Rèn luyện kỹ năng giúp học sinh lớp 12 làm tốt phần đọc hiểu văn bản trong đề thi THPT quốc gia môn ngữ văn - Pdf 44

MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2.Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
2.3. Giải pháp rèn luyện kĩ năng giúp học sinh lớp 12 làm tốt
phần đọc – hiểu văn bản trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn
2.3.1. Dạng biểu hiện và các bước tìm hiểu đề
2.3.2. Cách thức làm bài
2.3.3. Rèn kĩ năng làm các câu hỏi ở mức độ nhận biết
2.3.4. Rèn kĩ năng làm các câu hỏi ở mức độ thông hiểu
2.3.5. Rèn kĩ năng làm các câu hỏi ở mức độ vận dụng thấp
2.3.6. Rèn kĩ năng làm các câu hỏi ở mức độ vận dụng cao
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài SKKN mà tác giả đã được Hội đồng Cấp
phòng GD&ĐT, Cấp Sở GD&ĐT và các cấp cao hơn đánh giá đạt
từ loại C trở lên.

TRANG
2
2

tiến mới trong kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh trong một kì thi chung –
THPT Quốc gia. Đề thi môn Ngữ văn có cấu trúc gồm 2 phần: Phần đọc – hiểu
và phần làm văn. Trong đó, đọc – hiểu là một hướng tiếp cận mới, phù hợp với
xu thế phát triển chung của thế giới. Thực ra việc đọc - hiểu là việc thường làm
trong quá trình học tập môn Ngữ văn, còn cái mới ở đây là mới đưa vào đề thi
thay cho câu hỏi 2 điểm từ trước tới nay. Tuy vậy, phần này trong đề thi vẫn
khiến học sinh gặp không ít lúng túng.
Đọc - hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc của đề thi THPT Quốc
gia. Tuy chiếm phần điểm ít hơn nhưng lại rất quan trọng, bởi nó quyết định
nhiều đến kết quả học tập, quyết định nhiều đến việc chọn lựa trường của học
sinh. Hơn nữa, để đạt được mức điểm 05 trên thang điểm 10 không phải là điều
dễ đối với học sinh trung bình. Có thể nói, phần đọc - hiểu chính là phần giúp
các em "gỡ điểm" cho bài thi của mình. Vì vậy, việc ôn luyện và chuẩn bị ky
càng cho phần này càng trở nên cấp thiết hơn nữa.
Đối với học sinh trường THPT Thọ Xuân 4, đây cũng là phần kiến thức
học sinh có nhiều thiếu sót, thậm chí nhiều kiến thức còn có vẻ "mới mẻ" với
các em.
Tiếp cận và giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường trong bối cảnh hiện
nay, đặc biệt là trong việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá năng lực học
sinh, bản thân tôi nhận thấy việc rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu cho học sinh là
điều hết sức cấp thiết. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng mà người
dạy văn cần để tâm khai thác khi tiếp cận văn bản theo hướng tư duy mở của
cách dạy học hiện đại.
Tuy nhiên, không ít thầy và trò còn hoang mang, chưa thực sự tự tin khi
làm phần bài này. Trong khi đó, nội dung kiến thức để làm dạng đề này lại nằm
rải rác ở chương trình và phụ thuộc rất lớn vào khả năng đọc – hiểu của học
sinh, chưa có một tài liệu chính thống nào cung cấp phương pháp, kĩ năng và
xâu chuỗi vấn đề lại để hướng dẫn học sinh làm dạng bài này một cách có hệ
thống. Nhiều học sinh còn chưa xác định, tổng hợp đầy đủ và chính xác phạm
vi, nội dung, phương pháp ôn tập, vì vậy trả lời còn thiếu ý hoặc sai sót, nhất là

