ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LĂNG THU NGÂN
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐƢA YẾU TỐ BIỂU CẢM
VÀO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8
THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LĂNG THU NGÂN
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐƢA YẾU TỐ BIỂU CẢM
VÀO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8
THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP
Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên, thấy rõ trách
nhiệm, nhiệm vụ của ngƣời giáo viên trong trƣờng Trung học phổ thông. Bản
thân tôi đã theo học chƣơng trình đào tạo Cao học khóa 21 (2013-2015),
chuyên ngành Lí luận và phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng Việt của trƣờng
Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên .
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp cuối khóa, bản
thân tôi đã đƣợc sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ
văn, khoa Sau Đại học, Ban giám hiệu trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên.
Có đƣợc bản luận văn tốt nghiệp cuối khóa này, cùng với sự nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ đặc biệt của TS. Nguyễn Thị Thu Hằng.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Thu
Hằng, ngƣời thầy đã trực tiếp hƣớng dẫn, dìu dắt và chỉ bảo những kiến thức về
chuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quí báu.
Xin chân thành cảm ơn quí thầy cô và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ
nhiệt tình, vô tƣ về điều kiện vật chất, tinh thần và những kinh nghiệm làm
khoa học.
Cuối cùng, một lần nữa xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và cá nhân
đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Lăng Thu Ngân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTNii
MỤC LỤC
Chƣơng 2: HÌNH THÀNH KĨ NĂNG ĐƢA YẾU TỐ BIỂU CẢM
VÀO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8 THÔNG
QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP .......................................................................... 40
2.1. Mô hình chung của hệ thống bài tập đƣa yếu tố biểu cảm vào văn bản
nghị luận cho HS lớp 8 ...................................................................................... 40
2.1.1. Bài tập làm theo mẫu ........................................................................... 42
2.1.2. Bài tập sử dụng yếu tố biểu cảm ......................................................... 45
2.1.3. Bài tập rèn luyện .................................................................................. 55
2.2. Phƣơng hƣớng vận dụng hệ thống bài tập vào thực tiễn dạy học .............. 60
2.2.1. Vận dụng hệ thống bài tập trong dạy - học văn bản nghị luận............ 60
2.2.2. Vận dụng hệ thống bài tập vào các phân môn khác của môn Ngữ
văn ở trƣờng Trung học cơ sở ........................................................................... 62
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .................................................................................. 66
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ...................................................... 67
3.1. Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm ........................................................... 67
3.2. Phƣơng pháp thực nghiệm .......................................................................... 67
3.3. Nội dung và kế hoạch thực nghiệm ............................................................ 68
3.3.1. Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm ...................................................... 68
3.3.2. Nội dung thực nghiệm ......................................................................... 70
3.4. Kết quả thực nghiệm................................................................................... 84
3.4.1. Bảng thống kê kết quả thực nghiệm .................................................... 84
3.4.2. Phân tích kết quả thực nghiệm ............................................................ 86
3.4.3. Kết luận chung về thực nghiệm ........................................................... 88
KẾT LUẬN....................................................................................................... 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 92
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTNiv
:
Học sinh
NV
:
Ngữ văn
PPDH
:
Phƣơng pháp dạy học
PTBĐ
:
Phƣơng thức biểu đạt
RLKN
:
Rèn luyện kỹ năng
SBT
:
Văn bản
VBNL
:
Văn bản nghị luận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTNiv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả phiếu bài tập ........................................................................ 84
Bảng 3.2: Kết quả thực nghiệm đề 1 ................................................................. 85
Bảng 3.3: Kết quả thực nghiệm đề 2 ................................................................. 85
Bảng 3.4: Kết quả khả năng vận dụng yếu tố biểu cảm vào VBNL ................. 85
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTNv
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Hiện nay ở Việt Nam cũng nhƣ nhiều quốc gia trên thế giới, giáo
dục luôn đƣợc coi là "quốc sách hàng đầu", là nền tảng của mọi sự phát triển.
nghị luận có sức lay động, cảm hóa lòng ngƣời, khiến ngƣời đọc ngƣời nghe tin
và đồng tình với mình. Do vậy trong VBNL, ngoài những dẫn chứng, lí lẽ,
ngƣời viết luôn luôn kết hợp yếu tố biểu cảm để tăng thêm sự thuyết phục đối
với ngƣời đọc, ngƣời nghe .
