1. MỞ ĐẦU
1. 1. Lý do chọn đề tài
Văn học là một trong số bộ môn quan trọng bậc nhất đối với mọi cấp học.
Việc dạy Văn ở cấp THPT, người giáo viên hằng ngày tiếp xúc với lứa tuổi học trò
đang trong quá trình hình thành nhân cách nên phải rất hiểu, phải thật sự gần gũi,
thân thiện và yêu mến trò mới có thể xây dựng được niềm tin cho các em, để các
em biết lắng nghe, thấu hiểu và yêu thích hơn bộ môn này. Đó thực sự là một điều
không mấy dễ dàng.
Qua mỗi giờ học Văn, nhất là các tiết đọc – hiểu tác phẩm, người giáo viên
cần phải giúp cho mỗi học sinh của mình từng bước chiếm lĩnh tác phẩm đó ở
nhiều góc độ, giúp các em có những trải nghiệm sâu sắc về cuộc sống thông qua
mỗi cuộc đời, số phận, tâm tư tình cảm… của từng nhân vật. Từ đó, giúp học sinh
nhận thức được sâu sắc hơn về cuộc sống qua mỗi trang văn.
Từ rất lâu, nghề giáo được người ta ví với nghề “Lái đò”. Những chuyến đò
âm thầm chở từng lớp người, từng lớp học trò ngày ngày đến với bến bờ tri thức.
Trên con đường đó, không phải lúc nào cũng được suôn sẻ, đôi khi là sóng dữ, là
trở ngại, khó khăn, mệt mỏi, căng thẳng…Thế nhưng, vì tình thương yêu bao la của
chính mình như ngọn lửa ấm áp sưởi ấm trái tim đã giúp những người “Lái đò”
vững tay chèo tiếp tục cầm lái. Mỗi lớp học sinh đi qua để lại cho những người
thầy, người cô những ấn tượng khó phai mờ trong cuộc đời dạy học của mình.
Nghề giáo là một nghề rất vất vả, đòi hỏi người giáo viên phải luôn gần gũi,
nắm bắt hoàn cảnh để giúp các em vượt qua khó khăn, tích cực đến lớp. Trong quá
trình dạy học, giáo viên phải nắm bắt được năng lực của từng em để có hướng
giảng dạy phù hợp như dạy phụ đạo cho học sinh yếu, kém, trung bình và bồi
dưỡng học sinh khá để các em có cơ hội được mở rộng và nâng cao kiến thức chứ
không dừng lại ở kiến thức cơ bản trong mỗi giờ học.
Tuy nhiên giáo dục không chỉ là giảng dạy cho trò những bài học trong sách
vở, mà người thầy, người cô còn phải giáo dục, dạy dỗ cho các trò được thành
người có nhân cách mai sau, có kĩ năng sống để vững tin bước vào cuộc đời rộng
lớn hơn.
Bất kì cha mẹ nào khi sinh con ra, cũng mong muốn con mình trưởng thành
đam mê, yêu thích và học bộ môn này hiệu quả, hứng thú hơn một cách rõ nét và
đặc biết giúp các em biết nhận thức được thế nào là đúng – sai, phải – trái, tốt –
xấu…để các em tránh xa những lối sống tiêu cực của xã hội bây giờ đang thâm
nhập vào lứa tuổi học trò.
Từ những kinh nghiệm của bản thân sau nhiều năm giảng dạy bộ môn Ngữ
văn tại trường THPT Triệu Sơn 3, tôi nhận thấy mỗi giáo viên bộ môn hãy luôn là
một người giáo viên chủ nhiệm đối với các lớp mình dạy; hãy thực sự yêu thương,
quan tâm và dạy dỗ, khích lệ đúng cách đối với trò qua mỗi tiết học cũng như ở
những thời gian có thể để hiểu hơn tâm lí, hoàn cảnh, tính cách những ưu, những
nhược điểm của trò. Có như vậy mới có thể tạo niềm tin và sự tác động sâu sắc đến
sự nhận thức của các em trong vấn đề học tập, rèn luyện đạo đức nhân cách.