- Mức độ vận dụng thấp: Kĩ năng nêu tác dụng của các biện pháp nghệ
thuật được sử dụng trong văn bản.
- Mức độ vận dụng cao: Kĩ năng bày tỏ quan điểm, thái độ hoặc liên hệ
thực tế đời sống và trình bày trong một đoạn văn ngắn nhưng hoàn chỉnh.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp xây dựng cơ sở lí thuyết: Tìm hiểu, tham khảo các tài liệu
liên quan đến đề tài qua mạng internet, sách giáo khoa, tạp chí văn học…
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Trực tiếp trao
đổi với các đồng nghiệp trong buổi họp tổ chuyên môn. Đồng thời lắng nghe ý
kiến của học sinh phản ánh về thực tế khi làm phần đọc – hiểu văn bản.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Cho học sinh làm bài kiểm tra có
phần đọc – hiểu, từ đó thống kê để nắm được kết quả thực tế trước và sau khi
thực nghiệm.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Khái niệm
3


- Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu
và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và
sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe.[8]
- Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối
tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội
dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái
gì? Như thế nào? Làm thế nào? [8]
- Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích,
khái quát, biện luận đúng - sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và
biểu đạt.
2.1.2. Mục đích

đánh giá năng lực đọc – hiểu của học sinh (tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá
văn bản). Đây cũng là hướng tiếp cận với xu thế chung của thế giới. Năm học
4


2013 – 2014, trong cả kì thi tốt nghiệp THPT và kì thi Đại học, Cao đẳng đã
xuất hiện phần đọc – hiểu trong đề thi môn Ngữ văn. Dạng bài này chiếm 3/10
điểm trong đề thi tốt nghiệp, và đề thi Đại học, Cao đẳng chiếm 2/10 điểm.
Từ năm học 2014 – 2015, Bộ GD và ĐT chính thức công bố phương án tổ
chức một kì thi chung - THPT Quốc gia. Trong đề thi môn Ngữ văn, phần đọc –
hiểu chiếm 3/10 điểm, đó là một bước tiến mới mang tính chất đột phá trong đổi
mới giáo dục.
Là một người trực tiếp giảng dạy ở một trường vùng bán sơn địa, tất cả
các em học sinh ở vùng nông thôn, trình độ hạn chế, khả năng nắm bắt kiến
thức, đặc biệt là kiến thức tiếng Việt, cũng như ky năng xử ly đề chậm. Bản thân
tôi cũng luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của việc rèn ky năng đọc - hiểu văn
bản cho đối tượng học sinh của mình.
Khi chưa dành nhiều thời gian hướng dẫn học sinh rèn luyện năng lực đọc
– hiểu trong giờ dạy học:
- Tiết học trầm, học sinh ít hứng thú tìm hiểu bài, ngại làm bài tập.
- Giáo viên phải làm việc nhiều hơn. Học sinh hoạt động ít hơn, kiến thức
học sinh tự tìm hiểu nhiều chỗ còn sai sót, nhầm lẫn.
Tôi đã tiến hành kiểm tra năng lực đọc – hiểu của học sinh trước khi tiến
hành rèn luyện kĩ năng, kết quả như sau:
Lớp

Số
Điểm 0-4
bài
Số bài %


17

41.46

5

12.2

Từ thực tế kết quả thực nghiệm, sự thay đổi của đề thi cùng những hiểu
biết về thực trạng chung của việc rèn ky năng đọc - hiểu văn bản, với mong
muốn trang bị cho các em những kiến thức cũng như ky năng về phần này một
cách hệ thống, bài bản giúp các em đạt kết quả tốt nhất trong Phần đọc - hiểu
của kỳ thi môn Ngữ văn, tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến: Rèn luyện kĩ năng
giúp học sinh lớp 12 làm tốt phần đọc – hiểu văn bản trong đề thi THPT
Quốc gia môn Ngữ văn.
2.3. Giải pháp rèn luyện kĩ năng giúp học sinh lớp 12 làm tốt phần đọc –
hiểu văn bản trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn
2.3.1. Dạng biểu hiện và các bước tìm hiểu đề
- Dạng biểu hiện của đề:
Đề bài đánh giá năng lực đọc – hiểu của học sinh có cấu trúc gồm 2 phần:
+ Phần 1: Đề đưa ra một văn bản: Văn bản văn học hoặc văn bản nhật
5


