Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong cho HS trong dạy học Sinh học, phần Sinh học tế bào, Sinh học 10 - Pdf 38

1
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI là thế kỉ của nền kinh tế tri thức, con người được xem là nhân tô
chính của sự phát triển. Hoà cùng với sự phát triển của thế giới, Việt Nam cũng
đang bước vào kỷ nguyên mới với những cơ hội và thách thức mới. Hơn lúc nào hết
sự nghiệp giáo dục và đào tạo có ý nghĩa quan trọng lớn lao trong chiến lược phát
triển của đất nước và đang là vấn đề được cả xã hội quan tâm.
Luật giáo dục 2005, khoản 2, điều 28 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học: bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh”. [10]
Nghị quyết sô 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quôc tế đã xác định mục tiêu: "Đôi với giáo dục
phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công
dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thông,
đạo đức, lôi sông, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suôt
đời ..." [14].
Để tăng cường việc gắn liền dạy học trong nhà trường với thực tiễn cuộc
sông và góp phần hình thành kĩ năng giải quyết vấn đề của học sinh trung học, Bộ
Giáo dục và Đào tạo tiếp tục phát động và tổ chức cuộc thi "Vận dụng kiến thức
liên môn để giải quyết các tình huông thực tiễn", cuộc thi "khoa học kĩ thuật cấp
quôc gia" dành cho học sinh trung học nhằm khuyến khích học sinh vận dụng kiến
thức của các môn học khác nhau để giải quyết các tình huông thực tiễn; tăng cường
khả năng vận dụng tổng hợp, khả năng tự học, tự nghiên cứu, khả năng sáng tạo của
học sinh, thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thực hành trong nhà trường với

- Góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức trong dạy học nói chung, trong tổ chức dạy học Sinh học
nói riêng.
- Đề xuất được quy trình thiết kế và sử dụng các biện pháp dạy học để rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức trong dạy học phần Sinh học tế bào.
- Đề xuất được các giải pháp tổ chức, quản lí quá trình dạy học để rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức trong dạy học phần Sinh học tế bào.
8. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức phần sinh học tế bào vào thực tiễn cho
HS lớp 10 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
9. Cấu trúc luận văn
Phần I: Mở đầu
Phần II: Kết quả nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lí luận về thực tiễn của đề tài


5
Chương 2: Xây dựng và vận dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức để rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học phần
"Sinh học tế bào", Sinh học 10.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Phần III: Kết luận và đề nghị
Tài liệu tham khảo.
Phụ lục.


6
PHẦN II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận

Tóm lại, theo chúng tôi KN là năng lực hay khả năng của cá nhân vận dụng
cơ sở kiến thức đã có để thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động nhằm
tạo ra kết quả mong đợi.
1.1.1.2. Kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học
Học tập là loại hình hoạt động cơ bản, một loại hoạt động phức tạp của con
người. Muôn học tập có kết quả, con người cần phải có một hệ thông kỹ năng
chuyên biệt gọi là kỹ năng học tập. Theo các nhà tâm lý học, kỹ năng học tập là khả
năng của con người thực hiện có kết quả các hành động học tập phù hợp với điều
kiện và hoàn cảnh nhất định, nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ đề ra. Các KN học
tập phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến việc thu thập, xử lý, sử dụng thông
tin; phục vụ chức năng tổ chức, tự điều chỉnh quá trình học tập liên quan đến việc
quản lý phương tiện học tập, thời gian, sự hỗ trợ từ bên ngoài và chất lượng; phục
vụ chức năng tương tác trong học tập hợp tác ... trong đó KN vận dụng kiến thức
vào thực tiễn chính là mục tiêu của quá trình dạy học, là KN học tập ở mức cao
nhất.
Khi một kiến thức đã học được nếu biết vận dụng và vận dụng thành công thì
lúc đó kiến thức ấy đã nhuần nhuyễn, và thực sự là của mình.
Người xưa đã từng nói :
- “Học phải đi đôi với hành” .
- “Học rộng điều gì, không bằng biết phần côt yếu của điều ấy; biết phần côt
yếu của điều ấy, không bằng thực hành điều ấy” (Chu Hy).
- “Biết không phải là khó; Làm mới khó ” (Kinh Thư).
- “Vi học chi tự: bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, dôc
hành chi” có nghĩa là:
“Việc học phải có thứ tự: phải học rộng, phải hỏi kỹ, phải nghĩ chín, phải suy
xét, phải có thực hành ” (Sách Tính lý).
Giáo dục, với chức năng chuẩn bị lực lượng lao động cho xã hội, chắc chắn
phải có những sự chuyển biến to lớn, tương ứng với tình hình. Hội đồng quôc tế về
Giáo dục cho thế kỷ 21 được UNESCO thành lập 1993 do Jacques Delors lãnh đạo,
nhằm hỗ trợ các nước trong việc tìm tòi cách thức tôt nhất để kiến tạo lại nền giáo

