Rèn luyện kĩ năng tích hợp nội dung phần đọc hiểu và viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ trên cùng một văn bản trong đề thi THPT q - Pdf 44

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, xác định được nhiệm vụ quan trọng đó
nên trong những năm qua, Bộ giáo dục và đào tạo liên tục có những bước đổi
mới theo hướng “căn bản toàn diện” nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa
hiện đaị hóa đất nước, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế hiện nay. Với mục tiêu
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, Bộ giáo dục và đào tạo không ngừng
đưa ra những giải pháp mới nhằm khắc phục những tồn tại, đồng thờì phát huy
năng lực và vai trò chủ động sáng tạo của người học.
Để áp ứng kịp thời yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện, trong những năm gần đây Bộ giáo dục và đào tạo thường xuyên thực hiện
việc đổi mới trong kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ Văn thông
qua kì thi THPT Quốc gia, thực hiện theo hướng đánh giá năng lực của học sinh
ở những mức độ phù hợp. Cụ thể đề thi hiện nay tập trung vào các kĩ năng quan
trọng: Kỹ năng đọc hiểu văn bản, kỹ năng viết văn bản, đồng thời tích hợp kiến
thức phần đọc hiểu và nghị luận xã hội trong cùng một văn bản.
Năm học 2016 - 2017 Bộ giáo dục và đào tạo đã gửi văn bản đến các Sở
giáo dục, các trường THPT trong cả nước về việc hướng dẫn ôn thi THTP Quốc
gia theo cấu trúc đề mới nhất. Có thể nói đây là sự đổi mới tích cực trong cách
ra đề môn Ngữ văn, tập trung kiểm tra đánh giá năng lực học sinh thông qua
việc tích hợp kiến thức đọc hiểu và viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ
trên cùng một văn bản, giúp các em nâng cao kĩ năng vận dụng tổng hợp kiến
thức và phát triển năng lực, tự cảm nhận về một văn bản bất kì. Sự tích hợp này
giúp học sinh tập trung vào một nội dung trên cùng một văn bản, vừa đảm bảo
thời gian một cách phù hợp để có thể khai thác sâu luận đề chính theo hướng
vận dụng cao.
Như vậy có thể thấy, bên cạnh việc ôn tập rèn kĩ năng viết bài tự luận, việc
ôn tập rèn kĩ năng làm bài tích hợp đọc hiểu và nghị luận xã hội là điều cần thiết
đối với học sinh, đáp ứng yêu cầu theo cấu trúc đề thi THPT Quốc gia mới nhất
hiện nay, giúp các em đạt kết quả cao trong quá trình làm bài.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

Sáng kiến kinh nghiệm được vận dụng các phương pháp sau:
4.1. Nghiên cứu lí thuyết.
Bước đầu dạy cho học sinh những đơn vị kiến thức lí thuyết cơ bản: Lí
thuyết đọc hiểu, lí thuyết về đoạn văn. Qua đó giúp học sinh tìm hiểu cách thức
viết đoạn văn từ nội dung, chủ đề phần đọc hiểu, từ đó hình thành kĩ năng viết
được một đoạn văn hoàn chỉnh, đúng chủ đề, nội dung, đảm bảo về hình thức
theo yêu cầu.
4.2. Phương pháp thực nghiệm.
Đây là bước học sinh được trải nghiệm thực hành, rèn kĩ năng làm bài phần
đọc hiểu tích hợp viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ, với phương pháp này
giúp các em vận dụng kiến thức lí thuyết được học để làm bài, phát huy năng lực
tư duy trong hoạt động thực tiễn.
4.3. Các phương pháp khác:
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
5. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Điểm mới trong đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Rèn luyện kĩ năng tích
hợp nội dung phần đọc hiểu và viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ trên
cùng một văn bản trong đề thi THPT Quốc gia” là: Bám sát vào những điểm
mới trong cấu trúc đề thi môn Ngữ văn năm 2017 của Bộ giáo dục và đào tạo,
tích hợp hai nội dung đọc hiểu và viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ trên
cùng một văn bản. Đề thi môn Ngữ văn năm 2017 đã có sự thay đổi về thời
2


