I. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài:
Năm học 2016 – 2017 trong kỳ thi THPT Quốc gia môn Sinh học là môn thi
thuộc bài thi tổ hợp tự nhiên. Những năm trước trong kỳ thi THPT Quốc gia thì
môn Sinh học chủ yếu tập trung dung lượng kiến thức của khối lớp 12. Tuy nhiên
do đổi mới và yêu cầu của giáo dục hiện nay, chương trình thi kiểm tra kiến thức sẽ
rộng hơn, bao gồm cả kiến thứ khối 10, khối 11.
Sinh học là môn học có dung lượng kiến thức rất rộng. Để nắm vững toàn bộ
kiến thức chương trình sinh học của THPT là một trong những khó khăn không
nhỏ cho học sinh tham gia kì thi THPT Quốc gia( THPT QG), vì nó đòi hỏi tổng
hợp, ghi nhớ, vận dụng kiến thức xuyên suốt 3 năm học tại trường THPT.
Vì đây là một trong những đổi mới trong các học cách dạy của Bộ giáo dục,
nên tài liệu hướng dẫn cho việc ôn thi THPT QG trong nội dung chương trình 11 và
10 còn rất ít, và không được quan tâm nhiều. Mặt khác học sinh còn phải tập trung
học nhiều môn học để phục vụ kì thi, thời gian ôn luyện dành cho mỗi môn thi là có
hạn.
Để khắc phục những khó khăn cho học sinh trong việc hệ thống và nắm rõ
nội dung kiến thức sinh học từ lớp 10 cần giúp các em tìm ra được một phương
pháp học tập hiệu quả, có thể hệ thống đầy đủ, ghi nhớ kiến thức dễ dàng và tiết
kiệm thời gian. Đó là mong muốn và trăn trở của bản thân tôi, một giáo viên(GV)
đang làm công tác giảng dạy môn Sinh học ở trường THPT. Vì vậy qua thực tế
giảng dạy tại khối 10 và khối 11 trường THPT nhiều năm, năm học 2016-2017 tôi
đã đề xuất phương pháp : Sử dụng và hướng dẫn lập Bản đồ tư duy giúp học sinh
cũng cố, hệ thống hóa kiến thức các bài học trong chương IV- Sinh sản, Sinh
học 11 cơ bản”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm lí của HS THPT, khả năng tư duy
logic, khả năng ghi nhớ, phương pháp học của học sinh,… đề ra biện pháp giúp
học sinh phát triển sự ghi nhớ, khả năng ghi nhận hình ảnh của não bộ. Để ghi nhớ
chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ
phân nhánh.
kế BĐTD theo mạch tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe
như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác
nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung
nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng do đó
việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.[1]
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng
lưới liên tưởng (các nhánh). BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ
với nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố
kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương,... [1]
2.1.2. Ưu điểm của BĐTD
- Dễ nhìn, dễ viết.
- Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của HS.
- Phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não.
- Rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic.
- Sáng tạo hơn
- Tiết kiệm thời gian.
- Ghi nhớ tốt hơn
2
- Nhìn thấy bức tranh tổng thể
- Phát triển nhận thức, tư duy, …[1]
2.1.3. Vai trò của việc cũng cố và hệ thống kiến thức bài học:
Theo N.M.IACÔPLEP, củng cố bài là một khâu không thể thiếu trong quá
trình giảng dạy. Nó thể hiện được tính toàn vẹn của bài học. Thông qua việc củng
cố, ôn luyện mà giáo viên có thể khắc sâu kiến thức cho học sinh [3]. Bài học dù
hay, hấp dẫn đến đâu nếu không có củng cố thì chưa thể coi là thành công. Bởi vì
nếu không củng cố thì bài không sâu, học sinh dễ quên. Củng cố là giai đoạn giáo
viên chốt lại những tri thức và kĩ năng quan trọng đã truyền thụ, đồng thời đây là
khâu hình thành, rèn luyện và phát triển khả năng tư duy, sáng tạo cho học sinh. Vì
- Viết ngắn gọn.
