1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
UNESCO đã đề xướng mục tiêu học tập: “Học để biết, học để làm, học để
chung sống, học để tự khẳng định mình”. Trường học chúng ta hiện đang nặng
về học để biết, nghĩa là chỉ đạt được một trong bốn mục tiêu của UNESCO.
Trước đây, nhà trường là nơi duy nhất để ta tiếp nhận kiến thức. Ngày nay, thế
giới càng trở nên phẳng hơn nhờ sách vở, internet và các phương tiện truyền
thông làm cho mọi người đều có thể tiếp cận thông tin, dữ liệu một cách bình
đẳng, mọi lúc, mọi nơi. Như vậy, để tiếp nhận kiến thức không phải là quá khó
khăn trong thời đại ngày nay mà quan trọng là biến kiến thức đó thành kĩ năng,
nói như M.A. Đanhilop: “kĩ năng chính là kiến thức trong hành động”. Từ biết,
đến hiểu, đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách rất
lớn không phải ai cũng thực hiện được, cần có những bứt phá chuyển thói
quen thành kĩ năng. [10 ]
Theo quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ kì thi THPT Quốc gia
nảm 2017, các môn Toán, Lịch sử, Địa lí chuyển sang hình thức trắc nghiệm
(các môn Vật lí, Hóa, Sinh vật, Ngoại ngữ đã thi theo hình thức này từ trước).
Như vậy, chỉ còn môn Ngữ văn thi theo hình thức tự luận, về cơ bản, thì cấu trúc
đề thi môn Ngữ văn vẫn như trước song dung lượng, mức độ yêu cầu có khác để
phù hợp với thời lượng làm bài chỉ 120 phút (lâu nay 180 phút).
Có thể thấy mấy thay đổi rõ của đề thi để phù hợp với thời gian làm bài
120 phút. Đó là số lượng văn bản và câu hỏi ở phần đọc hiểu sẽ ít hơn; đó là
giảm quy mô của phần làm văn. Trước đây, phần nghị luận xã hội yêu cầu viết
một bài vản ngắn, hoàn chỉnh về một tư tưởng, đạo lí hoặc về một hiện tượng,
vấn đề xã hội (khoảng 600 chữ) tách biệt với văn bản đọc hiểu trước đó. Từ kì
thi năm 2017, phần này chỉ yêu cầu viết đoạn văn và nội dung gắn với một vấn
đề từ văn bản đọc hiểu. Vì thế, đáp án phân bố cho câu này chỉ 2 điểm (thay vì
trước đây 3 điểm). Phần viết bài văn nghị luận văn học từ 4 điểm nay tăng lên 5
điểm nhưng nội dung vấn đề cũng không thể nhiều hơn vì tổng thời lượng làm
bài chỉ còn 2/3 so với trước.
Qua đề minh họa kì thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn từ năm 2017 đến
Qua đó, học sinh sẽ được trang bị những kiến thức cũng như kĩ năng cơ
bản nhất giúp các em tự tin, có kĩ năng làm bài phần đọc hiểu và viết đoạn văn
nghị luận xã hội để đạt kết quả tốt nhất trong kỳ thi THPT Quốc gia.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này hướng tới học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 12 nói
riêng. Cụ thể, đối tượng học sinh mà tôi tiến hành rèn luyện là những học sinh
do bản thân trực tiếp giảng dạy, bao gồm 2 lớp : lớp 12 C6- 42 học sinh; lớp
12C2- 41 học sinh
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Nghiên cứu lí thuyết
2
Bước đầu dạy cho học sinh những đơn vị kiến thức lí thuyết cơ bản: lí
thuyết đọc hiểu, lí thuyết về đoạn văn. Qua đó giúp học sinh tìm hiểu cách thức
viết đoạn văn từ nội dung, chủ đề phần đọc hiểu, từ đó hình thành kĩ năng viết
được một đoạn văn hoàn chỉnh, đúng chủ đề, nội dung, đảm bảo về hình thức
theo yêu cầu.