gian làm bài, số lượng câu hỏi, tổng điểm cho từng phần. Từ đó giáo viên cần
định hướng, lựa chọn phương pháp, rèn kĩ năng cho học sinh nhận biết được
phạm vi mức độ kiến thức, phân chia thời gian để làm bài thi hợp lí để đạt kết
quả tốt nhất.
Trước đây phần nghị luận xã hội trong đề thi môn Ngữ văn yêu cầu học

là kĩ năng thực hành thông qua các dạng đề bài. Học sinh phải biết xác định
đúng trọng tâm yêu cầu, thực hiện đầy đủ các thao tác cần thiết, và phải có tri
thức sâu rộng để áp dụng làm bài. Đặc biệt với nội dung tích hợp mới nhất trong
cấu trúc đề thi THPT Quốc gia hiện nay, đòi hỏi học sinh phải sớm thay đổi cách
học một cách phù hợp.
3


Tích hợp phần đọc hiểu và nghị luận xã hội trong đề thi THPT Quốc gia là
điểm mới, phát huy khả năng tổng hợp kiến thức và sự sáng tạo của học sinh, từ
đó đánh giá đúng năng lực của người học, văn bản đọc hiểu và vấn đề nghị luận
xã hội cần bàn luận không nằm trong sách giáo khoa, nên học sinh không cần
học thuộc mà vẫn có thể vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học để áp dụng làm
bài. Vì thế khi làm dạng bài tích hợp này học sinh cần có thái độ tích cực, chủ
động. Đây là năng lực cần thiết để thâm nhập vào văn bản, từ đó khám phá,
chinh phục nội dung đạt hiệu quả ở mức độ cao nhất.
2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
Thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng môn ngữ văn, cấu trúc đề
thi THPT Quốc gia năm 2017 đã có những bổ sung, điều chỉnh về hình thức
cũng như nội dung và thời gian làm bài, tổng điểm qua từng phần. Đặc biệt,
điểm mới nhất là tích hợp nội dung phần đọc hiểu và viết đoạn văn nghị luận
xã hội 200 chữ trên cùng một văn bản.
Nếu như năm học 2015 – 2016 cấu trúc đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ
văn được chia thành ba phần tương đương với ba đơn vị kiến thức độc lập (đọc
hiểu, nghị luận xã hội, nghị luận văn học), phần đọc hiểu trong đề thi chiếm 3/10
số điểm, với hai văn bản tương đương với 8 câu hỏi nhỏ. Phần nghị luận xã hội
tách riêng, độc lập về kiến thức. Đến năm học 2016 - 2017 đề thi THPT Quốc
gia môn Ngữ văn giảm 1/3 thời gian (từ 180 phút xuống còn 120 phút), tổng số
câu hỏi trong đề cũng giảm từ 10 câu xuống còn 6 câu. Phần đọc hiểu vẫn giữ
nguyên mức 3.0 điểm, nhưng số văn bản đã giảm xuống (từ hai văn bản xuống