SGK NV8 đã có những tiết học về cách đƣa yếu tố biểu cảm vào văn bản
nghị luận. Trong những tiết học này, ngoài việc cung cấp lí thuyết, SGK còn
đƣa ra một số bài tập để học sinh luyện tập đƣa yếu tố biểu cảm vào văn bản
nghị luận. Song song với SGK, trên thị trƣờng cũng xuất hiện những cuốn sách
tham khảo trong đó có nội dung liên quan đến việc đƣa yếu tố biểu cảm vào
trong văn bản nghị luận. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu, đề xuất
hệ thống bài tập RLKN đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL một cách hệ thống,
khoa học.
1.3. Thực tế giảng dạy cho thấy VBNL là một trong những kiểu bài giáo
viên (GV) khó dạy và cũng là kiểu văn bản HS khó viết đƣợc hay nhất. Việc
xây dựng hệ thống bài tập RLKN đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL giúp HS
không chỉ biết viết đoạn văn NL với những chức năng, nhiệm vụ riêng từ đó
triển khai thành bài văn NL hoàn chỉnh mà còn giàu sức biểu cảm, tính thuyết
phục. Hơn nữa, qua việc viết đoạn văn NL có sử dụng yếu tố biểu cảm sẽ giúp
HS tạo lập khả năng diễn đạt, trình bày một vấn đề thuyết phục ngƣời nghe,
ngƣời đọc đồng thời nâng cao việc sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả.
Từ các lí do trên, chúng tôi quyết định chọn: "Rèn luyện kỹ năng đưa
yếu tố biểu cảm vào văn bản nghị luận cho học sinh lớp 8 thông qua hệ
thống bài tập" làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ thực trạng dạy học đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho học
sinh lớp 8 hiện nay, đề tài này hƣớng tới mục đích chính sau đây:
Luận văn đề xuất hệ thống bài tập nhằm RLKN đƣa yếu tố biểu cảm vào
VBNL cho HS lớp 8 mà cụ thể hơn là kĩ năng đƣa yếu tố biểu cảm vào đoạn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN2
Ở nƣớc ta văn NL cũng là một thể loại có truyền thống lâu đời, có giá trị
và tác dụng hết sức to lớn trong trƣờng kì lịch sử, trong công cuộc dựng nƣớc và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN3
giữ nƣớc. Có thể kể từ Chiếu dời đô (1010) của Lí Công Uẩn; Hịch tướng sĩ
(1285) của Trần Quốc Tuấn; Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi; Trích
diễm thi tập (1497) của Hoàng Đức Lƣơng; Chiếu cầu hiền (1788) của Ngô Thì
Nhậm… Ở thế kỉ XX văn nghị luận càng phát triển mạnh mẽ với tên tuổi các
nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị luận bất hủ mà tiêu biểu là chủ
tịch Hồ Chí Minh với bản Tuyên ngôn độc lập (1945). Bên cạnh đó còn có các
nhà chính luận nhƣ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô
Đức Kế… và các nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn nhƣ Trƣờng Chinh, Lê Duẩn,
Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… cùng biết bao nhà văn viết nghị luận nổi
tiếng sau này nhƣ Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…
Trong “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông”, tác giả Nguyễn Quốc
Siêu cũng đã giới thuyết chung về văn nghị luận. Quá trình hình thành và phát
triển, phân loại văn nghị luận, tác dụng của văn nghị luận, đặc trƣng, các yếu tố
và quan hệ giữa các yếu tố trong văn nghị luận, phƣơng thức biểu đạt của văn
nghị luận.
Nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi đã
bàn đến một số vấn đề của văn nghị luận nhƣ nghị luận trong lịch sử, đặc điểm
của văn bản nghị luận, cách làm bài văn nghị luận và đƣa ra bài tập vận dụng
cho kiểu văn này.
Cuốn “Rèn kĩ năng làm văn nghị luận” của Bảo Quyến đã nêu ra phƣơng
pháp làm bài đối với từng kiểu bài nghị luận (phân tích, chứng minh, bình
luận…), quy trình làm một bài văn nghị luận, kĩ năng xây dựng đoạn, liên kết
đoạn và cách sử dụng dẫn chứng trong bài văn nghị luận.
Response đã đƣa ra các cơ sở khẳng định suy nghĩ của con ngƣời, sự quan sát
cũng nhƣ cảm nhận của con ngƣời có vai trò quan trọng trong việc viết văn.
Trong cuốn “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông” của Nguyễn Quốc
Siêu, tác giả đã dành chƣơng 10: Tình cảm trong biện luận để nói về tầm quan
trọng của yếu tố biểu cảm trong VB nghị luận. Chƣơng này đã nêu ra yêu cầu
tình cảm trong văn nghị luận, tác dụng và ý nghĩa của tình cảm trong văn nghị
luận cũng nhƣ các màu sắc tình cảm trong văn nghị luận. Tuy nhiên tác giả mới
chỉ nêu lên đƣợc sự cần thiết của yếu tố biểu cảm đối với VB nghị luận mà
chƣa chỉ ra cụ thể cách đƣa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN5
Đỗ Ngọc Thống trong cuốn “Làm văn” đã dành chƣơng 4 để nói về VB
nghị luận cũng chƣa chỉ ra việc cần thiết sử dụng các yếu tố phụ trợ trong VB
nghị luận mà cụ thể hơn là việc đƣa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận.
Ở “Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận 7,8,9” của Đoàn Thị Kim
Nhung mặc dù đƣa ra những khái quát chung nhất về văn nghị luận, đặc điểm
của văn nghị luận, các thao tác, yêu cầu cũng nhƣ cách làm một bài văn nghị
luận nhƣng lại chƣa từng nhắc đến vai trò của yếu tố biểu cảm trong VB nghị
luận cũng nhƣ cách đƣa yếu tố này vào VB nghị luận.
Nhƣ vậy, đã có những công trình nghiên cứu và đề cập đến yếu tố biểu
cảm trong văn nghị luận tuy nhiên chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện, kĩ càng về kĩ năng vận dụng yếu tố biểu cảm trong VBNL.
Căn cứ vào tình hình thực tế trên với mong muốn đóng góp một phần
nhỏ nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học văn nghị luận hƣớng tới mục tiêu
phát triển kĩ năng toàn diện cho HS, chúng tôi đề xuất ra hệ thống bài tập
RLKN đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS lớp 8.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
và học VBNL. Vì thế, nếu xây dựng đƣợc một hệ thống bài tập rèn luyện cho
HS kĩ năng đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL một cách phù hợp sẽ giúp HS khắc
phục đƣợc tình trạng nêu trên, góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học tập làm
văn (TLV) theo yêu cầu của CT và SGK Ngữ văn THCS.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn đƣợc chia làm 3 phần chính:
- Phần mở đầu: trình bày lí do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu vấn đề,
mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng
pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn
- Phần nội dung gồm 3 chƣơng:
+ Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
+ Chƣơng 2: Hình thành kĩ năng đƣa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận
cho HS lớp 8 thông qua hệ thống bài tập.
+ Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.
- Phần kết luận: Tóm tắt những kết quả đạt đƣợc của luận văn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN7
Ngoài 3 phần chính, luận văn còn có:
- Phần Tài liệu tham khảo: thống kê toàn bộ tài liệu đã tham khảo và sử
dụng trong luận văn.