1.4.2. Phương pháp thực nghiệm
Đây là bước học sinh được trải nghiệm thực hành, rèn kỹ năng làm bài
phần đọc hiểu tích hợp viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ, với phương pháp
này giúp các em vận dụng kiến thức lí thuyết được học để làm bài, pháy huy
năng lực tư duy trong hoạt động thực tiễn.
1.4.3. Các phương pháp khác
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương
lĩnh cái mới một cách dễ dàng, hiệu quả và hứng thú. Do đó, rèn kĩ năng tích
hợp kiến thức đọc hiểu và nghị luận xã hội trên cùng một văn bản trong quá
trình làm bài thi THPT Quốc gia là yêu cầu cần thiết.
Như chúng ta đã biết, đối với phân môn làm văn, mục tiêu dạy học không
chỉ dừng lại ở việc cung cấp tri thức mà còn hướng tới hình thành kĩ năng cho
học sinh, có nhiều kĩ năng cần thiết và một trong những kĩ năng quan trọng nhất
đó là kĩ năng thực hành thông qua các dạng đề bài. Học sinh phải biết xác định
đúng trọng tâm yêu cầu, thực hiện đầy đủ các thao tác cần thiết, và phải có tri
thức sâu rộng để áp dụng làm bài. Đặc biệt với nội dung tích hợp mới nhất trong
cấu trúc đề thi THPT Quốc gia hiện nay đòi hỏi học sinh phải sớm thay đổi cách
học sao cho phù hợp. [ 7 ]
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích,
khái quát, biện luận đúng sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và
biểu đạt.Tích hợp phần đọc hiểu và nghị luận xã hội trong đề thi THPT Quốc gia
là điểm mới, phát huy khả năng tổng hợp kiến thức và sự sáng tạo của học sinh,
từ đó đánh giá đúng năng lực của người học, văn bản đọc hiểu và vấn đề nghị
luận xã hội cần bàn luận không nằm trong sách giáo khoa, nên học sinh không
cần học thuộc mà vẫn có thể vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học để áp dụng
làm bài. Vì thế khi làm dạng bài tich hợp này học sinh cần có thái độ tích cực,
chủ động. Đây là năng lực cần thiết để thâm nhập vào văn bản, từ đó khám phá,
chinh phục nội dung đạt hiệu quả ở mức độ cao nhất.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng môn Ngữ văn, cấu trúc
đề thi THPT Quốc gia năm 2017, 2018 đã có những bổ sung, điều chỉnh về hình
thức cũng như thời gian làm bài, tổng điểm qua từng phần. Đặc biệt điểm mới
4
nhất là tích hợp nội dung phần đọc hiểu và viết đoạn văn nghị luận xã hội 200
đó ảnh hưởng đến chất lượng kết quả bài thi của các em.
Thực tế hiện nay, dạng đề tích hợp kiến thức đọc hiểu và viết đoạn văn
nghị luận xã hội 200 chữ của môn Ngữ văn được các em học sinh THPT nói
chung và học sinh lớp 12 nói riêng đặc biệt quan tâm, mong muốn được thầy cô
5
củng cố, hướng dẫn để chuẩn bị cho bài thi THPT Quốc gia. Mặt khác kĩ năng
làm dạng bài này cũng góp phần tích lũy kinh nghiệm cho giáo viên trực tiếp ôn
thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn
Ngữ văn lớp 12, tôi nhận thấy nếu giáo viên không tập trung rèn luyện kĩ năng
tich hợp đọc hiểu với viết đoạn văn nghị luận xã hội trong đề thi THPT Quốc gia
môn Ngữ văn thì tiết học sẽ trầm, học sinh ít hững thú tìm hiểu, ngại làm bài tập,
giáo viên phải làm việc nhiều hơn, kiến thức học sinh tự tìm hiểu nhiều chỗ còn
sai sót, nhầm lẫn. Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã tiến hành kiểm tra kĩ năng tích
hợp nội dung phần đọc hiểu và viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ trên cùng
một văn bản trong đề thi THPT Quốc gia. Kết quả như sau:
Lớp Số bài
Điểm 0- 4
Điểm 5- 6
Điểm 7-10
Số bài
%
Số bài
%
Số bài
%
12 C6 42
25
59.52
sinh kĩ năng làm bài dạng tích hợp này để đạt được kết quả cao nhất.
