
chọn từ càng lớn, càng chính xác, sự trình bày tư tưởng của học sinh càng rõ ràng
đặc sắc bấy nhiêu.
- Không ngừng tiếp thu và vận dụngcác tài liệu, các chuyên đề đổi mới của
ngành để đưa vào giảng dạy sao cho phù hợpvới tình hình thực tế học sinh ở lớp.