- Viết có tổ chức.
- Viết lại theo ý của mình, nên chừa khoảng trống để có thể bổ sung ý (nếu
sau này cần). [1]
b, Phương tiện để thiết kế BĐTD.
Phương tiện khá đơn giản, chỉ cần giấy, bìa, bảng phụ, phấn màu, bút chì
màu, tẩy,…hoặc dùng phần mềm hỗ trợ như Mindmap, vì vậy có thể vận dụng với
bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay.
c, Các bước lập BĐTD
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
+ Chúng ta sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể
thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình.
Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
+ Sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh, đặc
biệt là các màu sắc bản thân yêu thích.
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng
sâu sắc về chủ đề.
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần
được làm nổi bật dễ nhớ
+ Chủ đề phải đủ to, rõ, nổi bật trọng tâm cần ghi nhớ.[7]
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi
bật.
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ
tỏa ra một cách dễ dàng.[7]
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ nên tận dụng các từ khóa và hình
- Nhiều học sinh học khối A chưa đầu tư, dành sự quan tâm, chưa chú ý, xem
thường hoặc học cho xong đối với bộ môn Sinh học. Nhưng nay thi theo tổ hợp
môn có thêm môn sinh học. Các em cảm thấy lo lắng và không biết nên bắt đầu ôn
tập như thế nào cho hiệu quả.
2.3. Giải quyết vấn đề.
2.3.1.Mục tiêu và nội dung chương IV Sinh sản – Sinh học 11 cơ bản.
* Mục tiêu dạy học về kiến thức:
- Nêu được sinh sản vô tính là sự sinh sản không có sự hợp nhất các giao tử đực và
giao tử cái (không có sự tái tổ hợp di truyền), con cái giống nhau và giống bố mẹ.
- Phân biệt được các kiểu sinh sản vô tính.
- Phân biệt được sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính.
- Nhận biết được sinh sản hữu tính ở thực vật có hoa.
- Trình bày được các khái niệm về sinh sản vô tính ở động vật.
- Nêu được các hình thức sinh sản vô tính ở động vật.
- Phân biệt được sinh sản vô tính và tái sinh các bộ phận của cơ thể.
- Mô tả được nguyên tắc nuôi cấy mô và nhân bản vô tính (nuôi mô sống, cấy mô
tách rời vào cơ thể, nhân bản vô tính ở động vật).
- Nêu được khái niệm về sinh sản hữu tính ở động vật.
- Phân biệt được các hình thức sinh sản hữu tính ở động vật (đẻ trứng, đẻ con).
5
- Nêu và phân biệt được chiều hướng tiến hoá trong sinh sản hữu tính ở động vật
(thụ tinh ngoài, thụ tinh trong, đẻ trứng, đẻ con).
- Trình bày được cơ chế điều hoà sinh sản.
- Nêu rõ những khả năng tự điều tiết quá trình sinh sản ở động vật và ở người.
- Nêu được khái niệm tăng sinh ở động vật.
- Phân biệt được điều khiển số con và điều khiển giới tính của đàn con ở động vật.
+ Nêu được vai trò của thụ tinh nhân tạo.
giản, dễ tổng kết lại kiến thức.
6
Như vậy, mỗi phương pháp trên có ưu, nhược điểm riêng. Tuy nhiên khi
dùng BĐTD, chúng ta có thể khắc phục được các nhược điểm, phát huy tối đa các
ưu điểm của các phương pháp ở trên. Sử dụng BĐTD gần như là một biện pháp có
thể kết hợp các phương pháp trên với nhau một cách linh hoạt, hiệu quả (Đó là
trò chơi, là sơ đồ tổng kết, có những câu hỏi củng cố…). Tôi nhận thấy rằng BĐTD
là công cụ tư duy mang tính tự nhiên, nếu vận dụng vào dạy học sẽ gây cảm hứng
và niềm say mê học tập cho HS. Đặc biệt, BĐTD rất phù hợp cho việc đọc, ôn tập,
ghi chú...
