Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học bài 8 + 9 + 10 tế bào nhân thực SH10 nhằm phát triển một số năng lực chung cho học sinh THPT - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT ĐẶNG THAI MAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI
TRONG DẠY HỌC BÀI 8 +9+ 10 “TẾ BÀO NHÂN THỰC”- SH10
NHẰM PHÁT TRIỂN MỘT SỐ “NĂNG LỰC CHUNG”
CHO HỌC SINH THPT

Người thực hiện: Vũ Thị Trọng
Chức vụ: TTCM
SKKN thuộc lĩnh vực: Sinh học

MỤC LỤC
Trang
THANH HOÁ, NĂM 2017


MỤC LỤC
Trang
Phần I. Mở đầu
2
1. Lí do chon đề tài
2
2. Mục đích nghiên cứu
4
3. Đối tượng nghiên cứu
4
4. Phương pháp nghiên cứu


Phần I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu
cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự
nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định
hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính
hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình
thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định
hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng
tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học.
Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ
thông.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và học” [8]1. Để thực hiện tốt mục tiêu về
đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận
thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát
triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng
này.
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương
trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là
từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng

phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác
nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương
pháp học tập trong bộ môn.Trong đó, phương pháp học tập một cách tự lực đóng
vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh
Trong tất cả các môn học của chương trình THPT, có thể nói Sinh học là
môn học mà HS ngại học nhất và khó học nhất vì đó là môn khoa học thực
nghiệm, là môn khoa học tự nhiên nhưng lượng lí thuyết nhiều và khô khan, bài
tập ít. Gần như trong sách giáo khoa chỉ đề cập đến lí thuyết mà không có các
dạng bài tập cụ thể nên việc phát triển năng lực cho HS là một việc làm rất khó
khăn với giáo viên. Mặt khác trong những năm gần đây, xu thế đề thi môn Sinh
trong kỳ thi THPT Quốc gia ngày càng dài và khó, HS thi khối B thì mục tiêu
hàng đầu là vào các trường thuộc khối Y – Dược nhưng những trường này điểm
chuẩn rất cao, những trường khác thì cơ hội tìm kiếm việc làm khi ra trường là
rất thấp, do đó số HS chọn thi đại học khối B ngày càng ít, môn Sinh lại càng
không quan trọng với các em học sinh (có nhiều em có tâm lí đó là môn phụ nên
chỉ cần cố gắng để đạt điểm trung bình là tốt). Mặt khác, đề thi THPT Quốc Gia
của môn Sinh có nội dung kiến thức trọng tâm vào chương trình 12, chỉ có một
phần nhỏ liên quan đến chương trình Sinh học 10, nên đối với cả những HS
chọn khối B để thi THPT Quốc Gia chương trình Sinh học 10 cũng được quan
tâm một cách chiếu lệ, đặc biệt là chương “Cấu trúc tế bào”. Vì vậy việc tạo
hứng thú cho học sinh khi học Sinh học 10 là rất quan trọng, đòi hỏi mỗi thầy cô
giáo tìm được những phương pháp dạy học phù hợp, kích thích được tư duy tìm
tòi, sáng tạo của HS từ đó hình thành nên sự đam mê và tình yêu đối với bộ môn
Sinh học, để học sinh không quay lưng lại với môn Sinh học nói riêng và khối B
nói chung. Do đó nếu người dạy không đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)
theo hướng cho học sinh (HS) tìm tòi khám phá, từ đó tìm ra tri thức và tiếp
nhận tri thức một cách chủ động mà cứ giảng dạy theo phương pháp truyền
thống sẽ gây nhàm chán cho học sinh.
Xác định được nhiệm vụ trên, đội ngũ giáo viên ở các cấp học đã không
ngừng đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo

học bài 8+9+10 “Tế bào nhân thực” - Sinh học 10 nhằm phát triển mọt số “năng
lực chung” cho HS như năng lực tư duy sáng tạo, tự chủ; năng lực làm việc
nhóm; năng lực giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ...
3. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy học bài 8 +9 +10 “Tế bào nhân thực” chương trình sinh
học 10
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu và các công trình nghiên cứu đổi mới PPDH theo
hướng tích cực hóa việc học của học sinh.
- Nghiên cứu về cấu trúc và nội dung chương trình Sinh học 10 (Cấu trúc
tế bào).
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về các phương pháp, biện pháp thiết kế và sử
dụng phương pháp đóng vai trong nội dung bài 8 +9 + 10 “Tế bào nhân thực –
Sinh học 10” theo hướng phát nâng cao năng lực học tập của học sinh.
4.2. Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi, tiếp thu ý kiến của các đồng nghiệp để tham khảo ý kiến
làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài.
4.3. Phương pháp thực tập sư phạm
Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT, tiến hành theo quy trình của đề tài
nghiên cứu khoa học giáo dục để đánh giá hiệu quả của đề tài nghiên cứu.

5


4.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này để thống kê, xử lý, đánh giá kết quả thu được.

6


1.1.3. Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. [9]5
Thực tế giảng dạy môn Sinh học 10 ở trường THPT cho thấy việc sử dụng
các PPDH truyền thống càng làm cho HS có cách nhìn không thiện cảm về môn
học này, và nhiều HS ngày càng quay lưng lại với môn Sinh học nói riêng, với
khối B nói chung. Để tránh những hiện tượng này trong HS, việc mạnh dạn sử
dụng phương pháp đóng vai vào dạy học Sinh học 10 là rất cần thiết, đặc biệt
trong những năm gần đây với chương trình thay sách, đóng vai là phương pháp
được áp dụng khá phổ biến.