1.1.2.3. Vai trò của kĩ năng vận dụng kiến thức trong dạy học.
* Vận dụng kiến thức là khâu quan trọng nhất của quá trình nhận thức và học
tập [4].
Quá trình nhận thức học tập diễn ra theo các cấp độ sau:
+ Tri giác tài liệu: là giai đoạn khởi đầu nhưng có ý nghĩa định hướng cho
cả quá trình nhận thức về sau.
+ Thông hiểu tài liệu: là giai đoạn chiếm lĩnh kiến thức ở mức độ đơn giản
nhất.
+ Ghi nhớ kiến thức: là giai đoạn hiểu kiến thức một cách thấu đáo và đầy đủ
hơn.
+ Luyện tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn.


10
Mỗi cấp độ có một tác dụng riêng, một thế mạnh riêng nhưng đều có môi
quan hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một quá trình nhận thức, học tập toàn vẹn,
trong đó cấp độ vận dụng kiến thức là thước đo hiệu quả nhận thức, học tập của học
sinh.
Tầm quan trọng của việc vận dụng kiến thức không chỉ đôi với quá trình
thực hành ứng dụng mà còn có ý nghĩa ngay cả với quá trình tiếp nhận thêm tri thức
mới. Muôn đạt đến kiến thức mới thì cũng phải biết vận dụng kiến thức cũ, kiến
thức cũ vôn là mục đích trong lần học trước nay trở thành phương tiện cho lần học
này hoặc cũng có thể muôn có những KN mới thì phải vận dụng được thành thạo
những KN cũ.
Vận dụng kiến thức còn là cơ sở cho sự sáng tạo kĩ thuật, tạo ra các giải pháp
khoa học góp phần nâng cao nhận thức, cải tạo thực tiễn, cải tạo thế giới.
* Vận dụng kiến thức đòi hỏi sự huy động tổng hợp nhiều năng lực của
người học, hình thành và phát triển KN tư duy sáng tạo.
- Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với các
yêu cầu của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động có kết quả [58].