Có thể nói, phương pháp bản đồ tư duy được mệnh danh là công cụ vạn năng
cho bộ não. Đây là công cụ vô giá giúp cho HS trong việc thu thập, phân loại thông
tin [8]. Từ đó, tôi đã tiến hành sử dụng BĐTD và hướng dẫn HS lập bản đồ tư duy
để cũng cố bài học và hệ thống kiến thức.
2.3.3. Sử dụng và hướng dẫn học sinh lập BĐTD trong cũng cố và hệ thống kiến
thức:
- Cho HS làm quen với bản đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho HS một số “bản đồ”
cùng với dẫn dắt của GV để các em làm quen.
- Tập “đọc hiểu” BĐTD, sao cho chỉ cần nhìn vào BĐTD bất kỳ HS nào cũng có
thể thuyết trình được nội dung một bài học hay một chủ đề, một chương theo mạch
lôgic của kiến thức.
- Hướng cho HS có thói quen khi tư duy lôgic theo hình thức sơ đồ hoá trên
BĐTD.
- Từ nội dung bài học HS xác định được từ khóa, các ý lớn thứ nhất, ý lớn thứ hai,
thứ ba... mỗi ý lớn lại có các ý nhỏ liên quan với nó, mỗi ý nhỏ lại có các ý nhỏ hơn
... các nhánh này như “bố mẹ” rồi “con, cháu, chắt, chút chít”... các đường nhánh
có thể là đường thẳng hay đường cong
- Cho HS thực hành vẽ BĐTD trên giấy theo cách hiểu của các em.
Dạng sơ đồ thứ 2:
FSH
GnRH
Kích thích ống sinh tinh sản
xuất tinh trùng
TUYẾN YÊN
LH
VÙNG DƯỚI
ĐỒI
Kích thích
TB kẽ
Hooc môn
testoteron
ức chế ngược
Nhóm 2: Cơ chế điều hòa sinh trứng
VÙNG DƯỚI ĐỒI
GnRH
TUYẾN YÊN
LH
có thể có chỗ chưa đúng theo yêu cầu. Nhưng các em rất hứng thú khi được học
với hình thức này, học sinh dưới lớp theo dõi rất chăm chú. Bên cạnh đó còn giúp
HS rèn luyện khả năng thuyết trình, diễn giải khi các em trình bày về BĐTD của
nhóm Sau đó, GV khuyến khích, gợi mở, hướng dẫn các em hoàn thiện đúng sơ đồ
chuẩn. Cuối cùng GV trình chiếu BĐTD đã chuẩn bị bằng phần mềm và khắc sâu
kiến thức trọng tâm 1 lần nữa.
Vùng
dưới đồi
Gn
Rh
Tuyến
yên
FS
L
H
h
Nang trứng
phát triển,
Ơstrogen
trứng
chín,
rụng
Ơstrogen
Một số hình ảnh về BĐTD do học sinh thực hiện với bài tập trên.
Hệ thống hóa kiến thức nhóm bài hoặc cả chương thông qua BĐTD :
- Hệ thống hóa sau mỗi bài học có thể tiến hành trong phần cũng cố( như đã
trình bày ở trên) hoặc GV hướng dẫn để học sinh tự lập BĐTD ở nhà và kiểm tra
vào phần kiểm tra bài cũ của tiết học tiếp theo hoặc bài ôn tập.
15
- Hệ thống hóa kiến thức nhóm bài hoặc cả chương bằng BĐTD trong tiết
ôn tập có thể tiến hành theo các bước sau:
Bước 1. Lập BĐTD theo nhóm bài hoặc chương.
Bước 2. Trình bày BĐTD của nhóm, Thảo luận.
Bước 3. Tổng kết.
Bước 1. Thông thường GV giao cho HS( cá nhân hoặc nhóm) hoàn thiện
BĐTD ở nhà.
Bước 2. Trong tiết ôn tập trên lớp, HS đại điện các nhóm đã phân công lên
trình bày nội dung, ý tưởng đã sắp xếp trong BĐTD của mình ( nhóm mình). HS
khác và GV đánh giá, góp yù, bổ sung những nội dung còn thiếu trong những phần
đã học trong BĐTD. Qua phần này còn giúp GV kiểm tra sự chuẩn bị cũng như
kiểm tra sự ghi nhớ, liên kết các kiến thức đã học của HS.