bài này cũng góp phần tích lũy kinh nghiệm cho giáo viên ôn thi THPT Quốc gia
môn Ngữ văn.
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò, trách nhiệm của giáo
viên tâm huyết với nghề, nhiều năm phụ trách ôn thi cho học sinh lớp 12. Tôi
mong rằng đề tài “Rèn luyện kĩ năng tích hợp nội dung phần đọc hiểu và viết
đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ trên cùng một văn bản trong đề thi
THPT Quốc gia” sẽ góp phần tháo gỡ những khó khăn, lúng túng của học sinh
khi làm bài, mặt khác đáp ứng kịp thời nhu cầu đổi mới trong kiểm tra, đánh giá
năng lực học sinh hiện nay, đồng thời nâng cao chất lượng bộ môn.
3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP:
Cấu trúc đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017 có dạng câu hỏi
đọc hiểu tích hợp nghị luận xã hội ngắn (Viết đoạn văn 200 chữ) xuất hiện
phong phú, đa dạng nhưng trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 lại
không có một kiểu bài dạy riêng để hướng dẫn cho giáo viên cũng như học sinh
nắm được phương pháp làm dạng đề này một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy
mà nhiều học sinh tỏ ra lúng túng, băn khoăn khi làm bài.
Đứng trước thực trang đó, bằng kinh nghiệm cuả bản thân đang trực tiếp
giảng dạy, ôn thi, cũng như trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, tôi đề xuất
một số phương pháp hướng dẫn học sinh làm bài dạng đọc hiểu tích hợp viết
đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ trong cấu trúc đề thi THPT Quốc gia, với
mong muốn góp phần rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm bài dạng tích hợp này
để đạt được kết quả cao nhất.
3.1. Bước 1: Trước hết cần hệ thống hóa kiến thức lí thuyết.
Để giúp học sinh hình thành kĩ năng làm dạng bài đọc hiểu tích hợp viết
đoạn văn ngị luận xã hội 200 chữ, giáo viên cần giúp các em ôn tập, củng cố lại
hệ thống những kiến thức cơ bản đóng vai trò làm nền tảng bao gồm: Lí thuyết
đọc hiểu và lí thuyết đoạn văn.
3.1.1. Về lí thuyết đọc hiểu: Giáo viên hướng dẫn học sinh ôn luyện lí
thuyết đọc hiểu thông qua việc cung cấp tài liệu và hướng dẫn cho cac em nắm
được những dạng kiến thức cơ bản như sau:

tưởng, tình cảm của mình với những vấn đề thời sự nóng
hổi của xã hội

4 Phong cách Dùng chủ yếu trong tác phẩm văn chương, không chỉ có
ngôn ngữ nghệ chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ
thuật
của con người; từ ngữ trau chuốt, tinh luyện…
5 Phong cách
ngôn ngữ
hành chính

Dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực giao tiếp điều hành
và quản lí xã hội.

6 Phong cách Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, mang tính tự
ngôn ngữ sinh nhiên, thoải mái và sinh động, ít trau chuốt…trao đổi
hoạt
thông tin, tư tưởng, tình cảm trong giao tiếp với tư cách cá
nhân
3.1.1.2. Các phương thức biểu đạt.
Ở phần lý thuyết về phương thức biểu đạt giáo viên cung cấp cho học sinh
kiến thức lý thuyết về 6 phương thức thường xuất hiện trong văn bản. Chú ý đến
các đặc điểm để nhận diện các phương thức
Lưu ý cho học sinh: trong một văn bản thường xuất hiện nhiều phương
thức như tự sự và miêu tả, thuyết minh và biểu cảm… song sẽ có một phương
phương thức nổi bật. Giáo viên kẻ bảng lý thuyết để học sinh dễ so sánh, nhận
diện tiếp thu kiến thức.
Phương
thức
Tự sự

Trình bày thuộc tính, cấu tạo, nguyên- Thuyết minh sản phẩm
nhân, kết quả có ích hoặc có hại của sự- Giới thiệu di tích, thắng
vật hiện tượng, để người đọc có tri thức cảnh, nhân vật
và có thái độ đúng đắn với chúng.
- Trình bày tri thức và
phương pháp trong khoa
học.

Trình bày ý kiến đánhgiá, bàn luận,- Cáo, hịch, chiếu, biểu.
trình bày tư tưởng, chủ trương quan - Xã luận, bình luận, lời kêu
điểm của con người đối với tự nhiên, xãgọi.
hội, qua các luận điểm, luận cứ và lập
Nghị luận luận thuyết phục.
- Sách lí luận.
- Tranh luận về một vấn đề
trính trị, xã hội, văn hóa.
Hành
chính –
công vụ

Trình bày theo mẫu chung và chịu - Đơn từ
trách nhiệm về pháp lí các ý kiến,- Báo cáo
nguyện vọng của cá nhân, tập thể đối
- Đề nghị
với cơ quan quản lí.