1. Phát hiện vấn đề
2. Hiểu vấn đề
3. Giải quyết vấn đề
Khi người học vận dụng kiến thức vào một đôi tượng, một tình huông cụ thể,
con người cần phải phát huy hết năng lực tư duy của mình. Từ chỗ tự mình phát
hiện ra vấn đề đến quá trình tìm hiểu, suy luận, phân tích, khái quát hóa … để vận
dụng giải quyết vấn đề đều thể hiện tư duy của học sinh ở các cấp độ khác nhau.
Quá trình lĩnh hội kiến thức và vận dụng kiến thức vào thực tiễn cũng như
hiệu quả của việc vận dụng kiến thức thể hiện những phẩm chất tư duy của học
sinh. Vì vậy mà ở mỗi người học khả năng vận dụng kiến thức là khác nhau do
năng lực tư duy của mỗi em là khác nhau. [4].
* KN vận dụng kiến thức là một phẩm chất, một tiêu chí của mục tiêu đào tạo
con người năng động, sáng tạo trong nhà trường
Trong nhà trường chúng ta hiện nay, vẫn còn nhiều học sinh có khả năng tiếp
thu kiến thức, trình bày lại nội dung bài học một cách khá đầy đủ những nội dung từ
thầy cô giáo truyền đạt hoặc đã đọc từ SGK, tài liệu nhưng lại rất lúng túng khi vận
dụng kiến thức vào các vấn đề thực tiễn cuộc sông.
Để khắc phục tình trạng đó, chúng ta nên tăng cường công tác thực hành, gắn
kiến thức với thực tiễn thông qua các bài tập tình huông, các hiện tượng thực tiễn
liên quan đến bài học ... Khi thực hành buộc học sinh phải phát huy mọi năng lực để
vận dụng kiến thức sao cho có hiệu quả. Khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức


12
của các môn học khác nhau để giải quyết các tình huông thực tiễn; tăng cường khả
năng vận dụng tổng hợp, khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh; thúc đẩy việc
gắn kiến thức lý thuyết và thực hành trong nhà trường với thực tiễn đời sông. Cho
nên việc rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong giờ học là rất
phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường hiện nay.
1.1.2.4. Một số định hướng rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho

Trần Khánh Ngọc (2007), Xây dựng bộ tư liệu hỗ trợ dạy học Sinh học 10 THPT.
Tạp chí Giáo dục, sô 163.
Hoàng Thị Song Thao (2010), Rèn luyện các thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp
cho học sinh thông qua dạy học phần sinh học tế bào, Sinh học 10 THPT. Luận văn Thạc
sĩ giáo dục, Đại học Vinh.
Trần Thị Ái Huế (2010), Xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập để dạy học chuyên
đề sinh học tế bào cho học sinh trường chuyên. Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Vinh.
Nguyễn Hữu Sum (2011): Sử dụng hoạt động khám phá để dạy học phần sinh học
tế bào – lớp 10 trung học phổ thông. Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Vinh.
Nguyễn Thị Thu Huyền, Lê Đình Trung và Nguyễn Đức Thành (2011), Kiểm
tra kiến thức học sinh bằng câu hỏi tự luận ngắn để lựa chọn phương án nhiễu cho câu hỏi
trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học Sinh học 10. Tạp chí Giáo dục.
Lương Thị Ngọc Hoàn (2012), Rèn luyện năng lực tự học cho học sinh trường phổ
thông dân tộc nội trú tỉnh Nghệ An trong dạy học chương II, III "sinh học tế bào", bậc
THPT. Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Vinh.
Nguyễn Thị Thu Hà (2012), Sử dụng sơ đồ tư duy để thiết kế bài giảng chương
cấu trúc tế bào, Sinh học 10 (ban cơ bản) nhằm nâng cao nhận thức của học sinh. Luận
văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Giáo dục, Đại học Quôc gia Hà Nội.
Nguyễn Thị Thu Hương (2012), Xây dựng và sử dụng câu hỏi khách quan nhiều
lựa chọn trong dạy kiến thức mới phần "Sinh học tế bào" (chương I, II), Sinh học 10
THPT. Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Giáo dục, Đại học Quôc gia Hà Nội.
Lê Thị Minh (2012), Xây dựng và sử dụng câu hỏi - bài tập theo hướng phát huy
tính tích cực của HS trong dạy học phần "Sinh học tế bào", Sinh học 10 THPT. Luận văn
Thạc sĩ giáo dục, Đại học Giáo dục, Đại học Quôc gia Hà Nội.
Nguyễn Quỳnh Anh (2013), Phát triển năng lực hệ thống hóa kiến thức cho HS
bằng biện pháp khái quát hóa trong dạy học phần "Sinh học tế bào", Sinh học 10 THPT.
Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Giáo dục, Đại học Quôc gia Hà Nội.
Đỗ Thùy Linh (2013), Phát triển khái niệm bằng biện pháp sơ đồ hóa trong dạy
học phần "Sinh học tế bào", Sinh học 10 THPT. Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Đại học Giáo
dục, Đại học Quôc gia Hà Nội.