Tôi xin ghi lại những kinh nghiệm của bản thân qua sáng kiến: “Một số biện
pháp giúp học sinh lớp 10 nhận thức tốt hơn khi học tập môn Ngữ văn và hạn
chế được những biểu hiện lệch chuẩn về ý thức, hành động, đạo đức …của các
em trong xã hội hiện nay”
1. 2. Mục đích nghiên cứu:
Giúp học sinh chiếm lĩnh, cảm thụ được tác phẩm, giúp giờ dạy văn – học văn
hiệu quả, hấp dẫn; giúp các em nhận thức sâu sắc hơn những cám dỗ tiêu cực đang
thâm nhập vào đời sống, tâm lí, nhận thức, hành động của học sinh THPT trong xã
hội hiện nay.
1. 3. Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng đề tài này, tôi tập trung vào nghiên cứu một số biện pháp giúp học
sinh lớp 10 nhận thức tốt hơn khi học tập môn Ngữ văn và hạn chế được những
biểu hiện lệch chuẩn về ý thức, hành động, đạo đức…của các em trong xã hội hiện
nay.
1. 4. Phương pháp nghiên cứu
* Xây dựng cơ sở lý thuyết.
* Thu thập và xử lý thông tin.
2
giúp các em chiếm lĩnh và cảm thụ tốt các tác phẩm văn chương nhất là những tác
phẩm văn xuôi dài. Từ đó, rèn luyện cho các em thói quen tìm tòi, khám phá, thấy
được giá trị cuộc sống, bản thân sau mỗi tác phẩm dần dần các em sẽ yêu thích và
đam mê môn Văn hơn.
2. 2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2. 2.1. Về phía người học
Do xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau, nên việc học môn Ngữ văn của mỗi đối
tượng học sinh cũng khác.
Đối với hai lớp 10D6 và 10D7, đều là lớp cơ bản, phần nhiều gia đình làm
nông nghiệp, điều kiện kinh tế khó khăn và nhiều hoàn cảnh đặc biệt. Nên đa phần
chỉ xác định học để có tấm bằng cấp 3, sau đi làm chứ ít mơ ước cao hơn. Do vậy,
việc đầu tư thời gian, công sức, sự quan tâm của phụ huynh đến con em mình cũng
phần nào hạn chế. Vì vậy, nhiều em có tư tưởng học cầm chừng, đến lớp cho có,
cho bố mẹ, thầy cô vui.
Số học sinh chỉ học để có tấm bằng cấp 3, để đi xuất khẩu lao động xứ người
kiếm thu nhập, đi làm các công ty hay đi học nghề hoặc chỉ đi học vì bố mẹ bắt
3
buộc… phần lớn rất lười học, lười đọc, lười ghi chép… Đến lớp chỉ để cho có, cho
vui, số học sinh này phần lớn học lực non, ham chơi, chữ viết không cẩn thận, thậm
chí thiếu đồ dùng học tập rất nhiều mỗi khi đến lớp. Rất nhiều em có mặt trong lớp
nhưng không chú ý học tập, thậm chí có tư tưởng nổi loạn… Do vậy, giờ học các
em cảm thấy mệt mỏi, nặng nề, không chú ý, không làm việc nên không hiểu bài.
Dẫn đến chán học, sa vào các thú chơi khác tiêu cực, không phù hợp với tuổi học
trò…
Phần lớn số học sinh lười học, học lực yếu, ham chơi rất ngại ghi bài và ngại
làm văn…sợ bị thầy cô giáo gọi lên bảng nhưng lại thích không bị thiếu điểm hoặc
được điểm cao.
Rất nhiều học sinh chỉ thích nghe giảng, “thích không phải ghi bài”, thậm chí
móng chân khi đi học; tham gia
bán một số mặt hàng lứa tuổi
học trò trên mạng nên thường
xuyên mang điện thoại đến lớp;
hay nghỉ học vô lí do; chơi thân
với nhóm học sinh và thanh
niên hay chơi bời, nghiện ngập
ở nhà; yêu đương sớm; thường
đi bộ đến trường vì gần.
Lê Thị Lan Anh
10D6
- Gia đình: mẹ bán hàng tạp
hóa ở nhà, bố đi làm xa ở Hà
Nội, kinh tế gia đình cũng tạm
hơn so với cuộc sống ở nông
thôn.
- Bản thân: rất thẳng thắn và
nóng tính; hay bỏ nhà đi khi bị
cha mẹ mắng chửi; hay ăn quà
vặt khi đi học; ăn nói trống
không; hay trang điểm, sơn
móng tay móng chân, nhuộm
tóc khi đến lớp; yêu đương
sớm; tính cách khá táo bạo nói
năng nhiều khi thô tục; hay sử
dụng điện thoại xem phim, bán
hàng trên mạng…nhưng cũng
rất yếu đuối, tình cảm.