3.1.1.3. Các thao tác lập luận.
Trong một văn bản thường kết hợp nhiều thao tác lập luận, song thường
có một thao tác chính. Vì thế phần này chúng ta cần cung cấp kiến thức lý thuyết
cho học sinh để các em phân biệt được các thao tác trong một văn bản. Để học

mình.

Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiện tượng…
5 Bình luận đúng hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi / hại…; để nhận thức đối
tượng, cách ứng xử phù hợp và có phương châm hành động
đúng.

6 So sánh

So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều
sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ ra
những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị
của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm.
Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là so sánh
tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì gọi là so sánh
tương phản.

3.1.1.4. Các biện pháp tu từ.
Sau khi cung cấp kiến thức lý thuyết để học sinh nhận dạng được các biện
pháp tu từ thường gặp, giáo viên cần nhấn mạnh: Trong đề thi, câu hỏi thường
có dạng, tìm ra biện pháp tu từ và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ ấy.
Chính vì thế các em phải nhớ được hiệu quả nghệ thuật mang tính đặc trưng của
từng biện pháp. Đáp ứng yêu cầu nhớ kiến thức trọng tâm đã cung cấp cho các
em bảng kiến thức sau:
Biện pháp tu

Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật)
8



Thậm xưng Tô đậm, phóng đại về đối tượng
Câu hỏi tu từ Bộc lộ, xoáy sâu cảm xúc (có thể là những băn khoăn, ý khẳng
định…)
Đảo ngữ
Đối

Nhấn mạnh, gây ấn tượng sâu đậm về phần được đảo lên
Tạo sự cân đối, đăng đối hài hòa

Im lặng

Tạo điểm nhấn, gợi sự lắng đọng cảm xúc

Liệt kê

Diễn tả cụ thể, toàn diện nhiều mặt

3.1.1.5. Các phép liên kết.
Các phép liên
kết

Đặc điểm nhận diện

Phép lặp từ ngữ Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu trước
Phép liên tưởng Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ đồng nghĩa/ trái nghĩa
(đồng nghĩa / hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước
trái nghĩa)
Phép thế

Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế các

Muốn xác định được câu chủ đề của đoạn, chúng ta cần xác định xem
đoạn văn đó trình bày theo cách nào. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách diễn
dịch thì câu chủ đề thường ở đầu đoạn.
Nếu là đoạn văn trình bày theo cách quy nạp thì câu chủ đề nằm ở cuối
đoạn. Còn đoạn văn trình bày theo cách móc xích hay sng hành thì câu chủ đề là
câu có tính chất khái quát nhất, khái quát toàn đoạn. Câu đó có thể nằm bất cứ vị
trí nào trong đoạn văn.
3.1.1.8. Xác định nội dung chính của văn bản.
Muốn xác định được nội dung của văn bản giáo viên cần hướng dẫn học sinh
căn cứ vào tiêu đề của văn bản.Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc, câu văn, câu
thơ được nhắc đến nhiều lần. Đây có thể là những từ khóa chứa đựng nội dung
chính của văn bản.
Đối với văn bản là một đoạn, hoặc một vài đoạn, việc cần làm là học sinh
phải xác định được đoạn văn trình bày theo cách nào: diễn dịch, quy nạp, móc
10


xích hay song hành… Xác đinh được kiểu trình bày đoạn văn học sinh sẽ xác
định được câu chủ đề nằm ở vị trí nào. Thường câu chủ đề sẽ là câu nắm giữ nội
dung chính của cả đoạn. Xác định bố cục của đoạn cũng là căn cứ để chúng ta
tìm ra các nội dung chính của đoạn văn bản đó.
3.1.1.9. Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể
trong văn bản.
Phần này trong đề thi thường hỏi anh/ chị hãy chỉ ra một từ ngữ, một hình
ảnh, một câu nào đó có sẵn trong văn bản. Sau khi chỉ ra được có thể lý giải
phân tích vì sao lại như vậy. Vì thế giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh đọc kĩ
đề, khi lý giải phải bám sát vào văn bản. Phần này phụ thuộc nhiều vào khả năng
cảm thụ thơ văn của học sinh.
Trong đề đọc hiểu phần câu hỏi này thường là câu cuối cùng. Sau khi các
em học sinh nghiên cứu, tìm hiểu và trả lời các câu trên, đến câu này là câu có