gồm:
1. Giáo viên có tác phong chuẩn mực, tự chủ, thân thiện.
2. Giáo viên bám sát chuẩn kiến thức, KN, chương trình môn học.
3. Giáo viên thực hiện 2 giảm, 2 tăng (giảm thuyết trình và giảm căng


15
thẳng; tăng hoạt động và hứng thú cho học sinh).
4. Giáo viên hướng dẫn sử dụng hợp lí sách giáo khoa và các tài liệu dạy
học trên lớp.
5. Giáo viên khai thác tôt thiết bị dạy học và gắn bài giảng với thực tiễn.
6. Học sinh hứng thú, tích cực, chủ động xây dựng bài.
7. Học sinh hứng thú học cá nhân với học tập tương tác, hợp tác theo
nhóm.
8. Học sinh được trực quan, thực hành, liên hệ thực tiễn.
9. Học sinh được lồng ghép rèn luyện KN sông.
10. Học sinh được phát triển phương pháp tự học, phương pháp tư duy và
KN tự đánh giá.
- Các phương pháp dạy học tích cực phát triển KN ứng dụng kiến thức vào
thực tiễn trong dạy học môn Sinh học
+ Phương pháp trường hợp (Phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương
pháp tình huông) [54]
Phương pháp trường hợp là một PPDH, trong đó HS tự lực nghiên cứu một
tình huông thực tiễn và giải quyết các vấn đề mà tình huông đó đặt ra, hình thức làm
việc chủ yếu là làm việc nhóm. Đây là phương pháp điển hình của dạy học giải
quyết vấn đề.
Phương pháp trường hợp đề cập đến một tình huông từ thực tiễn cuộc sông,
những tính huông đó chứa đựng vấn đề cần giải quyết.
+ Sử dụng PPDH theo dự án [54]
Dạy học theo dự án là một phương pháp hay một hình thức dạy học, trong

* Qua sử dụng phiếu thăm dò ý kiến về phương pháp dạy học của 56 giáo
viên Sinh học tham gia lớp tập huấn chuyên môn do Sở GD&ĐT Hà Tĩnh tổ chức
tháng 8 năm 2013, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1.1. Kết quả điều tra về phương pháp dạy học của GV
Mức độ sử dụng
TT

Phương pháp

Thường xuyên

Không thường

Không sử

xuyên
Số
Tỉ lệ

dụng
Số
Tỉ lệ

Số

Tỉ lệ

lượng
7


8

14.29

3

mô hình.
Vấn đáp tái hiện, thông

33

58.93

17

30.36

6

10.71


17

4
5
6
7
8
9


29

51.79

16

28.57

24

42.86

23

41.07

9

16.07

15

26.79

22

39.29

19

57.14
3.57

Bảng 1.2. Kết quả điều tra về rèn luyện KN vận dụng kiến thức sinh học
vào thực tiễn cho HS
TT

1

2

Số

Tỉ lệ

lượng
0
23

(%)
0.00
41.07

33

58.93

0
0


sinh học là
Trong quá trình dạy học sinh Thuyết trình
Nêu vấn đề
học, quý thầy (cô) chủ yếu sử
Tự làm việc với SGK

0

0.00

12
22
9

21.43
39.29
16.07

Câu hỏi

Quý thầy (cô) có ghe nói đến Thường xuyên
Thỉnh thoảng
khái niệm KNVD kiến thức
Chưa bao giờ
vào thực tiễn không?
Quý thầy (cô) đã từng tham Thường xuyên
Thỉnh thoảng
gia khóa học nào về rèn
luyện KNVD kiến thức vào
thực tiễn cho HS trong dạy

23.21

0
15
17

0.00
26.79
30.36

16

28.57

8

14.29

thức vào thực tiễn cho HS?
(GV được chọn 1 đến 2

Ý kiên khác

phương án)

6

Thầy đọc, trò chép
Quý thầy (cô) cho biết HS Có sử dụng thí nghiệm
Có ứng dụng CNTT

nhiều

hiện

tượng thực tiễn liên quan
nhưng chưa nắm rõ bản
chất; đòi hỏi GV và HS
phải có kiến thức liên
môn vững vàng thì mới
đạt hiệu quả cao.