Hà Thị Thùy Dung
nhận thức
rất nhanh
về đề bài
khi giáo
viên ra.
Nhưng
không
chịu ghi
chép,
không
học, đến
lớp chủ
yếu
ăn
quà, dùng
điện thoại
thấm, nói
chuyện tự
do.
Chữ
đẹp, học
lực bình
thường
5
2. 2. 2. Về phía người dạy
Việc dạy Văn vốn là bộ môn nghệ thuật, cần phải có một môi trường học tập
thoải mái có sự hợp tác tốt từ cả hai phía người dạy – người học. Bản thân người
đình các em cá biệt trong lớp. Đó là mục tiêu tôi đề ra đối với bản thân mình dù
không phải lớp mình chủ nhiệm.
2. 3. 2. Những yêu cầu đối với việc chuẩn bị cho một tiết học Văn
2. 3. 2.1. Đối với người dạy
Bất cứ việc gì nếu có sự chuẩn bị tốt thì việc thực hiện sẽ mang lại hiệu quả
cao hơn. Cụ thể, người dạy phải đọc kỹ tác phẩm trước khi lên lớp, phải nghiền
ngẫm, tham khảo để tìm ra vẻ đẹp của tác phẩm ở cả phương diện nội dung và hình
thức. Từ đó, mới thiết kế được bài dạy hợp lí, khoa học. Đồng thời phải xây dựng
hệ thống câu hỏi đa dạng, phong phú về chủng loại:
Có câu hỏi phát hiện, câu hỏi phân tích bình giá, câu hỏi mở rộng nâng cao…
6
Người dạy phải “ Lấy học trò làm trung tâm” và phải là người cố vấn, hướng
dẫn học sinh để các em cùng sáng tạo với người dạy trong quá trình cảm thụ,
chiếm lĩnh tác phẩm chứ không thể làm thay cho trò như trước.
2. 3. 2. 2. Đối với người học
Người dạy bằng mọi giá phải khuyến khích, yêu cầu học sinh đọc kỹ tác
phẩm ở nhà, phải nắm được cốt truyện, hệ thống tên nhân vật và những chi tiết tiêu
biểu…(Đối với tác phẩm văn xuôi). Hiểu được nội dung của từng câu thơ. Đồng
thời phải trả lời những câu hỏi trong sách giáo khoa – phần hướng dẫn học bài hoặc
những câu hỏi giáo viên giao( ít nhất là về mặt tinh thần có học, có làm… giáo viên
nên động viên, khen ngợi kịp thời).
Đến lớp bắt buộc phải lắng nghe và ghi chép bài thật đầy đủ, liên tục. Học
sinh bắt buộc phải mang đầy đủ sách giáo khoa, vở ghi, vở soạn, phải có giấy nháp
để nháp bài khi giáo viên ra câu hỏi, bài tập.
Tuyệt đối trong giờ học Văn không được mang các môn khác ra học, không
được sử dụng điện thoại… và khi được thầy cô gọi lên bảng, dù làm được hay
không cũng phải có thái độ hợp tác vui vẻ để lên bảng làm.
2. 3. 3. Đối với mỗi giờ học Văn chính khóa
Tôi thường gọi 03 học sinh lên bảng cùng một lúc, làm cùng một câu hỏi
bằng cách viết bảng, với lượng thời gian quy định. Còn tôi tranh thủ kiểm tra vở
soạn bài của các em. Sau khi các em làm xong tôi gọi học sinh dưới lớp nhận xét và
cho điểm bạn. Để các em biết cách nhận xét đánh giá. Nếu học sinh không làm bài,
không học bài tốt ở nhà cũng sẽ không biết nhận xét bài của bạn. Cùng một lúc tôi
có thể đánh giá được nhiều học sinh về tinh thần, thái độ và năng lực học tập. Từ
đó, sẽ biết cách giúp học sinh chủ động hơn trong học tập.
Tôi có thể thay đổi hình thức kiểm tra bài cũ linh hoạt như: gọi học sinh lên
thuyết trình hoặc viết bảng. Có thể kiểm tra đột xuất kiến thức bài cũ, vở ghi, vở
soạn bài của học sinh bất kì không báo trước. Nếu học sinh không thuộc bài tôi
nhắc nhở nhẹ, khích lệ em cố gắng chủ động hơn trong học tập. Làm tốt hoặc tự
làm bài bằng khả năng dù chưa đạt mong muốn vẫn cho điểm khích lệ trò.
