MỤC LỤC
Trang
I- LỜI MỞ ĐẦU ---------------------------------------------------------------1
II-NỘI DUNG
------------------------------------ -----------------------3
II. 1. Cơ sở lí luận-----------------------------------------------------------3
II. 2. Thực trạng-------------------------------------------------------------5
II. 3 Giải quyết vấn đề-----------------------------------------------------II. 4Hiệu quả-----------------------------------------------------------------14
III-KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ------------------------------------------------15
1
I- LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói hiện nay để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ
trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại
hoá đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của
người học vì thế đòi hỏi toàn xã hội, trong đó đặc biệt quan trọng là vai trò
của các nhà trường phải đào tạo nên những con người lao động mới thông
minh, sáng tạo. Thực chất của điều này chính là giáo dục phổ thông đã và
đang chuyển hướng từ chủ yếu trang bị kiến thức sang trang bị những năng
lực cần thiết cũng như những kĩ năng sống cho các em học sinh. Để đạt được
mục tiêu đó, việc đổi mới chương trình và phương pháp dạy học ở các trường
phổ thông đã và đang được quan tâm chú trọng nhiều.
Trong xã hội nói chung và giới khoa học nói riêng đã và đang rất quan
tâm đến Sinh học- một trong những ngành khoa học thực nghiệm nên các kiến
thức Sinh học được hình thành chủ yếu bằng phương pháp quan sát và thí
nghiệm, vì thế các kĩ năng học tập Sinh học sẽ góp phần vào việc giáo dục các
kĩ năng sống. Nhiệm vụ của Sinh học là tìm hiểu cấu trúc, cơ chế và bản chất
của các hiện tượng, quá trình, quan hệ trong thế giới sống và môi trường, phát
hiện những quy luật của sinh giới, làm cơ sở cho loài người nhận thức đúng
và học bài 47: Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở
người- Sinh học 11- Nâng cao”
3
II- NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lí luận
Những năm 1995-1996, thuật ngữ kĩ năng sống bắt đầu xuất hiện trong
các nhà trường phổ thông, thông qua dự án “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ
sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà
trường” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo
dục và Đào tạo phối hợp cùng Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Từ đó đến
nay việc giáo dục kĩ năng sống gắn với các vấn đề của xã hội như : phòng
chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ
em, phòng chống tai nạn, bảo vệ môi trường,…đã và đang được tiến hành. Có
nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống như: kĩ năng sống là khả năng để
có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả
trước nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày (theo tổ chức Y tế thế
giới- WHO), kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành
vi mới (theo UNICEF) hoặc kĩ năng sống gắn liền với Học để biết, Học để
sống, học để làm (theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp
Quốc)…Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy kĩ năng sống bao gồm một
loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người hay
chính là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp
với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình
huống trong cuộc sống.
Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông
nhằm mục tiêu trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ
năng phù hợp nhờ đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành
dục trở nên nhẹ nhàng, thiết thực và bổ ích hơn. Các môn học trong nhà
trường phổ thông Việt Nam đều ít nhiều có khả năng thực hiện giáo dục kĩ
năng sống, trong đó môn Sinh học là một trong những môn có nhiều thuận lợi
để giáo dục kĩ năng sống.
5
II. 2. Thực trạng
* Khó khăn:
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách,
giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết
sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động…Đặc
biệt, hiện nay đất nước ta đang hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay,
thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và
tiêu cực, có nhiều khó khăn, thách thức, áp lực. Nếu không được giáo dục kĩ
năng sống các em sẽ dễ bị lôi kéo, lợi dụng vào các hành vi tiêu cực về nhân
cách, bạo lực, sống ích kỉ, thực dụng. Từ đó một bộ phận các em sẽ có các
hiện tượng tiêu cực như: nghiện hút, bạo lực học đường, đua xe máy, ăn chơi
sa đọa, mại dâm, cờ bạc, nạo phá thai tuổi vị thành niên…Điều này xảy ra là
do các em thiếu kĩ năng sống cần thiết như kĩ năng từ chối, kĩ năng kiên định,
kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng giao tiếp, …Vì vậy nếu thiếu kĩ năng
sống các em sẽ bị vấp váp, dễ bị thất bại, dễ mắc sai lầm hoặc chậm trễ đưa
ra quyết định và phải trả giá cho các quyết định sai lầm của mình.