hình dung được những ý chính cần viết, tránh tình trạng viết lan man dài dòng,
không trọng tâm.
Ví dụ: Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ
ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa
con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên
làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ
mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có
nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?
(Trích “Vợ nhặt”- Kim Lân). [7]
Từ văn bản, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tình mẫu tử.
Hướng dẫn: Đoạn văn cần đảm bảo các ý:
- Dẫn ý bằng chính dòng độc thoại nội tâm xúc động của bà cụ Tứ.
- Tình mẫu tử là gì? Biểu hiện của tình mẫu tử?
- Ý nghĩa của tình mẫu tử?
- Phê phán những đứa con bất hiếu với mẹ và nêu hậu quả.
- Bài học nhận thức và hành động?
3.1.3. Viết đoạn văn theo yêu cầu của đề.
- Trước hết giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách xây dựng câu mở
đoạn:
+ Sau khi tìm được những ý chính cho đoạn văn, chúng ta tiến hành viết
câu mở đầu. Câu mở đầu có nhiệm vụ dẫn dắt vấn đề. Đối với đoạn văn trong đề
đọc hiểu, các em nên dẫn dắt từ nội dung của văn bản được trích dẫn. Đoạn văn
có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cách đơn giản nhất là trình
bày theo kiểu diễn dịch, tức là câu chủ đề nằm ở đầu đoạn. Các câu sau triển
khai ý cho câu mở đầu.
+ Mở đầu có thể dùng 1 đến 3 câu để mở đoạn (giống như phần mở bài
vậy). Phần này phải có cái nhìn tổng quát, khái quát được nội dung mà đề bài
yêu cầu. Phải hiểu được đề bài hướng tới bàn về vấn đề gì?
- Tiếp đến là xây dựng thân đoạn (viết các câu nối tiếp câu mở đầu): Dựa
vào các ý chính vừa ghi trên giấy nháp, chúng ta tiến hành viết đoạn văn. Lưu ý

- Phân tích: Vì sao lại nói như thế?
- Dẫn chứng: Họ đã làm thế nào?
- Bình luận: Vấn đề đúng hay sai,
hay vừa đúng vừa sai
- Bác bỏ: Hiện tượng trái ngược
cần phê phán
Câu kết đoạn
Rút ra bài học: Bản thân và mọi Khoảng 2 đến 4
người cần phải làm gì?
dòng
3.3. Bước 3: Học sinh thực hành viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ
trình bày quan điểm cá nhân về một vấn đề có liên quan đến văn bản phần đọc
hiểu.
- Sau khi hướng dẫn ôn luyện lí thuyết đọc hiểu và đoạn văn giáo viên tiến
hành hướng dẫn học sinh luyện đề thông qua các bài tập, hệ thống câu hỏi.
- Bài tập, câu hỏi đưa ra cần đa dạng, bao quát được nhiều kiến thức, nhiều
lĩnh vực trong đời sống xã hội theo hướng mở với các mức độ nhận biết, thông
hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao.
- Dưới đây là một số đề thi minh họa theo cấu trúc đề thi THPT Quốc gia
môn Ngữ văn mới nhất của Bộ giáo dục và đào tạo năm 2017.
ĐỀ THỰC NGHIỆM
Đề đọc hiểu tích hợp Nghị luận xã hội 200 chữ.
Đề 1.
I.
PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm).
Đọc bài thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