Bước 3. Hình thành BĐTD chuẩn (GV chuẩn bị sơ đồ chuẩn). HS hoàn thiện
BĐTD của mình( bổ sung, chỉnh sửa...). GV hướng dẫn HS ôn tập theo những chủ
điểm đã có trong BĐTD.
Về mặt thời gian:
- Nên quy định về thời gian trình bày ý tưởng BĐTD của mỗi nhóm(3-5 phút
hoặc dài hơn) tùy theo nội dung kiến thức của nhóm bài và chương. Quy định như
vậy để các em biết cách tô liệu, cô đọng kiến thức sắp xếp cho phù hợp với quỹ
thời gian đã cho.
- Sau khi đã quan sát BĐTD, HS tái hiện được kiến thức đã học một cách
đầy đủ.
- Đa số HS tự vẽ được BĐTD sau khi đã học xong nội dung kiến thức và có
thể liến kết kiến thức nhiều bài một cách hệ thống.
- Kĩ năng thuyết trình, hoạt động nhóm tốt hơn rất nhiều so với trước khi áp
dụng.
- Thông qua hệ thống bản đồ tư duy này các em học sinh có thể lưu lại để
làm tài liệu ôn tập THPT QG cho năm lớp 12.
Kết quả cụ thể.
Sau khi áp dụng BĐTD vào phần cũng cố và hệ thống hóa kiến thức các bài
học của chương IV- Sinh sản ở 2 lớp 11B1 và 11B3. Kết quả kiểm tra ngẫu nhiên
30 học sinh của cả 2 lớp trên về khả năng ghi nhớ, tái hiện và hệ thống kiến thức.
Thống kê được kết quả như sau:
- 30/30 (100%) HS sau khi đã quan sát BĐTD tái hiện lại kiến thức trình bày
trong BĐTD.
- 26/30 (86,6%) HS tự lập được BĐTD sau khi đã học xong nội dung kiến
thức
- 24/30 (80 %) HS lập được BĐTD liên kết được các nội dung kiến thức của
nhiều bài đã học hoặc cả chương đã đã học.
Kết quả bài khảo sát hết chương IV của 4 lớp 11B1 ,11B3 (Sử dụng BĐTD)
và 11B2, 11B4 (Không sử dụng BĐTD) (từng nhóm 2 lớp có số HS và lực học
tương đương) cụ thể qua bảng so sánh sau:
Lớp
11 B1(TN)
11 B2 (ĐC)
Lớp
11 B3(TN)
Sĩ số
44
Dưới 3,5
0
0
3,5-4,5
2
Dưới 3,5
0
18
11 B4 (ĐC) 45
3
19
15
7
1
Nhận xét
Áp dụng BĐTD học sinh điểm khá, giỏi tăng, HS yếu, kém giảm
3.2. Kiến nghị
Để đáp ứng được mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học đặc biệt là với
môn Sinh học và hướng dẫn học sinh phương pháp ôn tập hiệu quả, tôi có một số
kiến nghị sau:
- Vận dụng BĐTD vào việc hệ thống hóa kiến thức bài học, các chương,
trong chương trình Sinh học THPT.
- Nhà trường, tổ chuyên môn cần có những chuyên đề, thảo luận về sử dụng
BĐTD và xây dựng thư viện BĐTD để GV và HS có thể khai thác, sử dụng.
- Cần có sự đầu tư cơ sở vật chất, phòng bộ môn, đồ dùng, mẫu vật, máy
tính, máy chiếu....để có thể áp dụng các PPDH hiệu quả trong đó có BĐTD.
Lao động Xã hội - 2008)
[8]. Bản đồ tư duy - Khai thác tối đa tiềm năng bộ não của trẻ (http://www Báo
mới.com)
*Bản đồ tư duy trong SKKN này được vẽ trên phần mềm iMindMap8
20
21