dụng, văn xuôi hoặc thơ, có thể là một văn bản hoàn chỉnh hoặc một đoạn trích.
Xu hướng sẽ là một văn bản mới nằm ngoài sách giáo khoa.
+ Phần 2: Đề đưa ra các câu hỏi ở 4 mức độ nhận thức từ thấp đến cao:
Nhận biết – thông hiểu – vận dụng thấp – vận dụng cao.
- Các bước tìm hiểu đề

sự việc, tư tưởng, chủ đề và có ngôi kể thích
hợp.
- Tái hiện trạng thái sự vật, con người.
- Làm cho người đọc, người nghe, người xem
2.
Miêu tả
có thể thấy sự vật, hiện tượng, con người
(Đặc biệt là thế giới nội tâm) như đang hiện
ra trước mắt qua ngôn ngữ miêu tả.
3.
- Bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế
Biểu cảm
giới xung quanh.
4. Nghị luận
- Được dùng để bàn bạc phải/trái, đúng/sai,
nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người
6


5.

6.

Thuyết minh

Hành chính – công vụ

nói, người viết.
- Cung cấp, giới thiệu, giảng giải những tri
thức về đặc điểm, tính chất, phương pháp…

Đặc trưng
- Là ngôn ngữ được dùng trong giao - Tính cụ thể
tiếp sinh hoạt hằng ngày, mang tính tự - Tính cảm xúc
nhiên, thoải mái và sinh động, giàu - Tính cá thể
cảm xúc, ít trau chuốt.
- Mục đích: Dùng để thông tin, trao
Phong cách
đổi ý nghĩ, tình cảm….đáp ứng những
1.
ngôn ngữ
nhu cầu trong cuộc sống.
sinh hoạt
- Nhận biết:
+ Gồm các dạng: Chuyện trò, nhật kí,
thư từ.
+ Ngôn ngữ: Khẩu ngữ, bình dị, suồng
sã, địa phương.
2.
Phong cách - Là ngôn ngữ được dùng trong lĩnh - Tính thông tin
7


vực truyền thông đại chúng của xã hội thời sự
về tất cả những vấn đề thời sự…
- Tính ngắn gọn
- Một số thể loại văn bản báo chí: Bản - Tính sinh động
tin (cấu trúc: Thời gian - Địa điểm - hấp dẫn
ngôn ngữ Sự kiện - Diễn biến - Kết quả); Phóng
báo chí
sự; Tiểu phẩm

Phong cách tập và phổ biến khoa học. Là phong - Tính lí trí, lô
5.
ngôn ngữ cách ngôn ngữ đặc trưng cho các mục gíc
khoa học đích diễn đạt chuyên môn sâu.
- Tính khách
- Mục đích: Dùng để phổ biến khoa quan, phi cá thể.
học, kĩ thuật.
- Là ngôn ngữ được dùng trong giao - Tính khuôn
tiếp thuộc lĩnh vực hành chính: giao mẫu
Phong cách tiếp, điều hành và quản lí xã hội.
- Tính minh xác
6.
ngôn ngữ - Mục đích: giao tiếp giữa nhà nước - Tính công vụ
hành chính với nhân dân, giữa nhân dân với cơ
quan nhà nước, giữa cơ quan với cơ
quan, giữa nước này và nước khác.
- Lưu ý: Một văn bản có thể thuộc nhiều phong cách ngôn ngữ. Học sinh
cần căn cứ vào mục đích để nhận biết và căn cứ vào xuất xứ ghi dưới văn bản và
đặc trưng phong cách ngôn ngữ để lí giải cho chính xác và khoa học.
8


2.3.3.3. Yêu cầu nhận diện các thao tác lập luận trong văn nghị luận
STT Thao tác lập luận
Khái niệm
Mục đích
- Giải thích là vận dụng tri Giúp người đọc
thức để hiểu vấn đề nghị (người nghe) hiểu
luận một cách rõ ràng và nhận định được
1.