19
Bảng 1.3. Kết quả điều tra về việc rèn luyện KNVD kiến thức vào thực
tiễn cho HS trong dạy học phần “Sinh học tế bào”, Sinh học 10 của GV Sinh
học.
TT

Câu hỏi

Số

Tỉ lệ

lượng

(%)

8


24

42.86

Mức độ

Quý thầy (cô) cho biết, để
chuẩn bị cho bài mới, ngoài
yêu cầu học sinh về nhà làm Thường xuyên
các bài tập trong sách giáo
khoa và sách bài tập, việc
chú ý vào việc giao nhiệm
1

vụ cho các em về nhà tìm
hiểu cuộc sông, môi trường
xung quanh về các vấn đề có
liên quan đến kiến thức trong
bài giảng kế tiếp để học sinh
có tâm thế vào bài mới một
cách hứng thú hơn là
Quý thầy (cô) cho biết, trong

quá trình hình thành kiến Thường xuyên
thức mới, việc đưa ra các câu
2

hỏi, các tình huông có vấn Thỉnh thoảng
đề gắn liền với thực tiễn để
học sinh liên tưởng và áp Chưa bao giờ


bài học hay không?

Chưa bao giờ

14

25.00

Đã tham gia nhiều lần

4

7.14

9

16.07

Mới chỉ nghe nói

38

67.86

Chưa bao giờ

5

8.93

Thuyết trình (GV trình bày
kiến thức, HS nghe)
Giải thích minh họa (GV

xuyên

Mức độ sử dụng
Không
thường
xuyên
Số
Tỉ lệ

Số

Tỉ lệ

lượng

(%)

lượng

54

32.14

Không sử
dụng
Số


16.67

3

ảnh rồi giải thích)
Vấn đáp tái hiện, thông báo

66

39.29

74

44.05

28

16.67

(GV hỏi về các kiến thức đã
học, thông báo kiến thức


21
mới)
Hướng dẫn HS tự nghiên
4

5


30

17.86

69

41.07

81

48.21

18

10.71

42

25.00

88

52.38

38

22.62

23


24

14.29

duy, suy nghĩ trả lời)
Dạy học có sử dụng bài tập
tình huông (GV nêu bài tập
7

tình huông, yêu cầu HS
nghiên cứu, vận dụng kiến
thức để trả lời)
Dạy học có sử dụng bài tập
liên hệ với thực tiễn (GV

8

nêu các bài tập, hiện tượng
thực tiễn có liên quan, yêu
cầu HS vận dụng kiến thức
trả lời)
Dạy học theo dự án (GV
nêu 1 chủ đề, yêu cầu một