Bước 1:Trước hết cần hệ thống hóa kiến thức lý thuyết
6
Để giúp học sinh hình thành kĩ năng làm dạng bài đọc hiểu tích hợp viết
đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ, giáo viên cần giúp các em ôn tập, củng cố,
hệ thống lại những kiến thức cơ bản đóng vai trò làm nền tảng bao gồm: lý
thuyết đọc hiểu và lý thuyết đoạn văn.
2.3.1. Về lý thuyết đọc hiểu:
Bước 1: Giáo viên cần giới hạn phạm vi và yêu cầu của phần đọc – hiểu.
Thứ nhất, phạm vi của phần đọc hiểu là:
-Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật):
+ Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các văn bản đọc thêm)
+ Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bản được học
trong chương trình).
- Văn bản nhật dụng (Loại văn bản có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc
sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: Vấn dề
chủ quyền biển đảo, thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em,
ma tuý, ... Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu
văn bản song có thể nghiêng nhiều về loại văn bản nghị luận và văn bản báo
chí).
Bước 2: Yêu cầu cơ bản của phần đọc – hiểu
Giáo viên hướng dẫn học sinh ôn luyện lý thuyết đọc hiểu thông qua việc
cung cấp tài liệu và hướng dẫn cho các em năm được những dạng kiến thức cơ
bản bằng bảng biểu hoặc sơ đồ tư duy như sau:
2.3.1. Nhận diện phong cách ngôn ngữ
Sau khi cung cấp lý thuyết về các loại phong cách ngôn ngữ, giáo viên cần
nhấn mạnh lại đặc điểm nhận diện của các loại phong cách để học sinh dễ phân
6 Phong cách
hành chính
ngôn
ngữ
= thu thập và biên tập tin tức để cung cấp
cho các nơi)
Dùng trong lĩnh vực chính trị - xã hội, ;
người giao tiếp thường bày tỏ chính kiến,
bộc lộ công khai quan điểm tư tưởng, tình
cảm của mình với những vấn đề thời sự
nóng hổi của xã hội
-Dùng chủ yếu trong tác phẩm văn
chương, không chỉ có chức năng thông tin
mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của
con người; từ ngữ trau chuốt, tinh luyện…
Dùng trong những văn bản thuộc lĩnh vực
nghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học,
đặc trưng cho các mục đích diễn đạt
chuyên môn sâu
-Dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực
giao tiếp điều hành và quản lí xã hội
( giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân,
Nhân dân với các cơ quan Nhà nước, giữa
cơ quan với cơ quan…)
Sơ đồ tư duy: [10 ]
2.3.3. Nhận diện các biện pháp tu từ:
Sau khi cung cấp lý thuyết để học sinh nhận dạng được các biện pháp tu từ
thường gặp, giáo viên cần nhấn mạnh: trong đề thi, câu hỏi thường có dạng: chỉ
ra biện pháp tu từ và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ ấy. Chính vì thế các
em phải nhớ được hiệu quả nghệ thuật mang tính đặc trưng của từng biện pháp
tu từ. Đáp ứng yêu cầu nhớ kiến thức trọng tâm, giáo viên có thể cung cấp cho
các em bảng kiến thức sau:
9
- Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh,… (tạo âm hưởng và nhịp điệu
cho câu)
- Tu từ về từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tương phản, chơi
chữ, nói giảm, nói tránh, thậm xưng,…
- Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối,
im lặng,… [ 6 ]
Biện pháp tu từ
So sánh
Ẩn dụ
Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật)
Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể
tác động đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm
xúc
Cách diễn đạt mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị
biểu đạt cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc.
Nhân hóa
một thao tác chính. Vì thế phần này chúng ta cần cung cấp kiến thức lý
thuyết cho học sinh để các em phân biệt được các thao tác trong một văn
bản. Để học sinh dễ năm bắt kiến thức, giáo viên có thể kẻ thành bảng kiến
thức hoặc dùng sơ đồ tư duy và sau bảng kiến thức là bài tập minh họa.