4.
So sánh
vật để chỉ ra những nét khác.
giống nhau hay khác nhau,
từ đó thấy được giá trị của
từng sự vật hoặc một sự vật
mà mình quan tâm.
5. Bình luận
Bình luận là bày tỏ thái độ, Giúp người đọc
quan điểm, bàn bạc đánh (người nghe) đánh
giá vấn đề, sự việc, hiện giá hiện tượng (vấn
tượng… đúng hay sai, hay / đề) được chính
dở; tốt / xấu, lợi / hại…; để xác, toàn diện và
nhận thức đối tượng, cách công bằng bằng
ứng xử phù hợp và có những ý kiến chặt
phương châm hành động chẽ, sắc sảo và mới
đúng.
mẻ của riêng mình.
9


- Yêu cầu của việc đánh giá
là sát đối tượng, nhìn nhận
vấn đề toàn diện, khách
quan và phải có lập trường
tư tưởng đúng đắn, rõ ràng.
- Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai
trái của vấn đề trên cơ sở đó
đưa ra nhận định đúng đắn
và bảo vệ ý kiến lập trường

người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền. Họ phải lội qua một
quãng bờ phá nước ngập đến quá đầu gối. Bất giác tôi nghe người đàn ông nói
chõ lên thuyền như quát: "Cứ ngồi nguyên đấy. Động đậy tao giết cả mày đi bây
giờ…
( Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu)
(3) …Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt hình
như ươn ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho.
Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì... Thị Nở thì chỉ nhìn trộm hắn
rồi lại toe toét cười. Trông thị thế mà có duyên. Tình yêu làm cho có duyên. Hắn
thấy vừa vui vừa buồn…
( Trích Chí Phèo, Nam Cao)
Gợi ý: Phương thức trần thuật trong các đoạn văn:
- Đoạn (1): Trần thuật từ ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình.
- Đoạn (2): Trần thuật từ ngôi thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện.
10


- Đoạn (3): Trần thuật từ ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình,
nhưng điểm nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật trong tác phẩm.
2.3.3.5. Yêu cầu nhận diện các phép liên kết hình thức
STT Phép liên kết
Đặc điểm
1.
Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu
Phép lặp từ ngữ
trước.
2.
Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng
Phép thế
thay thế từ ngữ đã có ở câu trước.


Câu cảm thán
Câu nghi vấn
Câu cầu khiến

A! Anh Nam đến.
Anh Nam có đến không?
Anh Nam đến đi!

- Các kiểu câu chia theo cấu tạo, chức năng ngữ pháp
STT
Kiểu câu
Ví dụ
Bạn đọc các thế hệ rất yêu thích giọng
1.
Câu chủ động
văn mê đắm và tài hoa của nhà văn Hoàng
Phủ Ngọc Tường.
Giọng văn mê đắm và tài hoa của nhà
2.
Câu bị động
văn Hoàng Phủ Ngọc Tường được bạn đọc
các thế hệ rất yêu thích.
11


3.
4.
5.
6.

thiện cái việc tự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa(4). Chính trong
quá trình lao động dồn toàn tâm toàn ý bằng sự xúc cảm tràn đầy, có thể nhà thơ
sẽ tạo ra được bản sắc riêng biệt một cách tự nhiên, nhà thơ sẽ biểu hiện được
cái cá biệt của mình trong những giây phút cầm bút”(5)..
Ở đoạn văn trên : Câu 1 là câu mở đoạn, mang ý chính của đoạn gọi là câu
chủ đề.
2.3.3.8. Yêu cầu nhận diện những lỗi thường gặp trong văn bản
- Lỗi chính tả: Lỗi không phân biệt các âm tiết l/n, ch/tr, ng/ngh...; lỗi
viết hoa; phiên âm tiếng nước ngoài...
- Lỗi dùng từ: Dùng từ không đúng nghĩa, không hợp với tình huống
giao tiếp, hoặc không phù hợp sắc thái biểu cảm.
Ví dụ: Đất nước ta ngày càng sáng sủa.
- Lỗi ngữ pháp: Viết thiếu thành phần câu, hoặc không phân biệt được
các thành phần câu.
Ví dụ: Qua bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu đã thể hiện tính dân tộc đậm đà.
- Lỗi logíc: Chẳng hạn: Anh ấy bị hai vết thương, một vết ở tay trái, còn
một vết ở Quảng Trị.
12