- Phần Phụ lục: giới thiệu phiếu điều tra về tình hình dạy HS kĩ năng đƣa
yếu tố biểu cảm vào VBNL ở lớp 8, phiếu điều tra GV.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN8
trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết
phục…” [36,168].
Theo Nguyễn Thanh Hùng trong “Một số vấn đề văn nghị luận ở cấp
hai” thì: “Văn nghị luận là một loại văn nhằm bàn bạc, thảo luận với ngƣời
khác về thực tại đời sống xã hội bao gồm những vấn đề về văn hóa, triết học,
đạo đức, lịch sử, chính trị, văn học nghệ thuật.” [16,4].
Trong cuốn “Rèn kĩ năng làm văn nghị luận 7,8,9” do Đoàn Thị Kim
Nhung và Phạm Thị Nga viết quan niệm: “Văn nghị luận là một loại văn trong
đó ngƣời viết (ngƣời nói) đƣa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó
và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho ngƣời nghe (ngƣời đọc) hiểu, tin,
tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề
xuất (đối với vấn đề đó)” [26,7].
Theo Nguyễn Quốc Siêu trong “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông”
thì: “Văn nghị luận là loại văn chƣơng nghị sự, luận chứng, phân tích lí lẽ. Nó
là tên gọi chung một thể loại văn vận dụng các hình thức, tƣ duy logic nhƣ khái
niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí lẽ, phân biệt
đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với khách quan và quy
luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tƣ tƣởng, chủ trƣơng, ý kiến, quan
điểm của tác giả” [34,7].
Tóm lại, ta có thể hiểu: Văn nghị luận là loại văn mà trong đó ngƣời viết
đứng trên một lập trƣờng quan điểm nào đó và dựa vào một sự hiểu biết nhất
định của mình về xã hội, văn học, dùng lí lẽ và dẫn chứng, dùng ngôn ngữ trực
tiếp để trình bày, lập luận, phân tích, giảng giải, phê phán nhằm giải quyết một
vấn đề xã hội, đời sống, tƣ tƣởng, văn học, làm cho ngƣời đọc hiểu và tin vấn
đề để có nhận thức đúng, hành động đúng.
VBNL là một trong những kiểu VB quan trọng trong đời sống xã hội, có
thống nhất nƣớc nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.”
(Hồ Chí Minh - “Tuyên ngôn độc lập”)
Đoạn văn trên có 5 câu. Câu đầu là câu chủ đề, là câu mở đoạn, câu
mang ý nghĩa chính của đoạn. Bốn câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý
của câu chủ đề.
Ví dụ về đoạn quy nạp:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN11
“Xƣa nay ta học chỉ đọc ngoài miệng thôi, ít khi chịu tách bạch cho phân
minh từng nghĩa nên nhiều khi hiểu lầm. Nhƣ chữ đạo đức và luân lý ta thƣờng
cho là một nghĩa chớ không biết rằng đạo đức là đạo đức, luân lý là luân lý.
Đạo đức gồm cả luân lý mà luân lý chỉ là một phần trong đạo đức mà thôi. Đã
là ngƣời thì cần có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, cần, kiệm.”
(Phan Chu Trinh - “Đạo đức và luân lí phƣơng Tây”)
Đoạn văn trên có bốn câu: Ba câu đầu nêu lên thực tế dễ gây hiểu lầm
giữa đạo đức và luân lý để đi đến nhận xét khái quát là: Đã là ngƣời thì cần có
nhân, lễ, nghĩa, trí , tín, cần, kiệm (câu 4) là chủ đề.
