Đề tài: "Rèn luyện kỹ năng tích hợp giải bài tập lai một cặp tính trạng
cho học sinh lớp 9 ở trường THCS"
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Về mặt lý luận
- Dạy học tích hợp liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng
trong dạy học, đây được coi là một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục như tích hợp
liên môn để thực hiện một cách linh hoạt đối với các mức độ tích hợp.
- Trong khoa học tự nhiên, việc tích hợp các môn như Sinh học, Hóa học,
Toán học, Vật lý… từ kiến thức môn học này, học sinh có thể hiểu thêm về kiến
thức các môn học khác, làm cho quá trình học tập có ý nghĩa, sử dụng kiến thức
trong tình huống, lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học, các kiến thức gắn
liền với kinh nghiệm sống của học sinh, có điều kiện phát triển kỹ năng chuyên
môn.
- Với cấu trúc nội dung phần lai một cặp tính trạng trong chương trình sinh
học 9 thì không những yêu cầu học sinh nắm kiến thức nội dung, củng cố quan
điểm duy vật biện chứng, mà điều quan trọng là phát triển tư duy lý luận rèn
luyện kỹ năng. Một trong những biện pháp có hiệu quả để phát triển tư duy lý
luận, củng cố kiến thức lý thuyết đó là bài tập lai một cặp tính trạng của Menđen.
Về mặt thực tiễn
- Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài kiến thức Sinh học về bài tập lai
một cặp tính trạng còn tích hợp môn Hóa học về tên gọi, về khái niệm phần tử ;
tích hợp môn Vật lý về phần tử, vận dụng công thức và cách làm bài tập; còn tích
hợp kiến thức môn Toán học về các bước giải bài tập, vận dụng các công thức,
thực hiện các phép tính toán, dùng toán thống kê để phân tích các số liệu thu được
rồi thống kê số liệu phép lai…Từ đó rút ra quy luật di truyền các tính trạng.
- Trong chương trình sinh học 9 lần đầu tiên học sinh được làm quen với
một số dạng bài tập cơ bản có liên quan đến kiến thức di truyền cùng với khuôn
khổ chương trình các bài tập di truyền còn quá ít và đơn giản. Vì thế kĩ năng giải
bài tập di truyền của đa số học sinh lớp 9 còn yếu.
giải bài tập về di truyền nhằm mục đích xây dựng và phát triển năng lực toàn diện
cho học sinh giúp học sinh vận dụng kiến thức của các môn học khác nhau để làm
bài tập, tăng cường khả năng tự học, tự làm bài tập và tự nghiên cứu các dạng bài
tập của học sinh.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Kiến thức môn sinh học về bài tập di truyền cho học sinh lớp 9.
- Kiến thức liên môn: Sinh học, Hóa học, Toán học, Vật lý…
- Phương pháp dạy học Sinh học.
- Giáo viên giảng dạy Sinh học - học sinh lớp 9 THCS (lớp 9B).
2
Nghiên cứu về công tác giảng dạy "Rèn luyện kỹ năng tích hợp giải bài tập
lai một cặp tính trạng cho học sinh lớp 9 ở trường THCS".
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để phát huy nâng cao hiệu quả chất lượng giờ dạy cần phải áp dụng
phương pháp dạy học tích hợp liên môn trong các nhà trường nhằm tìm ra các giải
pháp, nêu phương án đề xuất, kiến nghị để giúp học sinh chủ động tiếp thu được
nhiều kiến thức liên môn, phát huy tính tích cực chủ động lĩnh hội kiến thức khi
giải bài tập di truyền của học sinh từ đó đề ra biện pháp giảng dạy cho phù hợp
với đối tượng học sinh trong giai đoạn hiện nay.
5. Giới hạn của đề tài
Nghiên cứu về thực trạng giảng dạy "Rèn luyện kỹ năng tích hợp giải bài tập
lai một cặp tính trạng cho học sinh lớp 9 ở trường THCS".
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trên cơ sở những kiến thức về Sinh học "Bài tập lai một cặp tính trạng" để
đánh giá xếp loại chất lượng học tập môn sinh học của học sinh.
6.2. Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế tình hình dạy và học môn Sinh học
II. Cơ sở thực tiễn
1. Đặc điểm
1.1. Thuận lợi
Có sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Ban giám hiệu nhà trường, sự hỗ trợ
nhiệt tình của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường.
Trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học môn Sinh học đã và đang đổi
mới và là một trong những môn có chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới phương pháp
dạy học, là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi cấp bách của xã hội đối với việc
nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông.
Chương trình Sách giáo khoa Sinh học mới có nhiều đổi mới về mục tiêu,
cấu trúc, sự đổi mới này rất thích hợp cho giáo viên giảng dạy bộ môn Sinh học
cho học sinh. Thông qua bài học học sinh có thể tự hoạt động tích cực, chủ động
sáng tạo tìm tòi phát hiện và chiếm lĩnh nội dung bài học.
1.2. Khó khăn – tồn tại
Trường chỉ có một giáo viên dạy môn Sinh học, rất khó cho việc giảng dạy
và dự giờ rút kinh nghiệm.
Cơ sở vật chất của nhà trường còn nghèo nàn, lạc hậu, phương tiện nghe
nhìn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của giáo viên và học sinh, ảnh hưởng đến việc cập
nhật thông tin mới phục vụ cho công tác giảng dạy.
4
2. Thực trạng công tác giảng dạy "Rèn luyện kỹ năng tích hợp giải bài
tập lai một cặp tính trạng cho học sinh lớp 9 ở trường THCS".
a. Nhận định chung
Tôi đã thử nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 9B "cách giải bài tập ở phần Di
truyền", sau đó tôi cho kiểm tra 15 phút nhưng dựa vào kết quả thì tôi thấy rất
phân vân: số lượng học sinh đạt điểm giỏi rất ít chỉ đạt 3,1%; số học sinh điểm
khá đạt 12,5%; số học sinh đạt điểm trung bình 25% và số học sinh điểm yếu,
kém lên tới 59,4%. Tại sao các hệ quả đã có; giáo viên đã hướng dẫn một cách cụ
I. Phương pháp giải bài tập:
1. Dạng 1: Bài toán thuận:
Toán thuận là dạng bài toán lai đã biết được tính trội, tính lặn. Trên cơ sở
đó yêu cầu lập sơ đồ lai và xác định kết quả về kiểu gen, kiểu hình ở con lai.
Giải bài toán thuận thường trải qua ba bước sau đây:
- Bước 1: Dựa vào đề bài, lập quy ước gen.
(Nếu đề bài đã có quy ước gen sẵn thì không phải làm bước này).
- Bước 2: Từ kiểu hình của bố mẹ, biện luận để xác định kiểu gen của bố mẹ.
- Bước 3: Lập sơ đồ lai để xác định kết quả về kiểu gen và kiểu hình ở con
lai.
Ví dụ 1: Ở một loài thực vật, cây có lá chẻ trội so với cây có lá nguyên. Khi
cho giao phấn giữa cây có lá chẻ thuần chủng với cây có lá nguyên, thu được F 1.
Tiếp tục cho giao phấn F1 với nhau.
Hãy lập sơ đồ lai từ P đến F2.
Giải:
- Bước 1: Quy ước gen:
Theo đề bài, quy ước:
Gen A: lá chẻ, gen a: lá nguyên.
- Bước 2: Tìm kiểu gen của bố mẹ.
Cây P có lá chẻ thuần chủng mang kiểu gen AA.
Cây P có lá nguyên mang kiểu gen aa.
- Bước 3: Sơ đồ lai
P:
AA (lá chẻ) x
aa (lá nguyên)
GP: A
a
F1 :
Kiểu gen Aa
Kiểu hình 100% lá chẻ.
Kiểu hình 100% thân xám.
+ Sơ đồ lai 2:
- P:
Bb (xám ) x
Bb (xám)
GP: B, b
B, b
F1:
Kiểu gen 1 BB : 2 Bb : 1 bb
Kiểu hình: 3 thân xám : 1 thân đen.
- P:
BB (xám ) x
Bb (xám)
GP:
B
B, b
F1:
Kiểu gen BB : Bb
Kiểu hình 100% thân xám.
