Hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức thực tiễn cho học sinh qua hệ thống câu hỏi mang hơi thở cuộc sống trong chương i thành phần hóa học của tế bào sinh học 10 cơ bản - Pdf 44

MỤC LỤC

Trang

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Sinh thời Bác Hồ kính yêu đã từng nói: “ Học phải đi đôi với hành” hay “ Lý
luận phải gắn liền với thực tiễn” nghĩa là học phải suy nghĩ, phải liên hệ với
thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04
tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế cũng đã xác định mục tiêu giáo dục phổ thông: "Đối với giáo dục
phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực
công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học
sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng,
truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực
hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Như vậy muốn đổi mới giáo dục thì phải đổi mới cách dạy và cách học,
người giáo viên cần coi trọng việc hình thành và phát triển tiềm lực trí tuệ cho
học sinh, đặc biệt là năng lực tư duy, năng lực hành động. Cần tạo điều kiện cho
học sinh có ý thức và biết vận dụng tổng hợp kiến thức vào cuộc sống thực tiễn,
đồng thời chú ý rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo; chú ý các thao
tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, chống thói
quen áp đặt, truyền thụ kiến thức theo một chiều, phải tạo cơ hội cho học sinh
phát hiện kiến thức và tiếp cận kiến thức để giải quyết vấn đề một cách linh hoạt
và sáng tạo.
Là một giáo viên giảng dạy môn Sinh học ở trường THPT luôn hiểu rõ môn
Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có nhiều nội dung kiến thức gắn liền
với thực tiễn đời sống. Vì vậy, việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực nhằm

giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh qua hệ thống câu
hỏi mang hơi thở cuộc sống vào dạy học các bài thuộc chương I. Thành phần
hóa học của tế bào – Phần II. Sinh học tế bào - Sinh học 10 trong chương trình
THPT. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả dạy - học của giáo viên và học sinh,
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà.
Đưa ra để các đồng nghiệp cùng tham khảo, để cùng nhau xây dựng hệ thống
các phương pháp dạy học hiệu quả cụ thể với từng phần kiến thức, nâng cao thế
mạnh của môn Sinh học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng kiến thức bộ môn gắn liền với thực tiễn
cuộc sống, mang hơi thở cuộc sống để dạy học Sinh học theo hướng dạy học
tích cực trong phạm vi dạy học các bài dạy về “Sinh học tế bào” thuộc chương I.
Thành phần học học của tế bào - Sinh học 10 cơ bản ở trường THPT.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài, tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích lý thuyết, khái quát, tổng hợp các
kinh nghiệm được rút ra từ việc trao đổi, học hỏi ở các tiết dự giờ của đồng
nghiệp.
- Phương pháp điều tra sư phạm
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp xử lí số liệu thu được từ đó khẳng định đề tài.

2


2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Để đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong thời đại bùng nổ công
nghệ thông tin, vai trò của giáo dục là phải tạo nên những con người không
những giỏi lý thuyết mà còn phải biết áp dụng lý thuyết một cách thành thạo vào

3


những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất của chương trình để giảng dạy còn
phần kiến thức dễ hiểu nên hướng dẫn học sinh về nhà đọc sách giáo khoa hoặc
các tài liệu tham khảo. Ngoài ra giáo viên phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễn
phù hợp với nội dung bài mới tăng hứng thú, say mê học tập và tìm hiểu bộ
môn của học sinh.
Nếu người giáo viên kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụng các
hiện tượng, ứng dụng thực tiễn, ngoài việc giúp học sinh chủ động, tích cực say
mê học tập còn lồng ghép được các nội dung khác nhau như: bảo vệ môi trường,
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người thông qua các kiến thức thực tiễn đó.
Đây cũng là hướng đi mà ngành giáo dục nước ta đang đẩy mạnh trong các năm
gần đây.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Chương trình Sinh học trung học phổ thông ở nước ta hiện nay bao gồm
nhiều phần khác nhau như: Di truyền học, tế bào học, sinh học vi sinh vật …
Mỗi phần được thể hiện bằng nhiều đơn vị kiến thức khác nhau, tương ứng với
các cách tiếp cận kiến thức khác nhau. Những tưởng, với một khối lượng kiến
thức đồ sộ như vậy, thực tế cuộc sống của các em sẽ vô cùng phong phú, các em
hoàn toàn có khả năng làm chủ được kiến thức của mình, việc vận dụng kiến
thức đã học vào đời sống thực tế ở chính gia đình của mình, hoặc giải thích
những hiện tượng xảy ra hàng ngày xung quanh các em chỉ là “vấn đề đơn
giản”. Nhưng điều đó đã không diễn ra như những gì chúng ta mong đợi. Bởi vì,
trên thực tế sau khi học xong chương trình sinh học 10, nhiều học sinh vẫn còn
ngỡ ngàng không biết tại sao trong khẩu phần ăn hàng ngày phải đa dạng các
món ăn mà không ăn liên tục một món mặc dù món này rất bổ dưỡng? Thực tế
cho thấy nhiều học sinh có thể mô tả một cách đầy đủ và chính xác về cấu trúc
axit nucleotit, cấu trúc protein... Thế nhưng, với những câu hỏi đại loại như: Tại
sao khi cho rau vào ngăn đá tủ lạnh, khi lấy ra ngoài thì rau lại bị nhàu nát?

cấp kiến thức giáo khoa một cách thuần túy, chưa coi trọng việc soạn và sử dụng
bài giảng theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, điều này
làm cho học sinh khá thụ động trong việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức. Đồng
thời cũng phải thừa nhận rằng, nhiều địa phương hiện nay còn thiếu các tài liệu
liên quan đến câu hỏi thực tế, thiếu các phương tiện nghe nhìn, thiếu các thông
tin dưới dạng băng đĩa hình, thiếu các tài liệu lí luận về đổi mới phương pháp
dạy học, nhất là các trường ở vùng nông thôn và miền núi. Điều đó gây không ít
khó khăn cho giáo viên khi xây dựng bài giảng theo ý muốn của mình.
Nguyên nhân thứ tư không thể không nhắc tới là cách kiểm tra đánh giá hiện
nay. Nội dung các bài thi và kiểm tra ở nhiều trường phổ thông chủ yếu tập
trung vào nội dung kiến thức mà chưa có những câu hỏi mang tính vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, đây chính là một nguyên nhân khá rõ để giải thích cho
thực trạng nêu trên. Mặt khác học sinh THPT hiện nay học tập mang tính thực
dụng, tức là các em chỉ tập trung học các môn phục vụ cho khối thi Đại học cao đẳng, trong khi đó số lượng học sinh ở các trường phổ thông học khối B lại
rất ít. Vì vậy hầu hết học sinh xem môn Sinh học như là “môn phụ” nên không
chịu học hoặc học một cách đối phó.
Nguyên nhân thứ năm phải kể đến đó là: một bộ phận giáo viên không muốn
đầu tư cho môn Sinh học 10 vì nội dung chương trình hầu như không có hoặc
có rất ít trong các đề thi học sinh giỏi đặc biệt là kì thi THPT quốc gia hiện nay.
Giải quyết thực trạng trên như thế nào? đó là một vấn đề khó. Như đã nêu,
tôi chỉ xin đưa ra một số giải pháp mang tính đơn lẻ, mong rằng những giải pháp
này có thể giúp ích cho chúng ta cải thiện được ít nhiều thực trạng trên, nhằm
giúp học sinh hứng thú học tập qua hệ thống câu hỏi mang hơi thở cuộc sống
trong dạy học các bài thuộc chương I. Thành phần hóa học của tế bào - Sinh học
10 cơ bản.
2.3. Các giải pháp thực hiện
2.3.1. Hướng dẫn chung
Trước hết, giáo viên cần phải xác định rõ các hình thức dạy học mang hơi
thở cuộc sống từ đó hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức thực tiễn cho học
sinh, gồm một số hình thức sau:

quan trọng của bộ môn mà các em sẽ được tìm hiểu ở các cấp cao hơn.
Lưu ý: Không phải bài nào cũng có thể áp dụng tất cả các hình thức nêu
trên mà phải tuỳ từng bài, từng nội dung mà giáo viên có thể sử dụng từng hình
thức để từ đó có thể đạt được hiệu quả cao nhất.
Đồng thời để hướng tới được mục tiêu cao nhất là dạy học hình thành cho
học sinh kĩ năng vận dụng kiến thức bài học vào thực tiễn cuộc sống thì giáo
viên phải xác định rõ mục tiêu bài học, phần nào thuộc kiến thức trọng tâm thì
xây dựng cách dạy, cách học phù hợp (ví dụ: thảo luận nhóm, hướng dẫn về nhà
tự học...), để rút ngắn thời gian, dành thời gian cho phần kiến thức thực tiễn từ
đó làm tăng hứng thú học tập của học sinh với môn học.
Dưới đây là một số câu hỏi mang hơi thở cuộc sống, tôi xin đưa ra để các
bạn đồng nghiệp cùng tham khảo từ đó có thể áp dụng để dạy học chương I:
Thành phần hóa học của tế bào - Sinh học 10 cơ bản nhằm hình thành kĩ năng
vận dụng kiến thức thực tiễn cho học sinh. Vì thời lượng của một tiết học chỉ có
45 phút nên trong quá trình sử dụng giáo viên phải tùy đối tượng học sinh để áp
dụng cho phù hợp, có những câu hỏi không sử dụng dạy trên lớp thì có thể giao
bài tập về nhà cho các e tìm hiểu.
6


2.3.2. Hệ thống câu hỏi mang hơi thở cuộc sống để hình thành kĩ năng vận
dụng. kiến thức thực tiễn cho học sinh trong dạy học chương I: Thành phần
hóa học của tế bào - Sinh học 10 cơ bản
Tiết 4 – Bài 3: Nước và vai trò của nước
Chú ý: Đối với bài này, không phải là một bài nặng về kiến thức lý thuyết, giáo
viên có thể lựa chọn cách tổ chức hoạt động dạy - học, song song giữa việc tìm
hiểu kiến thức lý thuyết đồng thời lồng ghép kiến thức thực tế mang hơi thở cuộc
sống vào bài học nhằm làm tăng hứng thú học tập cho học sinh bằng hệ thống
câu hỏi mang hơi thở cuộc sống sau đây:
Câu 1: Sinh vật nói chung và cơ thể người nói riêng được cấu tạo từ những

bón một cách hợp lí.

7


Áp dụng: Giáo viên sử dụng để dạy phần liên hệ thực tế mục: Các nguyên tố
hóa học trong bài “ Các nguyên tố hóa học và nước” từ đó liên hệ đến việc nâng
cao năng suất cây trồng trong trồng trọt.
Câu 4: Tại sao ở một số vùng trồng táo, người ta lại đóng các đinh bằng kẽm
vào thân cây?
Giải thích: Vì kẽm là một nguyên tố vi lượng rất cần cho sự sinh trưởng của
cây, một số vùng đất bị thiếu kẽm nên trong quá trình trồng táo người ta đóng
đinh kẽm vào cây táo để kẽm từ đinh sẽ khuếch tán từ từ vào cây bổ sung lượng
kẽm bị thiếu hụt từ đất giúp cây sinh trưởng bình thường.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để dạy phần liên hệ thực tế mục: Các nguyên tố
hóa học trong bài “ Các nguyên tố hóa học và nước” từ đó liên hệ đến việc nâng
cao năng suất cây trồng trong trồng trọt.
Câu 5: Tại sao khi tìm kiếm sự sống ở các hành tinh trong vũ trụ, các nhà khoa
học trước hết lại tìm xem ở đó có nước hay không?
Giải thích: Vì nước là thành phần chủ yếu của tế bào, không có nước tế bào sẽ
chết. Vì thế không có nước sẽ không có sự sống.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần chuyển tiếp từ mục I sang mục II hoặc
phần liên hệ thực tế của bài “ Các nguyên tố hóa học và nước” từ đó giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường đặc biệt là bảo vệ nguồn tài nguyên nước cho học sinh.
Câu 6: Nếu trong vài ngày cơ thể không được uống nước thì điều gì sẽ xảy ra?
Giải thích: Mọi sinh vật sống trên Trái Đất đều cần nước để tồn tại. Nước chiếm
khoảng 65% khối lượng của cơ thể người trưởng thành và nó là chất dung môi
"chung" mang các dưỡng chất và hoóc-môn đi đến mọi cơ quan nội tạng, điều
hòa nhiệt độ cơ thể, bôi trơn các khớp gối ... Nếu trong vài ngày chúng ta không
uống nước thì cơ thể sẽ có biểu hiện: đầu tiên là khô miệng, sau đó nước tiểu sẽ

sinh, từ đó giáo dục cho học sinh cách bảo quản rau quả trong cuộc sống hàng
ngày.
Câu 9: Tại sao lá rau để vào ngăn đá tủ lạnh, khi đã ra ngoài lại rất nhanh bị hỏng
trong khi đó lá của một số cây sống ở vùng băng tuyết lại vẫn xanh?
Giải thích:
Lá rau bỏ trong ngăn đá tủ lạnh khi lấy ra ngoài rất nhanh bị hỏng vì: khi bỏ
lá rau vào ngăn đá tủ lạnh sẽ làm cho nước trong tế bào của lá bị đông thành đá,
ở trạng thái rắn khoảng cách của các phân tử nước tăng lên làm thể tích tế bào
tăng từ đó phá vỡ thành tế bào làm cho lá rau bị mềm nhũn giảm chất lượng khi
lấy ra ngoài.
Trong khi đó, lá của một số cây sống trong vùng băng tuyết vẫn xanh vì:
Những cây chịu rét được duy trì được tính ổn định của màng, có tỷ lệ các axit
béo không no, tế bào chất có khả năng giữ nước cao, tổng hợp các chất thẩm
thấu như: axit amin prolin, saccarozơ và đặc biệt sản sinh ra một loại protein
chống lại sự đóng băng nước trong tế bào lá khi nhiệt độ xuống thấp.
Áp dụng: Đây là một câu hỏi liên hệ thực tế rất hay, dựa vào tính chất của nước
và kết hợp với kiến thức vật lý đã học, học sinh có thể giải thích ý đầu vì vậy
giáo viên có thể sử dụng cho dạy mục “Nước và vai trò của nước trong tế bào”,
ở bài: “Các nguyên tố hóa học và nước” hoặc phần liên hệ thực tế cuối bài cho
học sinh, từ đó giáo dục cho học sinh cách bảo quản rau quả trong cuộc sống
hàng ngày. Tuy nhiên với ý thứ hai là một câu hỏi nâng cao rất khó với học sinh
vì vậy giáo viên có thể hỏi ở một số lớp có học sinh giỏi và gợi ý cho học sinh
trả lời, với những lớp học lực bình thường có thể yêu cầu các em về nhà tìm hiểu
thêm.
Câu 10: Tại sao khi nghe dự báo có mưa tuyết sắp đến, nhiều nông dân tưới
nước lên cây trồng để bảo vệ cho cây?
Giải thích: Khi tưới nước lên cây tạo lớp nước bao phủ trên bề mặt tế bào của
cây:
- Tuyết được tạo nên do liên kết hidro giữa các phân tử nước với mật độ thấp
hơn so với nước lỏng, nổi trên nước lỏng.

không bị dính ướt?
Giải thích: Con gọng vó di chuyển trên mặt nước mà không bị dính ướt vì: giữa
các phân tử nước ở bề mặt thoáng hình thành liên kết hiđrô khiến các phân tử
nước liên kết với nhau tạo thành sức căng bề mặt giúp gọng vó di chuyển được
trên bề mặt nước, đồng thời giữa lông cực nhỏ trên chân nhện và nước hình
thành liên kết kị nước khiến chân nhện không bị dính ướt.
Áp dụng: Sử dụng cho dạy mục “Nước và vai trò của nước trong tế bào”, ở bài:
“Các nguyên tố hóa học và nước” hoặc phần liên hệ thực tế cuối bài cho học
sinh, từ đó giải thích các hiện tượng thực tế trong cuộc sống hàng ngày giúp học
sinh yêu thích môn học hơn.
Câu 13: Tại sao con tôm có thể sống được dưới lớp băng?
Giải thích: Băng được tạo thành từ nước, do các phân tử nước ở trạng thái này
có mật độ thấp hơn so với nước lỏng, khối lượng sẽ nhẹ hơn nên nổi trên nước
lỏng. Cùng với nhiệt độ thấp, lớp băng ở phía trên mặt nước như lớp rào cản che
chắn bảo vệ nước lỏng bên dưới khỏi không khí lạnh.
Vì vậy, tôm sống ở dưới lớp băng, nhiệt độ không quá thấp cấu trúc tế bào
không bị hủy nên vẫn có thể sống bình thường.
Áp dụng: Sử dụng cho dạy mục “Nước và vai trò của nước trong tế bào”, ở bài:
“Các nguyên tố hóa học và nước” hoặc phần liên hệ thực tế cuối bài cho học
10


sinh, từ đó giải thích các hiện tượng thực tế trong cuộc sống hàng ngày giúp học
sinh yêu thích môn học hơn.
Câu 14: Tại sao khi quy hoạch đô thị người ta thường dành 1 khoảng đất thích
hợp để trồng cây xanh và hồ nước?
Giải thích: Vì cây xanh là một mắt xích quan trọng trong chu trình cacbon, mà
cacbon là nguyên tố chính cấu tạo nên cơ thể sinh vật, bên cạnh đó nước cũng là
thành phần không thể thiếu đối với sự sống.
Áp dụng: Sử dụng cho dạy mục “Nước và vai trò của nước trong tế bào”, ở bài:

củng cố kiến thức về tính chất của cacbonhydrat và lipit.
Câu 2: Tại sao có người không uống được sữa?
Giải thích: Vì người đó không có enzim phân giải đường lactozo (đường sữa)
thành đường đơn (glucozo) nên cơ thể không hấp thụ được.

11


Áp dụng: Giáo viên sử dụng để giải thích hiện tượng thực tế, từ đó giáo dục
thói quen ăn uống khoa học đảm bảo sức khỏe cho học sinh.
Câu 3: Tại sao càng nhai cơm kĩ ta càng thấy có vị ngọt?
Giải thích: Vì thành phần chính của cơm là tinh bột, đây là một loại đường đa
gồm nhiều phân tử glucozo tạo nên. Khi ăn cơm, trong khoang miệng chứa
enzim Amilaza sẽ biến đổi tinh bột thành đường glucozo, nếu người nào ăn cơm
có thói quen nhai kĩ thì quá trình này diễn ra càng nhiều, vì vậy sẽ thấy vị ngọt
càng nhiều.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để giải thích hiện tượng thực tế trong mục “
Cacbonhydrat”, từ đó giáo dục thói quen ăn uống khoa học đảm bảo sức khỏe
cho học sinh
Câu 4: Tại sao người tiêu hóa được tinh bột nhưng không tiêu hóa được
xenlulozo? Mà tại sao ta vẫn phải ăn rau xanh hàng ngày?
Giải thích: Vì cơ thể nguời có ezim tiêu hóa tinh bột nhưng không có enzim
tiêu hóa xenlulozo. Tuy nhiên chúng ta vẫn phải ăn rau xanh để cung cấp
vitamin đồng thời xenlulozo có trong rau xanh giúp tăng khả năng đồng hóa
thức ăn giúp cơ thể chống lại một số bệnh nguy hiểm: ung thư ruột già, béo
phì...
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để dạy phần liên hệ kiến thức thực tế trong mục “
Cacbonhydrat”, từ đó giáo dục thói quen ăn uống khoa học đảm bảo sức khỏe
cho học sinh.
Câu 5: Tại sao khi bị dầu mỡ bắn lên quần áo người ta thường tẩy bằng xăng

axit, protein của cá hoặc thịt dễ phân hủy hơn nên khi chấm thấy ngon và dễ tiêu
hóa hơn.
Áp dụng: Sử dụng cho phần liên hệ thực tế của bài từ đó giáo dục thói quen ăn
uống hợp lí, khoa học cho học sinh.
Câu 9: Tại sao về mùa đông những động vật như: gấu....lại có lớp mỡ rất dày?
Giải thích: Mỡ là chất dự trữ năng lượng cho tế bào và cơ thể sẽ giúp cho một
số động vật có tập tính ngủ đông (mùa đông không đi kiếm ăn vẫn tồn tại được).
Áp dụng: Sử dụng cho phần liên hệ thực tế của bài từ đó giải thích các hiện
tượng thực tế nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh
Câu 10: Tại sao người ta lại cho rằng: quan điểm sử dụng dầu thực vật thay thế
hoàn toàn mỡ động vật trong khẩu phần ăn là quan điểm sai lầm?
Giải thích: Vì dầu thực vật chứa nhiều axit béo không no, cơ thể dễ tiêu hóa
hơn axit béo no có chủ yếu trong mỡ động vật, hơn nữa trong mỡ động vật chứa
rất nhiều colesteron, nếu ăn nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, nếu loại
bỏ hoàn toàn mỡ động vật ra khỏi khẩu phần ăn thì sẽ làm cơ thể thiếu
colesteron và axit béo no, hai thành phần này có tác dụng làm bền vững các mao
mạch máu, bảo vệ tuần hoàn của cơ thể, dự phòng tai biến mạch máu não và các
bệnh về tim mạch. Như vậy không được loại bỏ hoàn toàn mỡ động vật ra khỏi
khẩu phần ăn để thay bằng dầu thực vật, vì trong ăn uống cái gì quá nhiều cũng
sẽ không tốt cho sức khỏe. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học tỷ lệ hợp lí
giữa dầu thực vật và mỡ động vật trong khẩu phần ăn là 3:2.
Áp dụng: Sử dụng cho phần liên hệ thực tế của bài từ đó giáo dục thói quen ăn
uống hợp lí, khoa học cho học sinh.
Câu 11: Tại sao người già không nên ăn nhiều dầu mỡ?
Giải thích: Vì các cơ quan trong cơ thể người già đã bị già hóa, người già ít
hoạt động hơn nên việc cung cấp năng lượng cho hoạt động không cần thiết như
trước đây. Ăn nhiều dầu (mỡ) là chất giàu năng lượng, giàu colesteron sẽ làm
tăng colesteron trong máu gây xơ vữa động mạch và gây tắc mạch dẫn đến nguy
cơ huyết áp cao, tim mạch và đột quỵ.
Áp dụng: Sử dụng cho phần liên hệ thực tế của bài từ đó giáo dục thói quen ăn

nguồn thức ăn khác nhau sẽ cung cấp nhiều loại protein khác nhau từ đó sẽ cung
cấp đủ các axit amin thay thế và không thay thế (triptôphan, mêtiônin, valin,
thrêônin, phenyl alanin, lơxin, izôlơxin, lizin) từ đó giúp cơ thể phát triển cân
đối, toàn diện. Nếu vì thích mà chỉ ăn mãi một món mặc dù món đó rất bổ
dưỡng cũng sẽ làm cơ thể thiếu chất dẫn đến bệnh tật.
Áp dụng: Sử dụng cho phần liên hệ thực tế của bài từ đó giáo dục thói quen ăn
uống hợp lí, khoa học cho học sinh.
Câu 16: Tại sao khi bị đói lả (hạ đường huyết) người ta thường cho uống nước
đường thay vì cho ăn cơm cùng các loại thức ăn khác?
Giải thích: Vì khi bị hạ đường huyết thì cơ thể cần cung cấp năng lượng ngay
lập tức mà như chúng ta đã biết đường là một loại hợp chất rất giàu năng lượng,
có các dạng đường đơn, đường đôi và đường đa. Nếu chúng ta ăn cơm (tức là sử
dụng đường đa) thì cần phải có thời gian phân giải đường đa thành đường đơn,
nên hiệu quả không cao, thay vào đó chúng ta sử dụng đường đơn glucozo hoặc
đường đôi (ở nước hoa quả) là loại đường dữ trữ năng lượng ngắn hạn sẽ có tác
dụng làm tăng đường huyết rất tốt.
Áp dụng: Sử dụng cho phần liên hệ thực tế ở mục “cacbonhydrat” của bài từ đó
giáo dục ý thức bảo vệ sức khỏe cho học sinh.
Câu 17: Vì sao khi ta nấu canh cua thì có hiện tượng đóng lại từng mảng nổi lên
mặt nước nồi canh?
Giải thích: Hiện tượng đóng thành mảng là do protein của cua ở nhiệt độ cao bị
biến tính dẫn đến kết tủa (bị vón cục lại).

14


Áp dụng: Sử dụng cho phần liên hệ thực tế mục “Protein” của bài từ đó giải
thích các hiện tượng thực tế nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh
Câu 18 : Khi bị nhiễm khuẩn cơ thể thường phản ứng lại bằng cách làm cho ta
bị sốt. Phản ứng như vậy có tác dụng gì?

nuclêôtit, nhưng do số lượng, thành phần và trật tự sắp xếp của các nu trong các
phân tử ADN khác nhau, nên từ 4 loại nuclêôtit có thể tạo nên vô số các phân tử
ADN khác nhau, các phân tử ADN lại điều khiển sự tổng hợp của các phân tử
Prôtêin khác nhau, quy định các tính trạng rất đa dạng nhưng đặc thù của các
loài sinh vật khác nhau.
Áp dụng: Giáo viên có thể lồng ghép dạy trong phần kiến thức trọng tâm của
bài khi nói về cấu trúc của ADN, cũng có thể sử dụng dạy ở phần củng cố kiến
thức để liên hệ kiến thức thực tiễn cho học sinh để giải thích tính đa dạng trong
đặc điểm của các loài sinh vật, từ đó làm tăng hứng thú học tập cho học sinh.
15


Câu 2: Dựa vào cơ sở khoa học nào mà người ta có thể xác định quan hệ huyết
thống giữa 2 người, xác định thân nhân của các hài cốt hay truy tìm dấu vết thủ
phạm thông qua việc phân tích ADN?
Giải thích: Trên thực tế rất khó có trường hợp 2 người khác nhau (không cùng
quan hệ huyết thống) lại có cấu trúc ADN hoàn toàn giống nhau (xác suất trùng
hợp chỉ xảy ra

1
lần). Dựa vào tính chất này mà kĩ thuật phân tích ADN đã
2.10 8

ra đời và có ứng dụng rộng rãi trong việc: Xác định quan hệ huyết thống giữa 2
người, xác định thân nhân của các hài cốt hay truy tìm dấu vết thủ phạm.
Ví dụ nguời ta có thể tách ADN từ một sợi tóc còn sót lại trên hiện trường vụ
án rồi so sánh ADN này với ADN của những người bị tình nghi. Nếu nguời tình
nghi có ADN giống với ADN lấy từ sợi tóc để lại trên hiện trường thì có thể
người đó liên quan đến vụ án. Tương tự như vậy bằng cách này người tacũng
có thể xác đinh quan hệ huyết thống giữa 2 người với nhau.

thú học tập Số học sinh
Tỷ lệ %
Số học sinh
Tỷ lệ %
16


Rất hứng thú
7
17,5%
3
7,5%
Hứng thú
22
55%
6
15%
Bình thường
7
17,5%
11
27,5%
Ghét học
4
10%
16
40%
Rất ghét
0
0%

sống để hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức thực tiễn cho học sinh đã tạo
được hứng thú học tập cho học sinh trong việc học tập bộ môn Sinh học, từ đó
làm tăng kết quả học tập của học sinh lên rất nhiều. Vì vậy, trong dạy học người
giáo viên cần tích cực áp dụng việc dạy học theo hướng gắn liền kiến thức liên
hệ thực tiễn như trên.

17


3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Như vậy, phương pháp dạy học gắn liền với kiến thức thực tiễn mang hơi
thở cuộc sống vào bài học là một phương pháp khá hay và hiệu quả đang được
đưa vào áp dụng rộng rãi trong dạy học ở nước ta. Việc dạy học gắn kiến thức
thực tiễn với kiến thức bộ môn đã tạo cho học sinh cảm giác gần gũi, thoải mái
hơn trong giờ học, phát huy được tính sáng tạo của học sinh, kích thích học sinh
suy nghĩ tích cực hơn, tăng khả năng tư duy của học sinh và rèn kỹ năng sống
theo một hệ thống logic.
Mặt khác, trong quá trình giảng dạy, việc sử dụng câu hỏi gắn với thực tiễn
cuộc sống kết hợp linh hoạt với nhiều phương pháp học khác sẽ tạo hứng thú
trong giờ học, phát huy tính chủ động, tìm tòi từ đó giúp học sinh ghi nhớ bài
nhanh hơn và tiết kiệm thời gian hơn trong quá trình ôn tập và củng cố kiến
thức. Song bên cạnh kết quả đạt được mà thực nghiệm đã chứng minh, chúng ta
cũng không thể phủ nhận rằng việc dạy học mang hơi thở cuộc sống vào bài học
đòi hỏi sự nỗ lực cao và năng lực tốt của giáo viên....Do đó mỗi giáo viên khi
dạy học cần nghiên cứu kĩ về mục tiêu, nội dung bài học và có sự cân nhắc,
chọn lựa kĩ lưỡng để có phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và
trường sở tại nhằm đem lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học.
3.2. Kiến nghị
Các nhà trường cần nghiêm túc chỉ đạo việc dạy học gắn kiến thức bộ môn

Người viết SKKN

Lê Thị Thu Hoài

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lý luận dạy học sinh học - Đinh Quang Báo – NXB giáo dục
2. Sách giáo khoa Sinh học 10 - Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên) - NXB Giáo dục.
3. Sách giáo viên Sinh học 10 - Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) - NXB Giáo dục.
4. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ
thông - Môn Sinh học Lớp 10 (Cấp THPT) – Ngô Văn Hưng (Chủ biên) - Lê Hồng
Điệp - Nguyễn Thị Hồng Liên - NXB GD 2009
5. Hỏi đáp sinh học - Trần Ngọc Oanh (Nhà xuất bản Giáo dục, 2006)
6. Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông môn Sinh học - Vũ Đức
Lưu (chủ biên) - NXB GD 2004.

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status