Tuy nhiên không phải bất cứ VBNL nào cũng cần có đủ các thao tác
nghị luận mà tùy vào từng hoàn cảnh, từng điều kiện nhất định, ngƣời viết sẽ
đƣa ra những thao tác khác nhau để giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó, không chỉ
có các thao tác lập luận đƣợc sử dụng trong văn lập luận mà nhiều khi cả những
yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm… cũng rất cần đƣợc ngƣời viết đƣa vào, khiến
cho bài văn nghị luận vừa có đƣợc sự chặt chẽ logic trong tƣ duy, vừa có đƣợc
sự sinh động tƣơi tắn hấp dẫn của những hình ảnh hình tƣợng. Bài văn nghị
luận hay là bài văn vừa giàu sức thuyết phục luận lí, vừa giàu hình ảnh.
b. Luận điểm của bài văn nghị luận
- Muốn có trách nhiệm thì phải biết chuyên tập sách Binh thư yếu lược,
theo lời dạy bảo của ta thì mới phải đạo thần chủ. Nhƣợc bằng khinh bỏ sách
này… tức là kẻ nghịch thù.
Đó là những luận điểm đúng đắn và mới mẻ nhằm khích tƣớng quân sĩ
luyện tập võ nghệ, học tập binh thƣ, hạn chế tƣ tƣởng cầu an, hƣởng lạc.
Nhƣ vậy, luận điểm là linh hồn của bài văn nghị luận. Muốn có bài văn
hay, ngƣời viết cần phải đầu tƣ nhiều công sức tìm tòi, phát hiện, xây dựng nên
hệ thống luận điểm vững chắc, phong phú để thuyết phục độc giả.
c. Lập luận trong bài văn nghị luận
Để thuyết phục đƣợc ngƣời đọc, ngƣời nghe, văn nghị luận cần có những
lập luận chặt chẽ, logic, chính xác. Để bài văn bảo đảm tính có lí, nhất thiết
phải lập luận, tức là phải biết trình bày và triển khai luận điểm, biết nêu vấn đề
và giải quyết vấn đề, biết dùng lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều mình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN13
muốn nói, để ngƣời đọc hiểu, tin và đồng tình với mình. Lập luận là sản phẩm
của tƣ duy logic, muốn lập luận thì ngƣời viết phải có kết luận, luận cứ và biết
cách luận chứng thích hợp.
Cùng một nội dung, cùng hƣớng tới một mục đích nhƣng hai cách nói,
hai cách trình bày khác nhau có thể dẫn tới hai kết cục khác xa nhau. Những
bài văn nghị luận nổi tiếng đều là những bài văn hàm chứa trong đó cách lập
luận sắc sảo, mẫu mực. Tính logic, chặt chẽ với những lí lẽ rõ ràng, những
chứng cớ hiển nhiên buộc ngƣời nghe không thể không công nhận là đặc điểm
của những bài nghị luận này.
Muốn viết đƣợc bài văn nghị luận hay thật không đơn giản. Nếu có hệ
thống luận điểm đa dạng, phong phú nhƣng cách lập luận rời rạc, thiếu logic và
trùng lặp có thể khiến bài văn sụp đổ hoàn toàn.
những”, “còn”, “mà”, “càng”, “vậy nên”…
Văn nghị luận nói chung là loại văn của tƣ duy khái niệm, của duy lí
logic. Tuy nhiên, văn nghị luận cũng rất cần hấp dẫn, lôi cuốn bằng từ ngữ có
hình tƣợng và có sức gợi cảm cao. Bài văn nghị luận hay là bài văn vừa giàu
sức thuyết phục luận lí, vừa giàu hình ảnh. Hình ảnh làm tăng sức thuyết phục,
làm cho chân lí vừa sáng tỏ, vừa thấm thía. Đồng thời, văn nghị luận cũng rất
cần có yếu tố biểu cảm, bởi hiệu quả tác động của văn nghị luận không chỉ ở lí
trí mà còn ở tình cảm, cảm xúc của ngƣời đọc, ngƣời nghe. Điều đó đòi hỏi
ngƣời làm văn phải thực sự có cảm xúc trƣớc những điều mình nói (hoặc viết)
và biết diễn tả cảm xúc đó bằng những từ ngữ, câu văn có sức truyền cảm cao.