Ví dụ 3: Ở một dạng bí, khi cho giao phấn giữa cây bí có hoa vàng thuần
chủng với cây bí có hoa trắng thuần chủng, thu được F 1 đều có hoa vàng. Biết
màu hoa do một gen quy định.
a, Có thể biết được tính trạng trội, tính trạng lặn được không? Giải thích vì
sao?
b, Ở một phép lai khác cũng cho cây có hoa vàng giao phấn với cây có hoa
trắng thu được con lai F1.
Hãy giải thích và lập sơ đồ lai.
Giải:
a, Giải thích và kết luận tính trội, tính lặn:
Theo đề bài P thuần chủng về cặp tính trạng tương phản (hoa vàng giao phấn
Kiểu gen 1 Aa : 1 aa
Kiểu hình: 1 hoa vàng : 1 hoa trắng.
Ví dụ 4: Ở ruồi giấm, tính trạng độ dài cánh do một gen nằm trên nhiễm
sắc thể thường quy định; cánh dài là tính trạng trội so với cánh ngắn.
Khi cho ruồi giấm đực có cánh dài thuần chủng giao phối với hai ruồi giấm
cái đều có cánh dài nhưng lại tạo con lai có hai kết quả kiểu gen khác nhau.
Giải thích nguyên nhân của sự khác nhau đó và lập sơ đồ lai minh họa.
Giải:
- Theo đề bài, ta có quy ước:
Gen A: cánh dài, gen a: cánh ngắn.
- Ruồi giấm đực có cánh dài thuần chủng mang kiểu gen AA.
Lai giữa một ruồi giấm đực với hai ruồi giấm cái (đều có cánh dài) nhưng
cho kết quả về kiểu gen khác nhau, chứng tỏ hai ruồi cái mang hai kiểu gen khác
nhau: 1 ruồi cái có kiểu gen AA và một ruồi cái còn lại có kiểu gen Aa.
- Có hai sơ đồ lai:
+ Sơ đồ lai 1:
P: đực AA (cánh dài) x
cái AA (cánh dài)
GP:
A
A
F1 :
Kiểu gen AA
Kiểu hình 100% cánh dài.
+ Sơ đồ lai 2:
- P: đực AA (cánh dài) x
cái Aa (cánh dài)
GP:
A
A, a
P: bố IAIO x mẹ IBIO
Sơ đồ lai:
- Nếu
P: bố IAIA (máu A) x mẹ IBIB (máu B)
GP:
IA
IB
F1:
Kiểu gen IAIB
Kiểu hình: 100% con có máu AB.
- Nếu
P: bố IAIA (máu A) x mẹ IBIO (máu B)
GP:
IA
IB, IO
F1:
Kiểu gen IAIB : IAIO
Kiểu hình: 1 máu AB : 1 máu A.
- Nếu
P: bố IAIO (máu A) x mẹ IBIB (máu B)
GP: IA , IO
IB
F1:
Kiểu gen IAIB : IBIO
Kiểu hình: 1 máu AB : 1 máu B.
- Nếu
P: bố IAIO (máu A) x mẹ IBIO (máu B)
GP: IA , IO
IB , IO
F1:
- Nếu
P: AA (hoa đỏ) x AA (hoa đỏ)
GP: A
A
F1 :
Kiểu gen AA
Kiểu hình 100% hoa đỏ.
- Nếu
P: AA (hoa đỏ) x Aa (hoa đỏ)
GP: A
A, a
F1 :
Kiểu gen 1AA : 1 Aa
Kiểu hình 100% hoa đỏ.
- Nếu
P: AA (hoa đỏ) x aa (hoa trắng)
GP: A
a
F1 :
Kiểu gen Aa
Kiểu hình 100% hoa đỏ.
Ví dụ 2: Ở một dạng bí, gen A quy định quả tròn, là gen trội so với gen a
quy định quả dài.
Cho giao phấn giữa hai cây thuần chủng thu được F 1 đồng loạt giống nhau.
Tiếp tục cho F1 giao phấn với nhau thu được F 2 có 85 quả tròn, 169 quả bầu dục
và 83 quả dài.
Giải thích kết quả và lập sơ đồ lai từ P đến F2.
Giải:
Xét tỉ lệ kiểu hình ở F2:
85 quả tròn : 169 quả bầu dục : 83 quả dài có tỉ lệ xấp xỉ 1 quả tròn : 2 quả
Gen A: hạt gạo đục, gen a: hạt gạo trong.
Cả hai cây P đều có hạt gạo đục (A-).
F1 xuất hiện các cây có hạt gạo trong (aa) => cả hai cây P đều đã tạo được
giao tử a.
Vậy hai cây P phải đều có kiểu gen Aa.
Sơ đồ lai:
P: Aa (hạt đục) x Aa (hạt đục)
GP: A, a
A, a
F1: Kiểu gen 1AA : 2Aa : 1aa
Kiểu hình: 3 hạt đục : 1 hạt trong.
Ví dụ 4: (Bài tập về di truyền nhóm máu ở người)
Biết ở người:
- Máu A có kiểu gen IAIA, IAIO
- Máu B có kiểu gen IBIB, IBIO
- Máu AB có kiểu gen IAIB
- Máu O có kiểu gen IOIO
a, Trong một gia đình, mẹ có máu O sinh được hai đứa con: một đứa có
máu A và đứa có máu B.
b, Ở một gia đình khác, mẹ có máu B, bố có máu A sinh được con máu O.
Xác định kiểu gen, kiểu hình của bố mẹ và lập sơ đồ lai minh họa cho mỗi
gia đình trên.
11
Giải:
a, Ở gia đình thứ nhất:
Mẹ máu O, kiểu gen IOIO, chỉ tạo một loại giao tử IO
- Xét đứa con có máu A, kiểu gen IAI-, suy ra bố tạo được IA
Giao phấn giữa giống lúa thuần chủng hạt gạo đục với giống có hạt gạo trong, thu
được F1 và tiếp tục cho F1 tự thụ phấn.
a, Lập sơ đồ lai từ P đến F2.
b, Nếu cho F1 nói trên lai phân tích thì kết quả sẽ như thế nào?
Giải:
a, Lập sơ đồ lai từ P đến F2:
Theo đề bài, quy ước:
Gen A: hạt gạo đục, gen a: hạt gạo trong.
Giống thuần chủng hạt gạo đục mang kiểu gen AA.
Giống lúa có hạt gạo trong mang kiểu gen aa.
Sơ đồ lai:
P: AA (hạt đục) x aa (hạt trong)
GP: A
a
F1 :
Aa
100% hạt gạo đục.
F1: Aa (hạt đục) x Aa (hạt đục)
12
GF1: A, a
A, a
F2: Kiểu gen 1AA : 2Aa : 1aa
Kiểu hình: 75% hạt gạo đục : 25% hạt gạo trong.
b, Cho F1 lai phân tích:
F1 đã biết là Aa lai với cây mang tính lặn có hạt gạo trong là aa.
F1: Aa (hạt đục) x aa (hạt trong)
GF1: A, a
a
Kiểu hình 100% quả đỏ.
- Trường hợp 3:
P: AA (quả đỏ) x aa (quả vàng)
GP: A
a
F1:
Kiểu gen Aa
Kiểu hình 100% quả đỏ.
b, Để xác định cây F1 thuần chủng:
F1 thu được nói trên có thể là AA (thuần chủng) hoặc là Aa (không thuần
chủng).
13
Để xác định các cây F1 thuần chủng, ta dùng phép lai phân tích, bằng cách
cho F1 thu được lai với cây mang tính lặn quả vàng (aa), rồi dựa vào kết quả con
lai để kết luận.
- Nếu con lai phân tích đồng tính, tức chỉ có một kiểu hình trội xuất hiện,
chứng tỏ cây quả đỏ thuần chủng.
Minh họa:
F1: quả đỏ thuần chủng x quả vàng
AA
aa
GF1:
A
a
F2 :
Kiểu gen
Aa
P: AA x aa
hoặc P: Aa x aa.
- Trường hợp 1:
P: AA (lông ngắn) x aa (lông dài)
GP: A
a
F1: Kiểu gen Aa
Kiểu hình 100% lông ngắn.
- Trường hợp 2:
P: Aa (lông ngắn) x aa (lông dài)
GP: A, a
a
F1 :
Kiểu gen 1Aa : 1 aa
14
Kiểu hình 50% lông ngắn : 50% lông dài.
b, Cho F1 có lông ngắn giao phối nhau:
F1 có lông ngắn thu được là Aa.
Sơ đồ lai:
F1:
Aa (lông ngắn) x Aa (lông ngắn)
GF1: A, a
A, a
F2: Kiểu gen 1AA : 2Aa : 1aa
Kiểu hình: 3 lông ngắn: 1 lông dài.
Kết quả F2 tuân theo định luật phân li của Menđen với tỉ lệ con lai là 3 tính
trội : 1 tính lặn.
Bài 4: Cho hai giống lúa đều có hạt chín sớm giao phấn với nhau, trong số
F1:
AA (chín sớm)
x
AA (chín sớm)
GF1:
A
A
F2:
Kiểu gen:
AA
Kiểu hình: 100% hạt chín sớm.
- Phép tự thụ phấn 2:
F1:
Aa (chín sớm)
x
Aa (chín sớm)
15
GF1:
F2 :
A, a
A, a
Kiểu gen:
1 AA : 2 Aa : 1 aa
Kiểu hình: 3 hạt chín sớm : 1 hạt chín muộn.
- Phép tự thụ phấn 3:
F1 :
aa (chín muộn)
F1 có tỉ lệ 3 : 1. Suy ra hai cây P mang lai đều mang kiểu gen dị hợp: Aa,
kiểu hình lá dài.
Sơ đồ lai:
P: Aa (lá dài) x Aa (lá dài)
GP: A, a
A, a
F1: Kiểu gen: 1AA : 2Aa : 1aa
Kiểu hình: 3 lá dài: 1 lá ngắn.
b, Xét phép lai 1:
Con F1 có tỉ lệ 150 lá dài : 148 lá ngắn xấp xỉ 1 lá dài : 1 lá ngắn. Đây là tỉ
lệ phân tính trong phép lai phân tích.
Suy ra có một cây P là lá dài dị hợp Aa và cây P còn lại mang tính lặn lá
ngắn, kiểu gen aa.
Sơ đồ lai:
P: Aa (lá dài) x aa (lá ngắn)
GP: A, a
a
F1: Kiểu gen: 1Aa : 1aa
Kiểu hình: 1 lá dài: 1 lá ngắn.
16
c, Xét phép lai 2:
Cây P mang lá ngắn có kiểu gen aa tạo ra một loại giao tử duy nhất mang
gen a.
F1 có 100% lá dài (A-). Suy ra cây P còn lại tạo một loại giao tử là A, tức có
kiểu gen AA, kiểu hình lá dài.
Sơ đồ lai:
P: AA (lá dài) x aa (lá ngắn)
GP: A
Suy ra hai cây P phải thuần chủng về cặp tính trạng tương phản.
- Một cây P mang AA (quả tròn).
- Một cây P mang aa (quả dài).
Sơ đồ lai minh họa:
P: AA (quả tròn) x aa (quả dài)
GP: A
a
F1: Kiểu gen: Aa
Kiểu hình: 100% quả dẹt.
17
Bài 7: Ở cây dạ lan, gen D quy định hoa đỏ, trội không hoàn toàn so với
gen d quy định hoa trắng.
Trong một phép lai giữa hai cây, người ta thu được một nửa số cây lai F 1 có
hoa hồng, còn lại là kiểu hình khác.
Hãy biện luận để lập sơ đồ lai nói trên.
Giải:
Theo đề bài, suy ra hoa hồng là tính trạng trung gian.
Kiểu gen DD: hoa đỏ, Dd: hoa hồng, dd: hoa trắng.
F1 có 50% số cây có hoa màu hồng Dd, còn lại là kiểu hình khác.
Một trong hai khả năng sau đây có thể xảy ra.
a, Khả năng 1: 50% F1 còn lại có hai kiểu hình:
Suy ra F1 có ba kiểu hình với tỉ lệ chỉ có thể là 25% hoa đỏ : 50% hoa
hồng : 25% hoa trắng xấp xỉ 1 đỏ : 2 hồng : 1 trắng.
F1 có tỉ lệ của định luật phân tính chứng tỏ hai cây P mang lai có kiểu gen dị
hợp Dd, kiểu hình hoa hồng.
Sơ đồ lai:
P:
Dd (hoa hồng)
d
F1: Kiểu gen: 1Dd : 1dd
Kiểu hình: 50% hoa hồng : 50% hoa trắng.
Bài 8: Cho trâu đực đen (1) giao phối với trâu cái đen (2). Năm đầu sinh
được con nghé đen (3) và năm sau sinh được con nghé xám (4).