TT Các thao Nhận diện
tác
lập
luận
1
Giải thích Giải thích là vận dụng tri thức để hiểu vấn đề nghị luận
một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý của
mình.
2
Phân tích
Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành
nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội
dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng.
3
Chứng
Chứng minh là đưa ra những cứ liệu - dẫn chứng xác
minh
đáng để làm sáng tỏ một lí lẽ một ý kiến để thuyết phục
người đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề. ( Đưa lí lẽ
trước - Chọn dẫn chứng và đưa dẫn chứng. Cần thiết
phải phân tích dẫn chứng để lập luận CM thuyết phục
hơn. Đôi khi thuyết minh trước rồi trích dẫn chứng sau.)
11
4
- Lời trực tiếp: Trần thuật từ ngôi thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện (Tôi)
- Lời kể gián tiếp: Trần thuật từ ngôi thứ ba – người kể chuyện dấu mặt.
-Lời kể nửa trực tiếp: Trần thuật từ ngôi thứ ba – người kể chuyện tự giấu mình
nhưng điểm nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật trong tác phẩm.
2.3.6. Nhận diện các phép liên kết ( liên kết các câu trong văn bản) [6 ]
Các phép liên kết
Phép lặp từ ngữ
Đặc điểm nhận diện
Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu
12
trước
Phép liên tưởng Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ đồng nghĩa/
(đồng nghĩa / trái trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã
nghĩa)
có ở câu trước
Phép thế
Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay
thế các từ ngữ đã có ở câu trước
Phép nối
Sử dụng ở câu sau các từ ngữ biểu thị quan hệ (nối
kết)với câu trước
2.3.2. Lý thuyết về đoạn văn.
Đoạn văn là một phần của văn bản, nó diễn đạt ý hoàn chỉnh ở một mức độ
nào đó logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng. Tuy
nhiên, đoạn văn Nghị luận xã hội 200 chữ cần bám sát yêu cầu của đề và dựa
trên nội dung/ thông điệp ở phần đọc hiểu.
Một đoạn văn được bắt đầu từ chữ cái viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm
AIDS, những tiêu cực trong thi cử, nạn bạo hành trong gia đình trong học
đường, phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận động giúp đỡ đồng bào
hoạn nạn, những tấm gương người tốt việc tốt, hiện tượng lãng phí, lối sống thờ
ơ vô cảm, hiện tượng chạy theo thời thượng, thói dối trá…
Kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ:
* Tạo lập và xây dựng đoạn văn nghị luận:
– Hình thức: Đoạn văn là tập hợp của nhiều câu văn.Bắt đầu bằng chữ viết hoa
đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấm. Không được phép xuống dòng.
Các câu được liên kết với nhau bằng phép nối, phép thế, phép lặp,…Có câu mở,
các câu triển khai và câu kết rõ ràng.
– Nội dung: Các câu đều tập trung thể hiện vấn đề nghị luận, hệ thống luận
điểm, luận cứ rõ ràng, chặt chẽ, có sức thuyết phục.
– Kết cấu: Thường được kết cấu theo cách tổng – phân – hợp, diễn dịch và quy
nạp.
* Kĩ năng phân tích, đánh giá, nhận định:
– Huy động các kiến thức xã hội để bày tỏ quan điểm, thái độ, nhận định riêng
của mình trước vấn đề nghị luận.
– Có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn
cứ xác đáng, được tự do bày tỏ quan điểm của mình nhưng phải có thái độ chân
thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và luật pháp quốc tế.
* Tìm hiểu đề:
– Xác định dạng đề chính xác: Đề là nghị luận về tư tưởng, về hiện tượng đời
sống hay vấn đề từ tác phẩm?
– Xác định đối tượng, phạm vi nghị luận
– Xác định thao tác lập luận
* Lập dàn ý: Dàn ý tham khảo dạng đề
Nghị luận về tư tưởng, đạo lý: [ 5].