9

nhóm HS cùng nhau thực
hiện thông qua các đề tài,


dạy học sinh học (Bảng 1.2) còn khá mới lạ đôi với GV, thậm chí có GV còn chưa
biết tới KN này, và 100% GV đều khẳng định chưa được đào tạo hay tập huấn một
khóa nào về phương pháp dạy học này.
Nhưng điều đáng mừng là 100% GV đều nhận thức được và cho rằng việc rèn
luyện KNVD kiến thức vào thực tiễn cho HS là cần thiết (66,07%), rất cần thiết (33,93%);
đã có nhiều GV đã chú ý rèn KNVD kiến thức vào thực tiễn cho HS (53,58%), mặc dù
phần nhiều trong sô đó chưa được quan tâm thường xuyên (42,86%).
3. Về thực trạng rèn luyện KNVD kiến thức vào thực tiễn cho HS trong dạy
học phần "Sinh học tế bào", Sinh học 10: Qua kết quả điều tra (Bảng 1.3; 1.4 và
phỏng vấn trực tiếp) cho thấy trong quá trình giảng dạy hầu hết các thầy cô thường
chỉ tập trung vào các kiến thức và KN cần nắm trong bài để phục vụ cho kiểm tra,
cho thi cử mà chưa thực sự quan tâm đến việc rèn luyện KN vận dụng kiến thức
Sinh học vào thực tiễn cho học sinh. Cụ thể là:
- Để chuẩn bị cho bài mới, thầy (cô) chỉ yêu cầu học sinh về nhà làm các bài
tập trong sách giáo khoa và sách bài tập, một sô thầy (cô) ra thêm một sô bài tập
nâng cao thêm mà chưa chú ý vào việc giao nhiệm vụ cho các em về nhà tìm hiểu


23
cuộc sông, môi trường xung quanh về các vấn đề có liên quan đến kiến thức trong
bài giảng kế tiếp (48,21%) để học sinh có tâm thế vào bài mới một cách hứng thú
hơn.
- Trong quá trình hình thành kiến thức mới, thầy (cô) chưa thường xuyên đưa
ra các câu hỏi, các tình huông có vấn đề gắn liền với thực tiễn để học sinh liên
tưởng và áp dụng (39,29%); và phần nhiều GV chưa hướng dẫn HS tìm kiến thức
liên hệ thực tiễn để chuẩn bị cho bài mới (32,14%).
- Nhiều thầy (cô) chưa chú ý dành thời gian để cho các em đưa ra những
khúc mắc, những câu hỏi để giải đáp cho các em về những hiện tượng các em quan
sát được trong đời sông (37,5%).
- Trong các giờ học nói chung, những mâu thuẫn mà các em tìm được trong

quan sát mẫu, làm thử. Hành động càng phức tạp sự tập dượt càng phải nhiều.
Muôn kĩ năng có sự ổn định, mềm dẻo, có thể vận dụng vào các điều kiện tương tự,
sự tập dượt càng phải đa dạng.
Theo X.I. Kixegops quá trình rèn luyện kĩ năng gồm 5 giai đoạn là người học
được giới thiệu cho biết về hành động sắp phải thực hiện, diễn đạt các qui tắc lĩnh
hội hoặc tái hiện lại những hiểu biết mà dựa vào đó các kĩ năng, kĩ xảo được tạo ra,
trình bày mẫu hành động, người học tiếp thu hành động một cách thực tiễn; đưa ra
các bài tập độc lập và có hệ thông. Trong các giai đoạn trên giai đoạn trình bày mẫu
hành động là rất cần thiết nhưng không được gây cho người học sự bắt chước máy
GV giới thiệu ý nghĩa, bản chất, yêu cầu
móc. Các giai đoạn phảicủa
được
kết hợp
đảmtiễn
bảo tính mềm dẻo và tính di
KNVD
kiếnchặt
thứcchẽ
vàođểthực
chuyển của các kĩ năng [59].
Theo quan điểm của các tác giả nói trên, chúng tôi cho rằng qui trình rèn
luyện KNVD kiến thức vào thực tiễn cho HS gồm các bước sau:
GV lấy ví dụ, làm mẫu, HS chú ý lắng
nghe, quan sát

Tổ chức các hoạt động để HS rèn luyện
KNVD kiến thức vào thực tiễn

HS thảo luận, tổ chức, thực hiện KNVD
kiến thức vào thực tiễn

học tập của người học và các lĩnh vực cần phải được cải tiến.
KNVD kiến thức vào thực tiễn là mục tiêu hướng tới của quá trình dạy học.
Để đánh giá được kết quả quá trình dạy học một cách chính xác chúng ta cần thiết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status