2. 3. 3. 2. Khi vào bài mới
Nhất là tiết đọc – hiểu văn bản, tôi thường gọi những học sinh lười đọc, hoặc
đọc chưa tốt đứng lên đọc bài, hoặc đọc phân vai. Sau khi các em đọc xong, tôi sẽ
nhận xét về cách đọc của từng em để các em cảm thấy tự tin hơn, thích đọc hơn
trong mỗi giờ học.
Ngoài ra, có thể cho các em về nhà tập nhập vai diễn xuất một số hoạt cảnh
trong tác phẩm, để vào tiết học các em thể hiện trước lớp: ví như nhập vai cô Tấm,
Cô Cám, mụ dì ghẻ khi học truyện cổ tích Tấm Cám, truyện cười Tam đại con gà.
Sau mỗi bài học có phần liên quan đến đời sống xã hội tôi thường lồng ghép
những câu chuyên liên hệ với thực tế của học trò đang vướng phải. Để các em có
thể lấy đó làm bài học bổ ích cho bản thân. Yêu văn có thể giúp chúng ta thấy yêu
cuộc sống, yêu bản thân hơn, tránh được những điều sai trái, tự thanh lọc hóa tâm
hồn mình thánh thiện hơn.
2. 3. 4. Đối với giờ học thêm Văn
Đối với mỗi giờ học thêm văn, thật sự rất quan trọng, giáo viên có thời gian
hơn nhằm giúp học sinh cũng cố, nâng cao kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm bài.
Vì vậy, người dạy phải thật sự đầu tư, tìm tòi và biết học trò còn khuyết hổng phần
đơn vị kiến thức nào để kịp thời bù đắp, bồi dưỡng thêm cho các em.
ngạn ngữ giàu tính triết lí sống; những tên tuổi nổi tiếng về nghị lực, về tấm lòng
tốt, về sự thành công.. .trong cuộc đời.
Trên lớp, chủ yếu tôi cho học sinh thực hành nhận diện các dạng đề nghị luận
xã hội, rèn cho các em kĩ năng viết mở bài, thân bài, kết luận, lập dàn ý , viết đoạn
văn dưới các hình thức diễn đạt khác nhau bằng cách gọi lên bảng viết trực tiếp
hoặc làm việc cá nhân vào giấy nháp sau đó gọi học sinh đọc bài của mình trước
lớp hoặc có thể thảo luận và làm theo nhóm.
Đặc biệt người dạy cần giúp học sinh biết cách viết một đoạn văn và một bài
văn nghị luận xã hội.
2. 3. 4. 3. Khi dạy làm bài nghị luận Văn học
Cần chú trọng dạy cho học sinh kĩ năng viết bài. Muốn như vậy cần giúp học
sinh nắm vững những đơn vị kiến thức cơ bản về các tác phẩm văn xuôi và trữ tình.
Cần cho học sinh thực hành trên lớp nhiều lần và giao bài tập về nhà khuyến
khích các em làm bài.
Trong giờ học chính khóa cũng như giờ học thêm, người dạy cần có sự bao
quát cao độ đối với từng học sinh trong lớp, đến bên bàn từng học sinh để có thể
nắm bắt chính xác việc ghi chép, nháp bài và kể cả tâm lí hiện tại của các em. Có
như vậy mới kịp thời động viên, dạy dỗ trò tập trung chú ý để học tập tốt hơn. Bởi
vì nhiều học sinh khi giáo viên ngồi trên bục giảng có vẻ trò rất ngoan không nói
chuyện nhưng kì thực có em lấy điện thoại ra nhắn tin hoặc chơi game ngay trong
giờ, hoặc ngồi ghi chép giả vờ nhưng không được chữ nào trong vở…
2. 3. 5. Đối với ngoài giờ học(ra chơi, khi về nhà, những buổi sinh hoạt tập
thể các ngày lễ…).
Đối với những học sinh cá biệt(về tính cách, nhận thức, hoàn cảnh gia
đình…), tuy bề ngoài khi mới nhìn vào chúng ta chỉ toàn thấy những nhược điểm
của các em nhiều hơn, thậm chí các em có vẻ khó gần, ngỗ ngáo. Nhưng khi gần
gũi, tâm sự, chia sẻ với các em chúng ta thấy các em cũng có rất nhiều điểm đáng
trân quý. Khi giáo viên gần gũi, thân thiện sẽ giúp học trò cảm thấy tin tưởng,
muốn tâm sự những góc khuất trong lòng cũng như những góc khuất về gia cảnh.