– Câu mở đoạn: Giới thiệu khái quát tư tưởng đạo lý
14
chung chung, mơ hồ mới tạo được sức thuyết phục.
+ Phân tích những nguyên nhân – tác hại của hiện tượng đời sống đã nêu ở trên.
Nguyên nhân: Khách quan và chủ quan
+ Bình luận về hiện tượng ( tốt/ xấu, đúng /sai…)
+Đề xuất những giải pháp: Cần dựa vào nguyên nhân để tìm ra những giải pháp
khắc phục.
– Kết đoạn: Khẳng định chung về hiện tượng đời sống đã bàn luận
• Viết đoạn dựa vào dàn ý.
15
• Kiểm tra lại bài viết của mình ( lỗi chính tả, diễn đạt, hình thức…)
Lưu ý: Với thiết kế đề thi như hiện nay, nếu suy nghĩ và trả lời sâu, chắc ở phần
đọc hiểu, các em sẽ rất thuận lợi khi triển khai vấn đề ở câu nghị luận xã hội.
Bởi vấn đề nghị luận không thể đi chệch khỏi nội dung tư tưởng quan trọng bao
trùm nhất từ văn bản đọc hiểu. Nội dung trả lời câu hỏi do đó sẽ liên quan gần
như trực tiếp tới đoạn văn nghị luận xã hội. Tuy nhiên,các em cần lưu ý phương
pháp làm bài:
– Tránh kể lể, nhắc lại những chi tiết trong ngữ liệu đọc hiểu hoặc chép lại phần
đọc hiểu “lắp ghép” vụng về vào đoạn nghị luận xã hội.
– Với dung lượng khoảng 200 chữ, quỹ điểm là 2 và vấn đề nghị luận đã được
khai thác sâu kỹ ở phần đọc hiểu, đoạn viết nghị luận xã hội nên dành thời gian
nhiều nhất là 20-25 phút, tránh lan man dài dòng ở câu hỏi này, làm ảnh hưởng
tới quỹ thời gian cho câu nghị luận văn học có quỹ điểm nhiều nhất trong đề.
– Khi viết đoạn văn 200 chữ, cần chú ý trình bày đúng quy tắc một đoạn văn là
không ngắt xuống dòng.
– Dung lượng an toàn của một đoạn là 2/3 tờ giấy thi, tương đương khoảng 20
dòng viết tay.
– Nên linh hoạt lựa chọn hình thức đoạn văn phù hợp, có thể là diễn giải, quy
nạp, tổng phân hợp… Tuy nhiên, nên ưu tiên sự lựa chọn hình thức tổng phân
Câu 3 Hãy nêu cách hiểu của anh/ chị về một lí lẽ được nêu trong đoạn trích
trên.
Câu 4 Anh/ Chị có đồng tình với quan điểm “tiền bạc không phải là vạn năng”
không? Vì sao?
Phần II: Làm văn (7 điểm )
Câu 1 (2 điểm):
Từ nội dung của đoạn trích trên, anh/ chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200
chữ) trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề: Nếu không có tiền…
Đáp án:
Phần I: Đọc- hiểu (3 điểm)
Câu 1: Đoạn trích trên sử dụng thao tác lập luận bác bỏ ( 0,5 điểm)
Câu 2: Thao tác lập luận bác bỏ được tác giả sử dụng để bác bỏ quan niệm “có
tiền là có tất cả”. Đây là quan niệm của nhiều người nhưng không phải lúc nào
quan niệm đó cũng đúng. Tiền bạc có thể mua được những giá trị vật chất
nhưng không mua được những giá trị tinh thần. ( 0,5 điểm)
Câu 3: Học sinh có thể chọn một lí lẽ được nêu trong đoạn trích và nêu lên cách
hiểu của mình. Chẳng hạn, với lí lẽ tiền bạc “có thể mua được chiếu giường,
nhưng không mua được giấc ngủ”, “chiếu giường” là vật dụng ( vật chất) để
người ta nằm ngủ và người ta có thể dùng tiền để mua, nhưng “giấc ngủ” thì
không dùng tiền để mua, bởi nhiều người mặc dù có, “chiếu giường” đầy đủ,
sang trọng nhưng vẫn ” mất ngủ” vì buồn phiền, lo lắng, mệt mỏi( tinh thần).
(1,0 điểm)
Câu 4: Học sinh có thể đồng tình hoặc phản đối ( hoặc vừa đồng tình vừa phản
đối ) quan niệm “tiền bạc không phải là vạn năng”. (1,0 điểm)
– Nếu đồng tình: Tiền bạc có thể mua được các giá trị về vật chất nhưng không
mua được các giá trị tinh thần.
17
– Nếu phản đối: Nếu không có tiền thì ngay cả những nhu cầu vật chất tối thiểu
của ý kiến đối với xã hội hiện nay, đối với cá nhân mình.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
18
Trong đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay, việc rèn kĩ năng đọc
hiểu văn bản tích hợp với viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh nói chung
và học sinh lớp 12 nói riêng là một khâu hết sức quan trọng cần được quan tâm
đúng mức. Việc rèn luyện kĩ năng tích hợp nội dung phần đọc hiểu và viết đoạn
văn nghị luận xã hội 200 chữ trên cùng một văn bản trong đề thi THPT Quốc
gia nhằm giúp học sinh phát triển bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết đã được đặt
ra trong mục tiêu môn học Ngữ văn hiện nay.
Sau một thời gian ôn luyện cho học sinh lớp 12 trong năm học 2018-2019
với việc hướng dẫn học sinh kĩ năng làm bài tích hợp nội dung phần đọc hiểu
và viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ trên cùng một văn bản trong đề thi
THPT Quốc gia ở hai lớp 12 tại trường THPT Lam Kinh, kết quả sau một năm
ôn tập thì số bài điểm kếm đã giảm đáng kể, số bài điểm khá giỏi tăng cao:
Lớp
Số bài
12 C6 42
12 C2 41
Điểm 0- 4
Số bài
%
02
4,76
- Luyện một số đề tích hợp hai nội dung đọc hiểu và nghị luận xã hội để rèn kĩ
năng làm bài.
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, đổi mới
kiểm tra, đánh giá hiện nay.
19
Với đề tài này, tôi hy vọng có thể cung cấp thêm kinh nghiệm để đồng nghiệp
và học sinh tham khảo trong quá trình giảng dạy và học tập ở các tiết học: Ôn
tập, ôn thi THPT Quốc gia.Sau
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Kết quả đã kiểm chứng về việc vận dụng tích hợp kiến thức đọc hiểu để
viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ trên cùng một văn bản. Mỗi học
sinh củng cố, hoàn thiện và nâng cao kĩ năng làm bài đọc hiểu tích hợp với viết
đoạn văn. Đó là cách đơn giản nhưng rất hiệu quả đối với chất lượng và điểm số
trong các bài viết của các em.
3.2. Kiến nghị
Đối với giáo viên giảng dạy Ngữ Văn cần dành thời gian hợp lý hơn trong
các tiết ôn tập, tiết dạy tự chọn, tiết luyện viết đoạn văn hay buổi học phù đạo
để hướng dẫn cho học sinh các kĩ năng cần thiết để làm phần đọc hiểu và viết
đoạn văn nghị luận xã hội.
Mặc dù, tôi đã cố gắng tìm hiểu, sưu tầm, nghiên cứu để đề tài đạt kết quả
cao. Tuy nhiên, do kinh nghiệm dạy học chương trình Ngữ Văn 12 chưa nhiều
nên đề tài vẫn còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong quý đồng nghiệp quan
tâm, góp ý để tài hoàn thiện và có ý nghĩa thiết thực hơn. Đồng thời, với kết quả
của đề tài này, tôi cũng rất mong quý đồng nghiệp có thể tham khảo, vận dụng
vào các bài học trong chương trình Ngữ Văn 12 nhằm nâng cao kết quả học tập
cho học sinh.