- Lỗi phong cách: Sử dụng những từ ngữ không phù hợp với từng phong
cách. Ví dụ: Dùng ngôn ngữ sinh hoạt trong văn bản nghệ thuật...
2.3.4. Rèn kĩ năng làm các câu hỏi ở mức độ thông hiểu
- Dạng biểu hiện của đề: Thường là câu hỏi yêu cầu nêu nội dung chính,
xác định ý nghĩa của văn bản, của một câu, một đoạn nào đó trong văn bản.
Ví dụ: Trong phần Đọc – hiểu của đề tham khảo (đề minh họa lần 3, công
bố ngày 14 tháng 05 năm 2017) của Bộ GD và ĐT, xuất hiện 2 câu ở mức độ
thông hiểu. (Câu 2: Theo tác giả, chúng ta sẽ có lợi ích gì khi “nhận thức được
rằng vẫn còn nhiều điều có thể học”? Câu 3: Tại sao tác giả cho rằng “Biết đâu,
trong một lần tò mò hay thắc mắc như vậy, bạn sẽ tìm ra được niềm đam mê cho

ngữ, những hình ảnh, những câu văn được sử dụng lặp lại nhiều lần. Đây có thể
coi là những từ khóa chứa đựng nội dung chính của văn bản.
13


Đối với những văn bản là một hoặc một vài đoạn văn, việc cần làm là học
sinh phải xác định được đoạn văn được trình bày theo cách nào: diễn dịch, quy
nạp, song hành, móc xích, hay tổng - phân - hợp..... Việc này giúp học sinh dễ
dàng xác định câu chủ đề của đoạn văn nằm ở vị trí nào, đâu là câu nắm giữ nội
dung của cả đoạn.
Đọc là tìm ra ý nghĩa trong một thông điệp được tổ chức bằng một hệ
thống ký hiệu. Nhưng để tìm ra ý nghĩa của văn bản lại là một vấn đề. Ở đây cần
phân biệt nghĩa và y nghĩa. Nghĩa là quan hệ văn bản với cái mà nó biểu đạt,
còn y nghĩa là quan hệ văn bản với người tiếp nhận. Người đọc trước hết phải
hiểu nghĩa rồi mới phát hiện ra y nghĩa của văn bản. Ý nghĩa của văn bản có thể
xét trong ba quan hệ: ý nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm; ý nghĩa vốn có trong
văn bản, tương quan với một hiện thực nào đó; ý nghĩa do mối quan hệ của
người đọc đặt vào văn bản. Từ việc hiểu nghĩa cũng như y nghĩa của văn bản,
học sinh sẽ lý giải được mối quan hệ của những sự việc; chi tiết; hành động, lời
nói của nhân vật... trong văn bản.
Nhan đề (còn gọi là đầu đề) là cái tên chung của một văn bản, một tác
phẩm. Nó như gương mặt của một con người, là cái nổi bật nhất để phân biệt tác
phẩm này với tác phẩm khác. Để đặt được một nhan đề cho một văn bản sao cho
đúng, cho hay không phải là dễ. Nhan đề phải khái quát ở mức cao về nội dung
tư tưởng của văn bản, của tác phẩm, phải nói cái cô đọng, cái thần, cái hồn của
văn bản, của tác phẩm. Chính vì vậy, học sinh chỉ có thể đặt được nhan đề cho
văn bản khi hiều nghĩa, y nghĩa của văn bản. Nhan đề của văn bản có thể là
những từ ngữ được lặp lại nhiều lần.
+ Bám sát vào văn bản trong phần Đọc – hiểu để tìm câu trả lời
- Ví dụ: Văn bản Tìm kiếm niềm đam mê trong đề tham khảo (đề minh

các phép tu từ đó?
Ta chú ý hai chỗ gạch chân sẽ thấy hai câu hỏi khác nhau. Các biện pháp
tu từ thì được phép trả lời từ 2 trở lên, nhưg đã là biện pháp tu từ chính thì chỉ
được chọn 1 mà thôi.
- Lưu ý 2: Khi trả lời thì cần lưu ý: Đề yêu cầu chỉ ra biện pháp tu từ. Thì
phải chỉ ra bằng cách: gọi tên phép tu từ ấy và chỉ ra nó nằm ở hình ảnh, câu
văn, từ ngữ nào.
Ví dụ: Chỉ ra các biện pháp tu từ trong đoạn trích trên và nêu hiệu quả của
các phép tu từ trong đoạn trích sau:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
(Đất nước - Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 12)
Trả lời:
+ Đoạn thơ trên sử dụng phép điệp: điệp từ (của, những, nước, chúng
ta,...); điệp ngữ (đây là của chúng ta); điệp cấu trúc cú pháp (Trời xanh đây là
của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta; Những cánh đồng…/ Những ngả
đường…/ Những dòng sông…).
+ Hiệu quả nghệ thuật: góp phần tạo nên nhịp thơ dồn dập, âm hưởng hào
hùng, giọng điệu hùng biện; tạo sự xuất hiện liên tiếp của hình ảnh, mở ra bức
tranh toàn cảnh một giang sơn giàu đẹp; khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ và
bộc lộ mãnh liệt niềm tự hào của tác giả.
- Lưu ý 3: Trong trường hợp mà câu hỏi yêu cầu chỉ ra một số phép tu từ
thì bạn lần lượt chỉ ra các phép tu từ đó, sau đó mới nêu tác dụng cho tất cả các

2.3.6. Rèn kĩ năng làm các câu hỏi ở mức độ vận dụng cao
- Dạng biểu hiện của đề: Thường là câu hỏi yêu cầu rút ra bài học, ý
nghĩa, thông điệp từ văn bản. Hoặc bày tỏ quan điểm, thái độ liên hệ thực tế đời
sống.
- Cách làm: Trong 4 câu hỏi đọc hiểu thì có 1 câu thuộc mức độ vận dụng
cao. Tuy nhiên trên 60% học sinh viết câu này đều bị mất điểm. Chủ yếu các em
viết cho đủ số câu chứ không mấy học sinh viết cho đúng yêu cầu. Có khi viết
đúng yêu cầu vẫn không đạt được điểm tuyệt đối.
- Một số kinh nghiệm sau đây sẽ giúp các em khắc phục được điều đó:
+ Một là viết đúng trọng tâm yêu cầu của đề, tránh lan man, dài dòng.
Nên trình bày được 2 bài học, thông điệp từ văn bản. Nắm được từ chìa khóa
của đề bài.Các câu sau đó phải tuyệt đối đúng - trúng vào nội dung.
+ Hai là lí giải được vì sao vấn đề đó lại có ý nghĩa quan trọng (xác định
được tác dụng của vấn đề)
+ Ba là nên trả lời bằng một đoạn văn không quá 10 dòng.
Ví dụ, trong đoạn văn bản nào đó có nội dung về người mẹ. Sẽ có một câu
hỏi: anh/chị hãy nói lên những suy nghĩ của anh/chị về đức hi sinh của Mẹ. Từ
khóa của câu hỏi là "đức hi sinh"- đây cũng chính là trọng tâm của đoạn văn.
Lưu ý: câu mở đoạn phải có từ khóa. Câu kết phải rút ra bài học hoặc chiêm
nghiệm triết lý.
16


Ta có đoạn văn như sau:
Có ai đó đã nói rằng, nếu trong gia đình ấy có những đứa con thành đạt thì
chắc chắn ở đó có một người mẹ giàu đức hi sinh. Vâng! Mẹ là người đã dành
hết cả đời mình vì tương lai của con. Mẹ có thể nhịn đói cho ta no, nhịn mặc cho
ta có tấm áo đẹp. Mẹ là người có thể cho ta cả đôi mắt, quả tim, trái thận... chỉ
mong sao cho con mình lành lặn. Khi ta khổ đau, bờ vai mẹ là bến bờ cho ta
quay về. Người đời có thể bỏ rơi ta nhưng mẹ thì không bỏ con bao giờ. Bởi thế