Đối với những học sinh cá biệt chúng ta vừa phải nghiêm khắc nhưng đa phần
em đi học. Sau lần đó, em được đi học và thật sự cố gắng rất nhiều.
Học sinh Lê Thị Lan Anh: em bướng bỉnh, nóng nảy, khi mắc lỗi mẹ đã
nặng lời với em, nên em đã bỏ nhà đi đến nhà bạn cùng lớp cả đêm. Với ý định sẽ
bỏ học giữa chừng ra Hà Nội đi bán quần áo thuê. Bố mẹ thuyết phục sao cũng
không nghe, thậm chí có lúc em nghĩ quẩn khiến mẹ phải gọi điện cho tôi gấp lên
nhà giữa trưa nhờ thuyết phục em tiếp tục theo học. Cả một chặng đường dài
nhưng vì học sinh và phụ huynh, tôi cảm thấy cần và nên làm là giúp em bình tâm
trở lại rồi dần thuyết phục em. Gặp trực tiếp rồi gọi điện cho em nhưng đang trong
lúc giận dỗi và cái tôi cá nhân trong em trỗi dậy, tôi và gia đình em không thể
thuyết phục được em. Cuối cùng trước khi ra về tôi phải nán lại viết một bức thư
ngắn nhờ mẹ của em chuyển cho học trò sau khi tôi ra về. Sau bức thư đó tôi tiếp
tục nhờ những em chơi thân cùng Lan Anh thuyết phục thêm, và những công sức
của cô trò đã thành công. Em Lan Anh tiếp tục trở lại lớp học và dần thấy vui vẻ
hơn, cố gắng hơn… Khi đó tôi cảm thấy vai trò của người thầy, người cô và bạn
bè thật quan trọng đối với các em nhất là những học sinh cá biệt. Vì trong sâu
thẳm những học trò nghịch ngợm thường ẩn dấu một nội tâm yếu đuối và sâu sắc.
Có nhiều lúc tâm sự trực tiếp, nhưng có những lúc phải nhắn tin, gọi điện
thậm chí nếu cần phải viết cả thư để khuyên răn, chia sẻ, khích lệ tới trò nếu không
10
may có lúc trò sai lầm, sống lệch chuẩn. Tôi thiết nghĩ mỗi khi đến lớp người giáo
viên luôn phải xác định một tâm thế: không chỉ dạy mà còn phải dỗ trò, không chỉ
là một giáo viên bộ môn mà luôn là một giáo viên chủ nhiệm, là người chị, người
mẹ, người bạn đáng tin cậy để giáo dục và dạy dỗ mỗi thế hệ học trò của mình.
Quan trọng cần phải biết lắng nghe những tâm tư của trò, dù cho suy nghĩ của trò
chưa chín chắn, dù học trò chưa giỏi, chưa ngoan. Nhưng nếu được thầy cô dạy dỗ
đúng cách, tâm huyết, không quản nhọc nhằn thì học trò sẽ thay đổi tích cực, nhận
thức tốt hơn rất nhiều về mọi mặt. Thật sự số học sinh ngoan, khá giỏi cũng có
nhưng bên cạnh đó số học sinh học lực còn non, nhận thức và hành động chưa tốt,
buổi học đàu tiên vừa vào lớp tôi đã hỏi tên của em và đến bên bàn em hỏi han đôi
điều. Em nhìn tôi trân trân và trả lời rất thẳng thắn: “Có phải cô đã nghe lịch sử về
em ở cấp 2 rồi phải không ạ?” Tôi cười và nói “Bây giờ cô mới gặp và dạy em mà,
thời gian sẽ cho cô câu trả lời về em”, hầu như ở dưới lớp chẳng bao giờ em ấy
nháp bài, chỉ khi cô gọi lên bảng thì hầu như em đếu làm rất tốt. Đó là lí do, em ấy
11
được lên bảng, được đọc bài nhiều hơn. Giờ ra chơi tôi thường hay nán lại lớp nói
chuyện với nhóm học sinh cá biệt này, nên giúp tôi nhận ra nhiều đức tính tốt đẹp,
sự gần gũi thân thiện với các em hơn, có lúc chúng đùa vui với tôi như với chị, với
bạn và hầu như không che dấu tôi điều gì, kể cả chuyện không ngại nói với tôi “
Cô ơi! Em có người yêu rồi đấy…! Cô ơi bạn ấy thích em giờ em phải làm sao?...”