* Thuận lợi:
Bên cạnh những khó khăn còn tồn tại thì việc dạy và học hiện nay có
nhiều điểm thuận lợi như: học sinh đã và đang được tiếp cận với tin học, với
internet, do đó việc tự học, tự tìm tòi kiến thức các em hoàn toàn có thể làm
được dưới sự định hướng, hướng dẫn của giáo viên. Tại mỗi lớp học, nhà
trường đã trang bị thiết bị máy chiếu, projector, máy vi tính. Hơn nữa, việc
học tích cực có thể sử dụng
- Trực quan- tìm tòi
- Dạy học nhóm
- Vấn đáp- tìm tòi
- Hỏi chuyên gia
- Động não
6
động vật và các biện
pháp sinh đẻ có kế
hoạch ở người.
- Làm chủ bản thân để
tránh mang thai ngoài ý
muốn, góp phần thực
hiện sinh đẻ có kế hoạch
7
II. 3. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Xác định được mục tiêu bài học
Sau khi học xong bài này học sinh có khả năng:
- HS trình bày được một số biện pháp điều khiển sinh sản ở động vật.
- Nêu được sinh đẻ có kế hoạch ở người và giải thích được vì sao phải
sinh đẻ có kế hoạch.
- Kể tên một số biện pháp tránh thai chủ yếu và trình bày được cơ chế
tác dụng của chúng.
- Tuyên truyền mọi người thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.
mặt khác cần phải chủ động điều chỉnh dân số, giảm tỉ lệ tăng dân số.
5.2. Kết nối
8
Giáo dục kĩ năng sống
- Kĩ năng tìm kiếm và
xử lí thông tin để tìm
hiểu về cơ chế điều
khiển sinh sản ở động
vật.
Hoạt động của GV-HS
Nội dung
1. Hoạt động 1: Tìm I. Điều khiển sinh sản
hiểu về điều khiển sinh 1. Điều khiển số con
sản ở động vật
GV: *Dựa vào hiểu biết
của em hãy nêu 1 số
biện pháp con người áp
dụng làm tăng sinh sản
ở vật nuôi?
HS: nghiên cứu trình
bày
GV: Nhận xét, bổ sung
GV : Chia nhóm HS,
mỗi nhóm 4-6 HS, yêu
cầu thảo luận nhóm trả
không đúng về sinh con
trai hay gái nên họ sẽ
a)Sử dụng hoocmôn
hoặc chất kích thích
tổng hợp:
- Dùng các hoocmôn
kích thích sinh trứng và
rụng trứng (đối với cá,
trâu, bò...)→ tăng số
lượng trứng trong 1 lần
đẻ→ tăng số con.
b)Thay đổi các yếu tố
môi trường:
-Dùng các yếu tố môi
trường( nhiệt độ, ánh
9
hủy bỏ nếu là thai gái,
dẫn đến mất cân bằng
giới tính trong xã hội
gây hậu quả xấu)
- Kĩ năng tìm kiếm và
xử lí thông tin khi HS
đọc sách giáo khoa
GV: *Hiệu quả của thụ
tinh nhân tạo trong nhân
-Trong thời gian ngắn
tạo ra được nhiều vật
nuôi đồng nhất về kiểu
gen cho năng suất cao
ổn định.
2. Hoạt động 2: Tìm II.Sinh đẻ có kế hoạch
hiểu về sinh đẻ có kế ở người
hoạch ở người
GV: sử dụng phương
pháp chuyên gia, mời 35 HS lên bục giảng, HS
ở dưới lớp sẽ đặt câu hỏi
* Sinh đẻ có kế hoạch là
gì?
* Hiện nay đất nước ta
đang vận động mỗi cặp
vợ chồng nên sinh bao
nhiêu con?
*Giới hạn tuổi không
nên sinh con?
* Khoảng cách giữa hai
10
lần sinh con là mấy
năm?
* Sinh đẻ có kế hoạch
có ý nghĩa gi?
Nhóm chuyên gia thảo 1. Sinh đẻ có kế hoạch
luận và trả lời.
số 1 có bảng 47- sách
giáo khoa đồng thời
phát phiếu số 1 cho từng
nhóm học sinh, giới
thiệu mẫu vật dụng cụ
tránh thai cho học sinh,
yêu cầu HS hoàn thành
phiếu số 1
Tên biện
pháp
Tính vòng
kinh
Dùng bao
cao su
Thuốc
viên tránh
Tác động
-Tránh thai vĩnh viễn:
Đình sản-thắt ống dẫn
tinh, thắt ống dẫn
trứng...
-Tránh thai tạm thời: Đặt
dụng cụ tử cung, dùng
bao cao su, viên thuốc
tránh thai...
11
phát vấn nhóm trình
bày.
GV: Nhận xét, bổ sung
và chiếu đáp án lên bảng
(Ngoài ra còn biện pháp
tránh thai khác như
uống viên postinor để
tránh thai khẩn cấp, mũ
tử cung...)