kiểm tra 1tiết. Kết quả kiểm tra các đợt tính trung bình như sau:
Số

Điểm 0-4

Điểm 5-6

Điểm 7-10
17


Lớp

bài

Số bài %

Số bài

%

Số bài

%

12A1

42

5

cao hơn, học sinh thực sự hứng thú trong học tập, tự tin và nhanh chóng trong
làm bài, từ đó đạt kết quả cao trong các kì thi. Với những suy nghĩ trên và bằng
thể nghiệm của chính mình đã giúp tôi những kết quả nhất định.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Kỳ thi THPT Quốc gia là kỳ thi có bước đột phá trong nội dung kiểm tra,
đánh giá. Đề thi theo hướng đánh giá năng lực người học, tăng mức yêu cầu vận
dụng kiến thức, câu hỏi mở. Như vậy, phát huy ky năng cho học sinh là điều cần
thiết. Chính vì vậy, cùng với các môn học khác, đề tài sẽ góp phần định hướng
tư tưởng cho học sinh trong việc phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập.
Không chỉ vậy, đây còn là kỳ thi có bước đột phá trong hình thức xét
tuyển. Thí sinh được xét công nhận tốt nghiệp phải thi 3 môn bắt buộc, gồm:
Toán, Văn, Ngoại ngữ và một môn tự chọn. Kết quả thi 4 môn này cũng được sử
dụng để xét tuyển vào Đại học, Cao đẳng. Từ trước, có thể nói, môn Ngữ văn là
môn được đánh giá là có khả năng cứu điểm cho các em nhiều nhất, có khả năng
cải thiện được tổng điểm của các em. Nhưng căn cứ vào đề thi năm học 2015 2016 cũng như sự chỉ đạo của các cấptrong việc đổi mới trong kỳ thi năm nay
đảm bảo các học sinh đã học thì phải có chất lượng, kết quả học tập trung thực
để làm căn cứ xét tuyển Đại học, Cao đẳng hay chỉ là tốt nghiệp THPT thì ưu
điểm đó của môn Ngữ văn lại càng mang trọng trách nhiều hơn nữa.
Theo cấu trúc đề thi, để đạt được mức điểm 05 trên thang điểm 10 không
phải là điều dễ đối với học sinh trung bình. Có thể nói, phần đọc - hiểu chính là
phần giúp các em "gỡ điểm" cho bài thi của mình. Điều này quyết định lớn đến
chất lượng không chỉ của bài thi môn Ngữ văn mà cả tổng điểm của cả kỳ thi
quốc gia THPT, ảnh hưởng đến việc xét tuyển của học sinh. Vì vậy, giải pháp
đưa ra được nâng tầm quan trọng hơn nữa.
Trong thực tế chất lượng học tập của học sinh trường THPT Thọ Xuân 4,
trước yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá, sáng kiến kinh nghiệm này góp phần
tổng hợp kiến thức để giáo viên rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu cho học sinh.
3.2. Kiến nghị
18


Phạm Văn Thiện

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
19


1. Sách Ngữ văn 10, 11, 12 (cơ bản và nâng cao) Nxb. Giáo dục, 2009
2. Sách giáo viên Ngữ văn 10, 11, 12 (cơ bản và nâng cao) , Nxb. Giáo dục,
2009
3. Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ, Nguyễn Văn Hạnh , Nxb. Giáo dục
4. Giáo trình “ Tiếp nhận văn học”, Phương Lựu (chủ biên) , NXBGD, 2007
5. Phương pháp dạy học văn, GS Phan Trọng Luận (chủ biên). NXB Giáo dục
1995
6. Tạp chí văn học và tuổi trẻ, NXB Giáo dục
7. Thông tin khoa học, Trường ĐH Hồng Đức
8. Từ điển Văn học, NXB ĐH và THCN 1995
9. Giáo trình "Lý luận văn học", Hà Minh Đức (Chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà
Nội (TB 2005)
10. Một số bài báo cáo chuyên đề của các đồng nghiệp và một số tư liệu tham
khảo từ nguồn Internet.

DANH MỤC
20


CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phạm Văn Thiện


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status