18
- Nghé (3) lớn lên giao phối với trâu xám (5) sinh được nghé xám (6).
- Nghé (4) lớn lên giao phối với trâu đen (7) sinh được nghé đen (8).
Biết tính trạng màu lông của trâu do một gen nằm trên nhiễm sắc thể
thường quy định.
a, Có thể xác định tính trạng trội, tính trạng lặn được không ? Giải thích.
b, Biện luận để xác định kiểu gen của cả 8 con trâu nói trên.
Giải:
Theo đề bài, có thể tóm tắt sơ đồ quan hệ giữa các cá thể đã nêu như sau:
Đực đen
x
Cái đen
(1)
(2)
Trâu xám
(5)
x Nghé đen
(3)
Nghé xám x Trâu đen
(4)
(7)
. Trâu xám (5):
aa.
. Nghé xám (6):
aa.
. Trâu đen (7):
AA hoặc Aa.
. Nghé đen (8):
Aa.
19
Bài 9: Ở lúa, người ta thực hiện hai phép lai sau đây:
- Phép lai 1: lúa thân thấp x lúa thân thấp.
Trong số F1 tạo ra được, có những cây thân cao.
- Phép lai 2: lúa thân cao lai với cây lúa khác chưa biết kiểu gen. Giả sử
rằng ở F1 xuất hiện một trong hai kết quả sau đây:
. F1 có 100% thân thấp.
. F1 vừa có thân thấp vừa có thân cao.
a, Hãy giải thích và lập quy ước gen quy định tính trạng chiều cao của thân
cây lúa nói trên.
b, Biện luận xác định kiểu gen của P và lập sơ đồ minh họa cho mỗi phép
lai trên.
Giải:
a, Lập quy ước gen:
Dựa trên kết quả của phép lai 1 cho thấy P đều có thân thấp, trong số con tạo
ra ở F1 có cây thân cao.
Suy ra đã có sự phân li tính trạng và thân cao ở F 1 là tính lặn so với thân thấp
của P.
Do đó, ta có quy ước gen:
A: thân thấp, a: thân cao.
Sơ đồ lai:
P: Aa (thấp) x aa (cao)
GP: A, a
a
F1: Kiểu gen: Aa : aa.
Kiểu hình: 50% thân thấp : 50% thân cao.
Bài 10: Giao phấn giữa hai cây cà chua P, thu được F1.
Cho các cây F1 tiếp tục giao phấn với nhau, thấy xảy ra ba trường hợp sau:
- Trường hợp 1:
F1: quả đỏ x quả đỏ.
F2 có 289 quả đỏ và 96 quả vàng.
- Trường hợp 2:
F1: quả đỏ x quả đỏ.
F2: thu được tất cả 320 cây đều mang quả đỏ.
- Trường hợp 3:
F1: quả đỏ x quả vàng.
F2: thu được 315 cây đều có quả đỏ.
a, Hãy biện luận và lập sơ đồ lai từ F1 đến F2 cho mỗi trường hợp nêu trên.
b, Giải thích và cho kết luận về kiểu gen, kiểu hình của P và lập sơ đồ minh
họa.
Giải:
a, Biện luận và sơ đồ lai từ F1 đến F2:
. Trường hợp 1: F1: quả đỏ x quả đỏ.
F2 có 289 quả đỏ : 96 quả vàng xấp xỉ 3 quả đỏ : 1 quả vàng.
F2 có tỉ lệ của định luật phân li => tính trạng quả đỏ trội hoàn toàn so với
tính trạng của quả vàng.
Quy ước: A: quả đỏ, a: quả vàng.
F2 có tỉ lệ 3 : 1 => đều mang kiểu gen dị hợp Aa.
Sơ đồ lai:
F1: Aa (quả đỏ) x Aa (quả đỏ)
kiểu gen AA.
Sơ đồ lai:
F1 :
AA (quả đỏ) x aa (quả vàng)
GF1: A
a
F2: Kiểu gen: Aa.
Kiểu hình: 100% quả đỏ.
b, Kết luận kiểu gen, kiểu hình của P và minh họa:
Từ kết quả của ba trường hợp trên cho thấy F 1 đã xuất hiện ba kiểu gen AA,
Aa và aa.