Tập thể học sinh 10D6, chúng rất gần gũi với tôi, yêu quý, tôn trọng và biết
nghe lời. Vì vậy, chỉ cần có em nào có thái độ sai, ăn mặc, nói năng không chuẩn
mực độ tuổi học trò, chỉ cần nhắc nhẹ, các em sẽ tiếp thu. Đây thực sự là một lớp
mà số học sinh nữ rất nghịch, táo bạo, lười học, phần lớn các em cả trai, lẫn gái chỉ
thích chơi nhiều hơn thích học. Hay nói chuyện, hay ăn quà, hay dùng trộm điện
thoại, hay nghỉ học vô lí do và tự viết đơn xin nghỉ học, kí giúp nhau rất nhiều…
Nhưng được sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô trực tiếp giảng dạy, giáo viên chủ
nhiệm và nhà trường, các em đã thay đổi rất nhiều về nhận thức, chuyên tâm hơn
trong mỗi tiết học, hạn chế được những thú chơi vô bổ, biết chào hỏi mọi người
đúng cách, biết quan tâm yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong học tập.
Đặc biệt, các em chăm chỉ hơn trong việc đọc tác phẩm văn học trước khi lên
lớp, soạn bài, ghi chép bài nghiêm túc hơn. Nhất là các giờ học tác phẩm văn xuôi,
những câu truyện cười, câu chuyện cổ tích, các em rất hào hứng khi được nhập vai
diễn xuất một số hoạt cảnh như: truyện Tấm Cám, Tam đại con gà một cách sáng
tạo dựa trên cốt truyện đã có.
Trong giờ học thêm, phần lớn các em đều chăm chú nháp bài, xung phong lên
bảng làm đề nếu cô giao. Cho dù có nhiều khi các em làm chưa đúng nhưng các em
Lớp
Sĩ số Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu - kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
10D6 43
0
0
21
49,0
19
44,1
3
6,9
10D7 41
0
0
15
36,6
22
53,6
4
7,69
Sau khi tác động học lực môn Ngữ văn của lớp 10D6 tiến bộ lên rõ nét so với
lớp 10D7. Đặc biệt nhất là tinh thần, thái độ học tập, lối sống của các em đã chuyển
biến sâu sắc theo chiều hướng tích cực. Điều đó phần nào khẳng định một số biện
pháp tôi đã áp dụng nêu trên thực sự có hiệu quả trong việc nâng cao ý thức, kết
quả học tập đồng thời giáo dục tốt cho các em về đạo đức, nhân cách trên con
đường hoàn thiện nhân cách bản thân trong xã hội hiện nay, nhất là đối với những
học sinh cá biệt.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luân
Muốn dạy giờ Văn hiệu quả, người dạy phải đầu tư nhiều trí tuệ, sức lực để
thiết kế bài dạy hợp lí, khoa học, phù hợp với đối tượng học sinh. Đồng thời, phải
13
thiết kế được hệ thống câu hỏi đa dạng, phong phú để hướng dẫn các em chủ động
tìm tòi, phát hiện, tư duy: có câu hỏi phát hiện; có câu hỏi phân tích, bình giá; có
câu hỏi khái quát tổng hợp; có câu hỏi liên tưởng mở rộng và đưa ra đúng lúc, đúng
chỗ để cả người dạy và người học cùng tìm ra sự độc đáo sâu sắc của bút pháp
nghệ thuật và cảm xúc của tác giả.
Giờ dạy Văn, người dạy phải tạo ra được tình huống có vấn đề và tạo được sự
giao cảm hài hòa với trò để có thể cùng nhau khám phá vẻ đẹp của tác phẩm nghệ
thuật.
Đặc biệt người dạy phải biết cách nắm bắt tâm lí và khả năng của trò để khích
lệ trò tập trung học tập. Không nên chửi mắng học trò khi các em chưa tìm ra câu
trả lời đúng, cần nhẹ nhàng đến bên chỉ bảo, hướng dẫn để các em tự tin hơn trong
mỗi giờ học văn.
3. 2. Kiến nghị
Bản thân tôi xin mạnh dạn đề xuất với Ban giám hiệu cần động viên nhiều