1.1.1.3. Ba yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong văn nghị luận
Bài văn nghị luận thƣờng vẫn cần phải có các yếu tố tự sự và miêu tả,
biểu cảm. Ba yếu tố này giúp cho việc trình bày luận cứ trong bài văn đƣợc rõ
ràng, cụ thể, sinh động hơn và do đó có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn. Tự sự,
miêu tả và biểu cảm là cách thức biểu đạt phụ trợ của văn nghị luận. Rất nhiều
khi chỉ do thiếu sự kể lại hay tả lại, đƣa vào cảm xúc cần thiết mà nội dung
nghị luận sẽ trở nên không sáng tỏ, khiến ngƣời đọc (ngƣời nghe) thấy khó,
thậm chí không thể nào tiếp nhận hoặc khó bị thuyết phục.
a. Yếu tố tự sự trong VB nghị luận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN15
Theo Hoàng Phê trong “Từ điển tiếng Việt” thì “tự sự là thể loại văn học
phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách, thông qua một
cố truyện tƣơng đối hoàn chỉnh” [28,1077].
Tự sự là kể chuyện thông qua các sự việc, nhân vật, chi tiết, cốt truyện…
còn nghị luận là bàn bạc, thuyết phục bằng lí lẽ, chứng cứ. Trong những áng
bức tranh tâm trạng của nhân vật, để ngƣời đọc triền miên theo mạch kể của
câu chuyện và đồng cảm với nó.
Tự sự góp phần làm cho văn nghị luận có sự chân thực, gần gũi, thuyết
phục hơn nên khi cần thiết, ngƣời ta sẽ lồng ghép một cách hợp lí yếu tố này
vào VB nghị luận.
b. Yếu tố miêu tả trong VB nghị luận
Trong cuộc sống hằng ngày, miêu tả là một hành động có tính phổ biến.
Chẳng hạn, khi thấy một điều gì lạ chúng ta sẽ miêu tả lại nó cho những ngƣời
khác để hỏi. Theo “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê) thì “miêu tả là dùng ngôn
ngữ hoặc một phƣơng tiện nghệ thuật nào đó làm cho ngƣời khác có thể hình
dung đƣợc cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con ngƣời” [28,632].
Miêu tả trong văn chƣơng là một trong những hình thức miêu tả của
nghệ thuật. Đối với văn nghị luận, yếu tố miêu tả giúp những điều tác giả muốn
gửi gắm trở nên rõ ràng, dễ hình dung hơn. Ví dụ:
“Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Hầu nhƣ bạn và tôi không bao giờ để ý rằng bài ca dao đã đổi vần một
cách đột ngột… Đổi vần có khác nào nhƣ dòng nƣớc đang chảy xuôi, ta dựng
lên một cái đập, hoặc buộc dòng nƣớc đổi chiều; đổi vần để bắt ta phải chú ý
chỗ dòng thơ cuộn lên, buộc ta phải chứng kiến, phải quan sát một sự kiện gì
đây… Nhịp thơ dồn dập, khẩn trƣơng:
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Tƣởng có gì mới! Té ra tác giả lạ nhắc lại câu thứ hai trong bài ca dao
ấy: Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng, chỉ có điều là đã lật ngƣợc lại thứ
tự các hình ảnh: nhị vàng ở cuối câu trƣớc thì nay lại để lên đầu câu sau v.v…
Nhƣng chính cái mới lại nằm trong chi tiết ấy: Nhị vàng, bông trắng, lá
xanh… Chính nhờ sự đảo ngƣợc hình ảnh ấy mà chúng ta nhƣ thấy hiện lên
bàn tay của ai đó đang lật từng lá sen xanh, chỉ từng bông sen trắng, đếm từng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN17