MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn nghị luận là một trong 6 kiểu văn bản được dạy học trong
chương trình (CT), sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn bậc phổ thông. Bản chất
của văn nghị luận là cách vận dụng lý lẽ, dẫn chứng để thuyết phục người
đọc, người nghe về một vấn đề nào đó, trong đó có những vấn đề liên quan
đến văn học. Với bài nghị luận văn học, để thuyết phục người đọc, người
nghe trước một vấn đề về văn học, điều quan trọng là học sinh (HS) phải có
vốn tri thức liên quan đến vấn đề cần nghị luận (tác giả, tác phẩm, một nhận
định, đánh giá về tác phẩm hoặc tác giả…) và có kỹ năng lập luận (phân tích,
chứng minh, giải thích, bình luận, bác bỏ…).
Bên cạnh vốn tri thức và kĩ năng về Làm văn, tiếng Việt và văn bản Đọc
hiểu, đối với bài nghị luận văn học, trong đó có bài nghị luận về một bài thơ,
đoạn thơ, người viết cần phải có vốn tri thức về lí luận văn học (LLVH). Đó là
tri thức về tác giả, về tác phẩm, về thể loại, về phong cách nghệ thuật, về mối
quan hệ giữa tác phẩm văn học với người đọc…Sự hiểu biết về những tri thức
LLVH có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc Đọc hiểu văn bản mà còn
chi phối đến việc tạo lập văn bản, đó là việc làm bài nghị luận văn học của
HS.
Đối với bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ không có những tri thức
về nhân vật trữ tình, chủ thể trữ tình, hình tượng thơ, ngôn ngữ thơ,... HS sẽ
khó làm tốt những dạng đề văn như: “Hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên
của nhà thơ Xuân Quỳnh”, “Cảm thức về thời gian trong bài thơ “Vội vàng” Xuân Diệu”, “Cảm nhận về đoạn thơ sau”... Có thể xem đó là những tri thức
có tính “chìa khóa” để HS làm bài văn nghị luận có độ sâu, thể hiện được vốn
hiểu biết, khả năng tư duy và kỹ năng diễn đạt trước các tính huống giao tiếp
cụ thể trước mỗi bài thơ, đoạn thơ. Đây cũng chính là cách tiếp cận tác phẩm
văn học theo loại thể - một xu hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn
hiện nay.
1.2. Tri thức LLVH được giảng dạy trong CT, SGK Ngữ văn THPT
Mặt khác, để định hướng dạy học những tri thức LLVH dưới dạng ngắn gọn,
khái quát thì sách giáo viên, các tài liệu tham khảo cũng đã đề cập đến, có
tính gợi mở hướng tiếp cận cho GV và HS phổ thông.
Có thể dẫn một số ý kiến sau:
- Trong giáo trình Phương pháp dạy học Văn [27] đã khái quát 3
nguyên tắc dạy học LLVH: thông qua tác giả, tác phẩm để cung cấp những
khái niệm cơ bản; củng cố khái niệm qua hệ thống bài tập; tận dụng vốn hiểu
biết của HS để hình thành khái niệm. Từ đó, giáo trình cũng đề xuất một số
phương pháp dạy học tri thức LLVH như: “hình thành kiến thức bằng con
đường diễn dịch”; “phân tích mẫu để hình thành khái niệm”; “lựa chọn các
phương pháp phù hợp với đối tượng” [27].
- Trong cuốn giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt [Lê A, Nguyễn
Quang Ninh, Bùi Minh Toán], khi bàn về các tiền đề lý thuyết trong dạy học
Làm văn, các tác giả đã khẳng định: “hiện nay trên con đường tìm tòi một lí
thuyết làm văn, người ta đã hướng tới những lí thuyết có sức bao quát cho
nhiều loại văn bản và coi đó như tiền đề lí thuyết của việc làm văn. Trong số
các lí thuyết không thể không nhắc tới: ngôn ngữ học văn bản, lí thuyết giao
tiếp bằng ngôn ngữ, Logic học và do nội dung giảng dạy, học tập về làm văn
hiện nay trong nhà trường Việt Nam cũng không thể không nhắc tới lí luận
văn học” [1, tr.190]. Giáo trình cũng cho thấy sự hiểu biết về nhân vật, cốt
truyện, chi tiết, phương pháp sáng tác… có ý nghĩa quan trọng chi phối đến
sự hình thành một bài văn. Các vấn đề về LLVH và cách vận dụng tri thức
LLVH trong bài nghị luận văn học nói chung, bài văn nghị luận về một bài
thơ, đoạn thơ nói riêng không được đề cập tới trong giáo trình.
- Sách giáo viên Ngữ văn 10, 11, 12 đều ít nhiều gợi mở, hướng dẫn GV
tiếp cận một số tri thức về LLVH qua các bài dạy cụ thể: Đọc tiểu thuyết và
truyện ngắn, đọc thơ trữ tình, quá trình văn học và phong cách văn học...
Ngoài những định hướng để GV giúp HS tiếp xúc với tri thức LLVH, SGK
thực tiễn, góp phần khắc phục một số những tồn tại trong bài nghị luận về một
bài thơ, đoạn thơ của HS lớp 12 hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp, cách thức rèn kĩ năng vận dụng tri
thức LLVH trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho HS lớp 12, góp
phần nâng cao chất lượng bài nghị luận văn học cũng như trong quá trình dạy
học CT Ngữ văn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp, cách thức và quy trình
vận dụng tri thức LLVH để làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho HS
lớp 12.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Những tri thức LLVH về một bài thơ, đoạn thơ được dạy học trong CT,
SGK Ngữ văn lớp 12 THPT (theo chương trình Chuẩn), trong đó tập trung
vào một số tác phẩm, tác giả: Tây Tiến - Quang Dũng; Việt Bắc - Tố Hữu; Đất
Nước (Trích “Mặt đường khát vọng”) - Nguyễn Khoa Điềm; Sóng - Xuân
Quỳnh; Đàn ghi ta của Lorca - Thanh Thảo.
- Các biện pháp, cách thức, quy trình vận dụng tri thức LLVH để làm bài
nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho HS lớp 12.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai những nội dung nghiên cứu ở trên, chúng tôi chủ yếu sử
dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích - đánh giá
Phương pháp phân tích - đánh giá được sử dụng khi xem xét và lý giải
những vấn đề lý thuyết về nội dung tri thức LLVH về một bài thơ, đoạn thơ
được dạy học trong chương trình lớp 12. Phương pháp nghiên cứu này cũng là
sinh lớp 12 trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VẬN DỤNG TRI THỨC LÝ LUẬN
VĂN HỌC CHO HS LỚP 12 TRONG BÀI NGHỊ LUẬN
VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ
Bài làm văn là sự tổng hợp của nhiều tri thức và kỹ năng của HS: tri thức
liên quan đến nội dung mà đề bài yêu cầu; tri thức về vốn sống, vốn hiểu biết;
tri thức về cách diễn đạt… Đối với bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ,
bên cạnh những tri thức trên, HS còn phải có sự hiểu biết về tri thức LLVH.
Có thể xem đó chính là nền tảng cơ sở để HS bàn luận, đưa ra ý kiến đánh giá
của mình về tác giả, tác phẩm. Việc vận dụng tri thức LLVH cần phải dựa trên
những cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định. Trong chương 1, đề tài sẽ trực
tiếp đề cập đến những nội dung này.
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm, yêu cầu và các kỹ năng cần rèn luyện cho HS trong
bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
1.1.1.1. Khái niệm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
* Khái niệm về văn nghị luận
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn nghị luận
- “Văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết đưa ra những lý lẽ,
dẫn chứng về một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức bàn luận mà làm
cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo
những ý kiến mà mình đề xuất” [2, tr.137].
- “Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái
độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị,
đạo đức, lối sống… nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong
sáng hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục”
- Nội dung, nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ được thể hiện qua từ ngữ,
giọng điệu, hình ảnh… Bài văn nghị luận cần phân tích rõ các yếu tố ấy có
những nhận xét, đánh giá cụ thể, rõ ràng, thuyết phục. Những nhận xét, đánh
giá ấy phải gắn liền với sự bình giá ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, nội dung,
cảm xúc… của bài thơ, đoạn thơ.
- Bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ có bố cục mạch lạc, có lời văn
gợi cảm, thể hiện được rung động chân thành của người viết. Nhìn chung,
bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ được bố cục theo ba phần: đặt
vấn đề (giới thiệu về bài thơ, đoạn thơ; nêu nhận xét, đánh giá của mình);
giải quyết vấn đề (trình bày những đánh giá của mình về nội dung và nghệ
thuật của bài thơ, đoạn thơ); kết thúc vấn đề (khái quát giá trị, ý nghĩa của
bài thơ, đoạn thơ).
Ví dụ:
Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài thơ:
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đưa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
Khi nói về con đường thơ của mình, Chế Lan Viên từng khẳng định:
“Xưa phù du mà nay đã phù sa / Xưa trôi đi mà nay không bay mất”. Trên
hành trình của một hồn thơ đi từ thung lũng đau thương ra cách đồng vui, từ
chân trời của một người đến với chân trời của tất cả ấy, hơn ai hết, Chế Lan
Viên hiểu được vai trò lớn lao của Đảng và nhân dân, những người mà nhà
thơ cho rằng đã “thay đổi đời tôi, thay đổi thơ tôi”. Niềm hạnh phúc rưng
rưng của một nhà thơ đã nhận ra giá trị đích thực của cuộc đời mình khi trở về
với nhân dân đã được nhà thơ gửi gắm một cách chân thành và xúc động qua
những bài thơ Tiếng hát con tàu, trong đó đặc biệt là khổ thơ trên.
sống rộng lớn của nhân dân. Đây cũng là nhận thức của Xuân Diệu khi ý thức
về chỗ đứng, về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với nhân dân:
Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi
Cùng đỏ mồ hôi, cùng sôi giọt máu
Tôi sống với muôn người chiến đấu
Của triệu người yêu dấu gian lao
(Những đêm hành quân)
Vì vậy, lối xưng hô ân tình ấy sở dĩ gây được xúc động trong lòng người
đọc cũng chính là bởi nhà thơ đã nói được tấm lòng của cả một thế hệ mà có
lần Chế Lan Viên đã trách cứ với chính mình vì “lỡ nhịp” với cuộc sống của
nhân dân:
Có thể nào quên cả một thời thơ ấy
Tổ quốc trong lòng mà có cũng như không
Nhân dân ở quanh ta mà ta chẳng biết
Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng
(Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi)
Trong niềm xúc động chân thành ấy, nhà thơ đã diễn đạt ý nghĩa của
cuộc trở về với nhân dân bằng lối so sánh đầy bất ngờ, sáng tạo. Trước hết,
đây là một lối so sánh kép. Chỉ có bốn câu thơ mà xuất hiện đến năm lần các
biện pháp so sánh. Cảm giác như niềm hạnh phúc được trở về với nhân dân
bỗng nở xòe như những cánh hoa rực rỡ và ấm áp sắc màu. Lối so sánh kép
này là một đặc trưng thể hiện phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên. Trong
bốn câu thơ đề từ, nhà thơ đã so sánh Lòng ta, Tâm hồn ta với hai hình ảnh:
con tàu và Tây Bắc. Đến phần sau của bài thơ, khi nói về nỗi nhớ, về tình yêu,
những câu thơ ấy lại một lần nữa khoe sắc qua lối liên tưởng:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương
đồng thời cũng là cái đích cuối cùng mà mỗi tác phẩm văn học phải hướng
tới. Nếu đánh rơi mất đời sống, thơ ca sẽ chết khô trên trang giấy. Nhưng để
phản ánh được hiện thực đời sống, người nghệ sĩ phải gắn bó cuộc đời mình
với nhân dân, phải cùng nhịp đập với hàng triệu trái tim của nhân dân. có lẽ,
không nhà thơ nào lại diễn đạt chân lí của quá trình sáng tạo ấy hay và sâu sắc
như Chế Lan Viên.
Đây là một trong những đoạn thơ khá hay trong bài thơ. Với lối xây dựng
hình ảnh mới lại, với lối so sánh giản dị nhưng sâu sắc, Chế Lan Viên đã
hướng người đọc đến một quy luật có tính phổ quát: trở về với nhân dân là
con đường tất yếu. Nó phù hợp với quy luật của tự nhiên cũng như phù hợp
với đạo lí, tình cảm con người. Bởi vì chỉ có con đường ấy mới mở ra được
những chân trời lớn cho người nghệ sĩ. Đi trên con đường ấy, Chế Lan Viên
đã thực sự thành công, trở thành tiếng thơ hào hùng, tiếng kèn xung trận trong
những năm chống Mĩ sau này.
Trong ví dụ trên, nội dung cần nghị luận là đoạn thơ trong phần thứ hai
của bài thơ Tiếng hát con tàu. Để triển khai vấn đề, bài viết tập trung thể hiện
sự đánh giá, phân tích, cảm nhận của mình về nội dung và nghệ thuật của
đoạn thơ. Về nội dung, đoạn thơ thể hiện niềm hạnh phúc của nhà thơ trên
hành trình về với nhân dân. Về nghệ thuật, bài viết khai thác các biện pháp tu
từ, cách xây dựng hình ảnh thơ gần gũi với đời sống của nhân dân Tây Bắc,
cách xưng hô nhằm tạo quan hệ ruột thịt… Bố cục của bài văn rõ ràng, mạch
lạc; lời văn trong sáng, thể hiện được những rung cảm chân thành và sâu sắc
của người viết.
1.1.1.2. Các kỹ năng cần rèn luyện cho HS trong bài nghị luận về một
bài thơ, đoạn thơ
a. Khái niệm kỹ năng
Khi nghiên cứu quá trình nhận thức của con người, các nhà khoa học
nhận thấy tầm quan trọng to lớn của kỹ năng. Vì vậy, khái niệm này được
Trong thực tế, dạy học văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ nói riêng
và dạy học Làm văn nói chung đều hướng đến mục tiêu chung là rèn luyện kĩ
năng. Cái đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn là hình thành và rèn luyện
những kỹ năng cơ bản, cần thiết để các em tự chủ, độc lập, sáng tạo khi các
em sản sinh lời nói. Theo đó, quá trình dạy Làm văn chính là quá trình HS rèn
luyện các kỹ năng hình thành và thể hiện ý riêng của mình bằng ngôn ngữ để
suy nghĩ, để nói ra và viết ra khi nhận thức và giao tiếp. Tuy nhiên, ở mỗi kiểu
văn bản, do đặc trưng, do nội dung, yêu cầu khác nhau nên việc hình thành và
rèn luyện các kĩ năng cũng khác nhau. Đối với bài văn nghị luận về một bài
thơ, đoạn thơ, chúng ta có thể hình dung quy trình rèn luyện kĩ năng ấy trên 4
nhóm tương ứng với các bước sau:
- Kĩ năng tìm hiểu, phân tích đề
Để hình thành và rèn luyện kĩ năng này, người viết cần chú ý các bước
sau:
+ Nhận diện đề.
+ Chú ý tới yêu của đề bài qua các từ: phân tích, cảm nhận, suy nghĩ.
+ Phân tích mối quan hệ giữa yêu cầu của đề bài và nội dung mà đề bài
hướng tới.
- Kĩ năng tìm ý, lập dàn ý
Dàn ý trong bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ thường gồm các
bước sau:
+ Đặt vấn đề: Giới thiệu về tác giả, về bài thơ, đoạn thơ (Nếu đề bài là
nghị luận về một đoạn thơ thì cần nêu rõ vị trí của đoạn thơ trong bài thơ).
+ Giải quyết vấn đề: Lần lượt phân tích, đánh giá bài thơ, đoạn thơ trên
các phương diện nội dung và nghệ thuật.
+ Kết thúc vấn đề: Khái quát ý nghĩa của bài thơ, đoạn thơ kết hợp với
sự bình luận, đánh giá của người viết.
- Kĩ năng diễn đạt
ngữ của người nói, người viết.
- Hiệu quả của quá trình giao tiếp, cụ thể là người phát có trình bày đầy
đủ ý định, mục đích đề ra hay không; và người nhận có hiểu đầy đủ mọi khía
cạnh mà nội dung thông báo truyền đến hay không, tất cả đều gắn liền với quá
trình xây dựng và phân tích văn bản. Những nội dung trên liên quan đến ngôn
ngữ học văn bản. Vì thế, các nội dung như: lập dàn ý, dựng đoạn, liên kết
đoạn, chủ đề... trong bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ đều liên quan
trực tiếp đến những tri thức này.
b. Lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ
- Văn bản là đơn vị giao tiếp cơ bản nhất của ngôn ngữ. Và làm văn,
thực chất là làm ra các văn bản để giao tiếp. Nội dung chủ yếu của lí thuyết
giao tiếp ngôn ngữ liên quan trực tiếp đến các nhân tố của quá trình giao tiếp:
mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp; hoàn cảnh giao tiếp; nhân vật giao
tiếp. Mỗi một nhân tố có vị trí độc lập nhưng đồng thời lại có mỗi quan hệ
biện chứng với nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất.Các nhân tố này chi
phối trực tiếp đến việc tạo lập văn bản.
- HS khi làm một bài văn luôn phải chú ý tới kĩ thuật sử dụng ngôn ngữ
mà còn phải xử lí tốt những mối quan hệ với các nhân tố ngoài ngôn ngữ (đối
tượng tiếp nhận, mục đích...), mặc dù các nhân tố đó chỉ là giả định. Xử lý tốt
bài viết trong mối quan hệ với các nhân tố ngoài ngôn ngữ, hiệu quả giao tiếp
sẽ cao hơn rất nhiều.
c. Lôgíc học
- Logic học là nội dung chi phối đến tất cả các ngành khoa học, trong
đó có Làm văn. Từ khâu ra đề, chấm bài, dạy học lý thuyết, rèn luyện các kĩ
năng từ tìm ý, lập dàn ý đến dựng đoạn, liên kết đoạn… tất cả đều gắn với
logic. Chỉ có điều, sự tách bạch giữa đâu là lý luận làm văn, đâu là lý luận
logic là điều hết sức khó khăn vì chúng đã có sự hòa nhập, xuyên thấm vào
với nhau.
Như vậy, ngôn ngữ học văn bản, lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ, logic
học, LLVH là những tiền đề có tính định hướng giúp chúng ta tìm ra hướng đi
đúng đắn cho việc dạy học Làm văn. Nó có mối quan hệ mật thiết với Làm
văn nhưng không phải là lí thuyết Làm văn.
1.1.2. Tri thức LLVH trong CT, SGK Ngữ văn THPT
1.1.2.1. Quan niệm về tri thức LLVH
LLVH là “một môn học nghiên cứu văn học, có nhiệm vụ nghiên cứu
bản chất, chức năng xã hội và thẩm mỹ, quy luật phát triển của sáng tác văn
học, có tác dụng xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích văn
học” [29; tr.18].
Như vậy, LLVH là loại văn bản cung cấp những tri thức về nguồn gốc,
bản chất, chức năng xã hội, chức năng thẩm mỹ, quy luật phát triển văn học…
Những tri thức này chính là những công cụ để người đọc vận dụng nghiên cứu
văn học một cách có hiệu quả. LLVH “lấy phương diện cấu trúc, những đặc
điểm rất chung của văn học, hoặc những đặc điểm của hiện tượng văn học
phát triển đến mức điển hình làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu” [29, tr.12].
Tri thức LLVH ở THPT, theo cách hiểu của chúng tôi là tri thức lý luận
bao trùm hệ thống tri thức văn học của HS THPT. Đó là các tri thức về bản
chất, chức năng, đặc trưng của văn học; tri thức về thể loại văn học; về
khuynh hướng sáng tác; về mối quan hệ giữa nhà văn - tác phẩm; về phong
cách nhà văn. Những tri thức này được chọn lọc, giới thiệu ở dạng khái quát
nhất, nhằm cung cấp cho HS những hiểu biết cơ bản về văn học, về nhà văn,
định hướng cho quá trình phân tích và tạo lập văn bản.
Tri thức này không đơn thuần chỉ bó hẹp trong một số tiết dạy LLVH
của CT mà được khái quát trên cơ sở những tri thức về lịch sử văn học và tri
thức về tác phẩm văn chương. Tri thức LLVH gắn liền với quá trình Đọc hiểu
văn bản và tạo lập văn bản (Làm văn), được sắp xếp trong CT, SGK Ngữ văn
theo một dụng ý nhất định.
- Rèn luyện cho HS kỹ năng lập luận thuyết phục, khoa học, chính xác,
tránh được những suy diễn không phù hợp với yêu cầu của đề bài. Có thể
xem, đây là những tri thức trực quan, giúp các em làm bài tốt hơn.