13



Sao mẹ già ở cách xa đến vậy
trái tim âu lo đã giục giã đi tìm
Câu 4: Tình cảm, suy tư nào của nhà thơ được bộc lộ trong đoạn thơ trên
khiến anh, chị đồng cảm sâu sắc nhất?
II. PHẦN LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
14


Từ lối sống vô tình, thản nhiên của người con với mẹ trong văn bản trên,
anh, chị hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ mình về lối sống
thờ ơ vô cảm với những người thân xung quanh mình của giới trẻ trong cuộc
sống hôm nay.
Đáp án :
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Câu 1. Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2. - Chỉ ra biện pháp nhân hóa: thời gian …chạy điên cuồng qua tuổi
mẹ già nua.
- Nêu tác dụng:
+ Thể hiện thời gian trôi qua nhanh chóng
+ Làm nổi bật tâm trạng hoảng hốt của nhà thơ
Câu 3. Điều nhà thơ nhận ra trong những câu thơ là: Khi ta thất bại, vấp
ngã trên đường đời, trong khi nhiều người xung quanh thờ ơ, dửng dưng thì mẹ
dẫu ở cách xa vẫn dõi theo lo lắng.
Câu 4.
- Nêu được một tình cảm suy tư của nhà thơ trong văn bản mà mình đồng
cảm.
- Lí giải vì sao tình cảm suy tư đó lại khiến bản thân đồng cảm sâu sắc.
II. PHẦN LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ về lối sống thờ ơ vô cảm

mời nước, không được giải thích gì thêm. Nhóm thứ hai, trong số hai mươi
người, có mười hai người được “cài cắm” sẵn, khi uống nước tinh khiết phải
nói “nước có vị hơi ngọt”. Sau khi uống nước, hai nhóm thanh niên được hỏi
“nước thế nào?”. Kết quả thật bất ngờ, 100% thanh niên ở nhóm thứ nhất
khẳng định đây là nước tinh khiết, không mùi vị gì. Nhưng nhóm thứ hai, có tới
mười sáu người khẳng định “nước có vị hơi ngọt”, như vậy, ngoài số người
được chỉ định trước phải nói như kịch bản, có tới bốn người nữa cũng khẳng
định “nước ngọt”. Có thể họ cũng nhận ra nước không có vị gì, song thấy người
ta đua nhau nói ngọt, không lẽ mình lại “khác người”, thế là đành a dua, nói
theo số đông để không bị coi là “lạc lõng”. Đó là hiệu ứng của tâm lý đám
đông.
Trong số hàng nghìn thanh niên chen lấn, xô đẩy để vào ăn một món nào
đó, chắc gì tất cả đều thích món ăn đó, song thấy người ta “túm đen túm đỏ”,
nghĩ là có điều gì đó thú vị, nên cũng ùa vào theo. Có hàng nghìn những lời
bình luận (comments) trên mạng sau một bài viết nào đó hay một câu status trên
Facebook của một ai đó, chắc gì tất cả đã đọc bài viết hay hiểu ý nghĩa của câu
status đó, song thấy người ta phê phán, chê bai hay khen ngợi, mình cũng phải
“vào hùa” khen ngợi hay che bai. Không ít người khen, chê dựa vào thái độ của
những người trước đó. Có nhiều trường hợp xảy ra bút chiến giữa các nhóm
thanh niên vì những lời nhận xét khác nhau, đi quá xa so với những gì bài viết
đề cập.
Trong thực tế, khi cần biểu quyết một vấn đề quan trọng nào đó, người ta ít
dùng biện pháp “giơ tay”, bởi trong đám đông (hội trường, hội nghị,…), nhiều
người giơ tay sau khi đã quan sát xem “đa số người ta làm gì thì mình làm thế
…”, chứ thực ra không có chính kiến cá nhân. Hình thức bỏ phiếu kín vẫn đáng
tin cậy hơn biểu quyết giơ tay, vì ít chịu tác động của tâm lý đám đông.
Đứng trong đám đông reo hò, người vốn nhút nhát có thể mạnh dạn hò reo
khản cổ. Đang đi đường, thấy một đám đông làm một việc gì đó, không ít người
ban đầu dừng lại tò mò, sau bị tâm lý đám đông cuốn đi, nhập cuộc luôn, khiến
đám đông trở nên đông hơn. Đi trong biển người hô vang khẩu hiệu yêu nước,