Phép lai giữa hai cây P tạo F1 có ba kiểu gen, suy ra hai cây P mang lai phải
dị hợp tử: Aa và đều có kiểu hình quả đỏ.
Sơ đồ minh họa:
P: Aa (quả đỏ) x Aa (quả đỏ)
GP: A, a
A, a
F1: Kiểu gen: 1AA : 2Aa : 1aa.
Kiểu hình: 3 quả đỏ : 1 quả vàng.
Chương III
MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
- Trước khi chưa tích hợp kiến thức liên môn thực hiện phương pháp trên,
kết quả cụ thể của lớp 9B như sau:
Số học
sinh
32
Điểm giỏi
SL
%
Đề ra như sau: Ở cây cà chua, quả màu đỏ là tính trạng trội hoàn toàn, quả
màu vàng là tính trạng lặn.
a. Khi đem thụ phấn hai cây cà chua thuần chủng quả màu đỏ và quả màu
vàng thì F1 và F2 sẽ như thế nào?
b. Nếu đem những cây cà chua quả màu vàng thụ phấn với nhau thì ở đời
con sẽ có kiểu hình như thế nào? Tỉ lệ là bao nhiêu?
Thì thu được kết quả như sau:
Số học
sinh
32
Điểm giỏi
SL
%
6
18,7%
Điểm khá
SL
%
19
59,4%
Điểm TB
SL
%
7
đóng góp ý kiến để đề tài được ứng dụng rộng rãi nhiều hơn, góp phần thành công
vào công tác giảng dạy môn Sinh học 9 cho học sinh khối THCS.
II. KIẾN NGHỊ.
23
Trong phạm vi đề tài tôi xin được nêu ra một số kiến nghị sau:
- Theo tôi, cần phải rèn luyện kĩ năng giải bài tập Di truyền cho học sinh lớp
9 trong điều kiện số tiết luyện tập còn quá ít.
- Bên cạnh rèn luyện kĩ năng giải bài tập Di truyền cho học sinh lớp 9, ngoài
ra nên rèn luyện thêm kĩ năng giải bài tập cho các dạng bài tập Di truyền khác
như: Lai hai cặp tính trạng…
- Các trường THCS phải khuyến khích phong trào dạy học theo chủ đề, tích
hợp kiến thức liên môn.
- Phòng giáo dục phải thường xuyên tổ chức các chuyên đề đổi mới phương
pháp dạy học môn Sinh học.
- Sở Giáo dục và Đào tạo, các cấp quản lí giáo dục cần có những giải pháp
giúp đỡ các trường THCS trong việc dạy học các môn học Tự nhiên.
- Các địa phương cần xây dựng phòng thực hành liên môn để học sinh có
điều kiện học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn sinh học.
- Đối với giáo viên: Cần phải nắm chắc thực trạng kiến thức của từng học
sinh, hoàn cảnh gia đình của học sinh ngay từ đầu năm học để lựa chọn giải pháp
phù hợp cho từng đối tượng học sinh. Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy và
sáng tạo trong các hoạt động giáo dục kiến thức môn sinh học cho học sinh.
- Cần có chính sách động viên hợp lý, kịp thời đối với những giáo viên có
sáng kiến hay và mạnh dạn đưa sáng kiến vào thực tế giảng dạy đạt hiệu quả tốt,
góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Trên đây là một vài kinh nghiệm của tôi trong công tác giảng dạy môn sinh
học cho học sinh ở trường trung học cơ sở, bước đầu đã mang lại một số kết quả
nhất định.
3
6. Phương pháp nghiên cứu…………………………………..……
3
7. Thời gian nghiên cứu…………………………………..…..……
3
B. Phần nội dung…………………………………………………
4
Chương I . Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng
tích hợp giải bài tập lai một cặp tính trạng cho học sinh lớp 9 ở trường
THCS………….…………………..……………….…………………..
4
I. Cơ sở lý luận.................................................................................
4
II. Cơ sở thực tiễn.............................................................................
4
1. Đặc điểm..................................................................................
Chương III: Một số kết quả đạt được...........................................
22
C. Phần kết luận và kiến nghị........................................................
23
Mục lục............................................................................................
25
Tài liệu tham khảo..........................................................................
26
25