- LLVH cũng là tri thức có khả năng rèn luyện tư duy khoa học, tư
duy logic, giúp HS nâng cao khả năng cảm thụ văn chương để làm bài văn
nghị luận văn học tốt hơn. Những vấn đề LLVH thông thường không thể đưa
thẳng, trực tiếp vào bài văn mà cần phải có sự chắt lọc, lựa chọn, thông qua lý
thuyết làm văn để đến với HS. Vì thế, tri thức LLVH không phải gắn với tất
cả các đề văn mà chỉ có quan hệ trực tiếp với những đề làm văn liên quan đến
văn bản văn học.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khảo sát nội dung CT, SGK về phần tri thức LLVH
1.2.1.1. Số tiết
Nhìn một cách tổng quát, toàn bộ số tiết dành cho từng phân môn trong
CT Ngữ văn THPT được cụ thể hóa qua bảng 1.1.
Bảng 1.1. Bảng thống kê số tiết cho từng phân môn ở CT Ngữ văn THPT
Đọc
Làm
Tiếng
văn
văn
Việt
15
2
123
Lớp 11 (CT Nâng cao)
79
51
15
5
140
Lớp 12 (CT Chuẩn)
57
32
12
4
105
Đọc văn còn thực hiện tích hợp tri thức đọc hiểu với tri thức văn hóa, lịch sử
văn học, LLVH trong Ct, SGK Nâng cao. Do đó, việc sắp xếp tri thức LLVH
trong CT, SGK chịu sự chi phối của cách sắp xếp các bài Đọc văn .
- Theo cách sắp xếp của CT, các bài Đọc văn vừa được sắp xếp theo các
thời kì văn học, vừa được sắp xếp theo cụm thể loại. Song song với bài dạy
văn bản là các tri thức khác, trong đó có tri thức đọc hiểu LLVH ở CT Nâng
cao. Do đó, tri thức đọc hiểu được sắp xếp sau tri thức về văn bản. Vì thế,
cách sắp xếp này sẽ tạo điều kiện cho việc hiểu tri thức LLVH. Bởi, việc Đọc
văn, cảm thụ văn học phải tuân theo quy luật thể loại. Đọc văn bản trữ tình
khác với Đọc văn bản tự sự hay kịch. Ngay trong Đọc văn bản trữ tình nhưng
cách tiếp cận văn bản trữ tình dân gian sẽ khác với cách tiếp cận văn bản trữ
tình trung đại hoặc hiện đại.
Từ lớp 10 đến lớp 12, nội dung tri thức LLVH bao gồm các vấn đề sau:
Lớp
Nội dung tri thức LLVH
Ghi chú
Ngữ văn 10 - Văn bản văn học
- Nội dung và hình thức của văn bản văn học
Ngữ văn 11 - Thể loại tác phẩm văn học hiện đại: Thơ, tiểu
thuyết, truyện, kịch, văn nghị luận.
Ngữ văn 12 - Phong cách văn học
- Quá trình văn học
- Giá trị văn học
- Tiếp nhận văn học
phần tri thức được sắp xếp từ đầu đến cuối SGK, tuy được viết ngắn gọn
nhưng đã bổ sung một lượng tri thức lớn, phục vụ cho việc phân tích, bình
giá, cảm thụ các tác phẩm văn học trong CT, đồng thời cũng phù hợp với đối
tượng HS khi chọn CT, SGK Ngữ văn Nâng cao.
Ví dụ:
Sau bài thơ Tây Tiến, SGK Ngữ văn 12 Nâng cao giới thiệu phần Tri
thức đọc hiểu. Phần này gồm hai nội dung: cảm hứng và cảm hứng lãng mạn.
“Cảm hứng là nguồn gốc trực tiếp của sự sáng tạo nghệ thuật”, “Cảm hứng
lãng mạn vì thế thường hướng tới những đề tài như thiên nhiên, tình yêu, tôn
giáo, hồi tưởng kỉ niệm… Đồng thời, nó đi tìm cái đẹp trong những cái khác
lạ, phi thường, độc đáo, vượt lên trên những cái tầm thường, quen thuộc của
cuộc sống hàng ngày. Nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sự liên
tưởng, tượng tượng. Cảm hứng lãng mạn cũng thường tìm đến cách diễn đạt
khoa trương, phóng đại, ngôn ngữ giàu biểu cảm và tạo được ấn tượng mạnh
mẽ” [41; tr.71].
Tri thức trên có ý nghĩa củng cố, định hướng cho HS tiếp cận bài thơ
Tây Tiến, một bài thơ được viết theo bút pháp lãng mạn. HS sẽ có cơ sở khoa