- Hiện tượng nói a dua theo đám đông về “nước ngọt”.
- Bình luận một vấn đề nào đó trêm mạng xã hội facebook.
- Giơ tay biểu quyết trong hội nghị.
- Đi trong biển người hô vang khẩu hiệu yêu nước, ta thấy lòng rạo rực,
lâng lâng cảm xúc, rồi cùng sẽ góp thêm một tiếng hô
- Đi trong dòng người đưa tang đang nức nở, tự nhiên ta thấy sống mũi cay
cay, nước mắt chỉ trực trào ra, dù thật lòng ta chẳng có quan hệ thân thiết gì với
người đã khuất, thậm chí không biết đó là ai.
-> Cần phê phán những hiện tượng tâm lí đám đông được nêu ở trên.
II. PHẦN LÀM VĂN (7.0 điểm).
* Yêu cầu về hình thức:
- Viết đúng một đoạn văn khoảng 200 chữ.
- Trình bày rõ ràng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu
17


* Yêu cầu về nội dung:
- Giải thích cụm từ “tâm lí đám đông”: Tâm lý đám đông là cụm từ hay
được nhắc tới mỗi khi có một đám đông cùng cư xử như nhau.
- Nêu thực trạng: Nhiều bạn chạy theo đám đông thích a dua, nhiều người
cùng tham gia một sự việc nhưng hoàn toàn không có chính kiến, không hiểu
bản chất của sự việc.
- Nêu nguyên nhân: Có thể do các bạn trẻ chưa có kinh nghiệm sống và
kiến thức xã hội về các vấn đề mà các bạn bất ngờ gặp phải. Sự bùng nổ thông
tin như hiện nay, nhất là mạng xã hội cũng góp phần tiếp tay cho các bạn thể
hiện cảm xúc của mình trong tích tắc. Vì vậy, các bạn dễ bị cuốn theo “tâm lý
đám đông”, “hùa theo” những vấn đề nóng của xã hội một cách vô thức
- Hậu quả: Tác hại của lối sống chạy theo đám đông: hình thành thói quen
xấu chỉ biết làm theo người khác, biến con người thành những người thiếu bản
lĩnh, dễ bị lôi kéo, kích động, mất đi cá tính riêng, thiếu tính tiên phong.

12A1
12A2
10C2
10C9

Chưa thực hiện giải pháp
Yếu
35 %
50 %
47 %
52 %

TB
45 %
40 %
38 %
33 %

Khá giỏi
20 %
10 %
15 %
15 %

Khi thực hiện giải pháp
Yếu
20 %
30 %
36 %
35 %

Hàng năm phải có kế hoạch tổng kết để đánh giá hiệu quả thực sự của các
giải pháp sáng kiến kinh nghiệm.
Đối với Sở giáo dục và đào tạo: Hàng năm lựa chọn những giải pháp có
khả năng áp dụng rộng rãi, đem lại hiệu quả thiết thực để giáo viên có điều kiện
học tập, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi rút ra từ thực tế giảng dạy
với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn. Rất mong sự
góp ý từ đồng nghiệp để đề tài đạt được hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

19


XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 21 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.

Nguyễn Thị Thanh

TÀI LIỆU THAM KHẢO
*********
[1]. Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học) - NXB Từ điển Bác Khoa-2010.
[2].Từ điển Giáo dục học - NXB Từ điển Bác Khoa - 2001.
[3]. Phân tích cấu trúc đề thi THPT Quốc gia. Nguồn:http//:Báo giáo dục thờì
đại.
[4],[5]. Sách giáo khoa Ngữ văn 10,11,12 – NXB GD, 2013.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status