12
GV làm rõ thêm biện
pháp tránh thai : tính
ngày rụng trứng do tinh
trùng có thời gian sống
ở cơ thể nữ là 3 ngày,
trứng có thời gian sống
1 ngày, nên để tránh
mang thai phải tránh
giao hợp trước ngày
trứng rụng khoảng 6
ngày, sau ngày rụng
trứng khoảng 4 ngày…
Nếu dùng bao cao su
còn tránh được bệnh lây
qua đường tình dục…
Nếu nạo phá thai phải
đến cơ sở y tế có đủ
không rụng.
kích thích niêm mạc tử cung gây phản ứng
chống lại sự làm tổ của hợp tử trong tử
cung.
Cắt và thắt ống dẫn tinh ngăn không cho
tinh trùng gặp trứng
Đình sản nam
Đình sản nữ
Cắt và thắt ống dẫn trứng ngăn không cho
trứng gặp tinh trùng
Đáp án phiếu học tập số 2
Điều khiển sinh sản ở động vật
Biện pháp làm thay đổi số con
Biện pháp điều khiển giới tính
Biện
Chế
Sử
Thay
Nuôi
Thụ
pháp
dụng
đổi
cấy
II. 4. Hiệu quả
Khắc phục được những khó khăn trên, đưa ra các biện pháp giúp giáo
viên có thể vừa khai thác, xây dựng hình thành các kiến thức mới vừa khắc
sâu, mở rộng kiến thức cho học sinh, giúp các em vận dụng tốt các kiến thức
đã học để giải thích các sự vật, hiện tượng thực tiễn trong cuộc sống. Vì thế,
trong quá trình giảng dạy tiết học này tôi đã phát huy tính chủ động, tích cực,
sáng tạo của học sinh bằng việc sử dụng phương pháp hoạt động tích cực, tự
học, tự nghiên cứu, tìm tòi từ đó giúp học sinh có thêm hào hứng, hứng thú
khi học tăng thêm lòng yêu thích môn Sinh học. Đặc biệt qua đó, giúp giáo
dục kĩ năng sống cho các em, hình thành ý thức, nhân cách cũng như lối sống
lành mạnh và tích cực, giảm thiểu các tệ nạn xã hội.
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: trong chương trình Sinh học Trung
học phổ thông có nhiều tiết học có thể giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Nếu như chỉ truyền đạt đến các em khối lượng kiến thức nhiều trong khuôn
khổ thời gian của một tiết học một cách nhàm chán thì việc giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh thông qua đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích
cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh đã giúp nâng cao hiệu quả
giờ lên lớp.
Để so sánh chất lượng giảng dạy, tôi đã thực hiện giảng dạy ở các lớp
11 với 2 phương pháp khác nhau và kết quả đạt được như sau:
+ Lớp 11 C2: giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua bài giảng, học
sinh có ý thức tập thể và ý thức trách nhiệm cao tìm tòi kiến thức. Đa số học
sinh hiểu bài, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, hiểu và trình bày được các
kiến thức liên quan. Thông qua đó, học sinh rèn được cho bản thân kĩ năng
giao tiếp, kĩ năng hoạt động nhóm,
+ Lớp 11 C4: chỉ sử dụng phương pháp truyền thống hỏi đáp- tái hiện, chỉ có
một số học sinh tích cực, hứng thú với tiết học, nhiều học sinh khó nhớ, dễ
nhàm chán và không biết vận dụng để giải thích các dạng liên quan. Mặt
khác, học sinh cũng không thể hiện được sự tự tin khi trình bày một vấn đề
nào đó.
Năm học 2015- 2016
11 C2 (50hs)
10 (20,0%)
30 (60,0%)
10 (20,0%)
0
11 C4(49hs)
0
13 (26,5%)
26 (53,1%)
10 (20,4%)
15
III- KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận:
Trong phạm vi của một sáng kiến kinh nghiệm, đề tài của tôi còn mang
tính chủ quan và chưa hoàn thiện do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm
giảng dạy, tôi rất mong nhận được sự chia sẻ kinh nghiệm, sự góp ý của các
thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để hoàn thiện hơn nhằm mục đích
nâng cao chất lượng giờ lên lớp đối với các tiết học giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh trong môn Sinh học.
Kiến nghị:
Tuy nhiên tôi rất hi vọng rằng các tổ chức Đoàn thể và Nhà trường có thể
tổ chức được các giờ hoạt động ngoài giờ lên lớp hoặc giao lưu học sinh, giờ
ngoại khóa kết hợp kiến thức các môn học sẽ giúp các em có thể hoàn thiện kĩ
năng sống tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm2016.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của