3

Đoạn “Phương pháp dạy học tích cực....... theo phương pháp thụ động” trích dẫn từ TLTK số 6
Đoạn “Năng lực chung....... làm chủ ngôn ngữ” trích dẫn từ TLTK số 8
5
Đoạn“Đóng vai....tình huống giả định” trích dẫn từ TLTK số 9
4

7


1.2. Ưu điểm của phương pháp đóng vai
Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau:
- HS được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ
trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh.
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh.
- Khích lệ sự thay đổi, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo
đức và chính trị xã hội.

hay chọn tình huống trong các nhóm đóng vai phải sát thực tế và đáp ứng mục
tiêu dạy học.
- GV giới thiệu vai diễn rõ mục đích, thống nhất tình huống.
6
7

Trích dẫn từ TLTK số 9
Trích dẫn từ TLTK số 9

8


- Tình huống nên để mở, GV không cho trước “kịch bản”, lời thoại.
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai.
- Người đóng vai phải hiểu rõ nhiệm vụ của mình trong bài tập đóng vai
để không lạc đề.
- Nên có các biện pháp khích lệ những HS nhút nhát tham gia.
- Nên hóa trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng
vai.
- Rút ra được kết luận sư phạm: ý đồ đưa ra tình huống để đóng vai, mục
đích của kịch bản, kết quả sư phạm thu được v.v...[9]8
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Thực trạng dạy học Sinh học 10 ở trường THPT
2.1.1. Thực trạng dạy học của giáo viên
Nhìn chung, giáo viên cải tiến đổi mới phương pháp như sử dụng: phương
pháp vấn đáp tìm tòi, trực quan tìm tòi, thảo luận nhóm… Tuy nhiên, việc sử
dụng các phương pháp trên không thường xuyên, đa phần giáo án chủ yếu là nội
dung bài học chứ chưa chú trọng đến phương pháp, rất ít câu hỏi tư duy. Chỉ sử
dụng hệ thống sơ đồ trong SGK để minh học cho bài học, mà không có thêm các
sơ đồ tự thiết kế từ nội dung SGK hay liên hệ thực tiễn. Chưa chú ý sử dụng các


tư duy, gây tranh luận thì không khí học tập sôi nổi hẳn, các em tích cực phát
biểu xây dựng bài, từ đó các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp, nói năng lưu loát
hơn, quản lí được thời gian tốt hơn và đặc biệt là chủ động hơn trong việc tiếp
nhận kiến thức.
2.2. Những nguyên nhân của thực trạng dạy và học Sinh học 10 ở
trường THPT hiện nay
Giáo viên ngại áp dụng các phương pháp mới vào quá trình dạy học. Bởi
để dạy học theo các phương pháp mới phát huy được tính tích cực của HS đòi
hỏi phải đầu tư thời gian, trí tuệ vào việc soạn giáo án. Đồng thời giáo viên phải
có năng lực tổ chức, điều khiển quá trình dạy học. Ở nhiều trường THPT chưa
có đủ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động học tập của bộ môn như: chưa có
phòng thực hành bộ môn, chưa có các đồ dùng dạy học cần thiết…
Bên cạnh đó một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng dạy và học
Sinh học 10 như trên là do hiện nay môn này không được HS coi là môn học
chính vì khó học nên rất nhiều em không sử dụng môn này để thi ĐH cũng
không thi tốt nghiệp, (đặc biệt là đối với trường tôi – chất lượng đầu vào không
cao, HS có tư duy tự nhiên yếu nên đa số các em chọn các môn xã hội để thi).
Đối với các em sử dụng môn Sinh để thi thường cũng không chú trọng tới
chương trình Sinh học 10 vì nội dung thi nằm ở chương trình 12 là chủ yếu. Từ
đó đã hình thành nên suy nghĩ buông lỏng, thả trôi trong ý thức học tập của
nhiều em HS.
3. Áp dụng phương pháp đóng vai vào dạy học bài 8+9+10 “Tế bào nhân
thực” – Sinh học 10.
Đối với ba bài học này với thời lượng chương trình theo phân phối là 2
tiết, nhưng theo quy định thì một tuần chỉ có 1 tiết Sinh, nên để sử dụng phương
pháp đóng vai, tôi đã xin đổi tiết để có 2 tiết liền nhau cho thích hợp. Về phần
cấu trúc của bài, tôi chia làm 3 phần lớn:
Phần I: Nhân tế bào
Phần II: Các bào quan trong tế bào chất.

Giáo viên phát đồ dùng gồm 1/4 tờ giấy A 0, 1 bút dạ, hộp bút màu và yêu
cầu các nhóm sau khi nghiên cứu các nguồn tài liệu tham khảo thì thực hiện các
công việc sau: chia tờ giấy được phát thành 3 phần, 1 phần ngoài cùng vẽ hình
minh họa về bào quan đó (công việc này các nhóm làm ở nhà), tóm tắt 2 nội
dung chính về cấu tạo và chức năng mà các nhóm đã được phân công nghiên
cứu (Công việc này các nhóm làm trong 8 phút tại lớp) lên 2 phần còn lại, sau
đó lên bảng để thi giới thiệu “về mình” cho cả lớp (xem như khán giả) sau khi
trình bày xong thì dán bảng tóm tắt của nhóm đã chuẩn bị lên bảng (trong thời
gian 3 phút)
Bước 2: Các nhóm thảo luận, phân công công việc như giáo viên yêu cầu,
riêng bạn được giao nhiệm vụ vẽ hình thì tiến hành vẽ hình ở nhà, các nội dung
còn lại tiến hành trên lớp học dựa trên các nội dung mà các bạn tìm hiểu được ở
nhà.
Bước 3: Các nhóm lên thể hiện sau khi được MC gọi đến nhóm mình.
Bước 4: Ban giám khảo cho điểm đánh giá
Bước 5: Trao giải
Bước 6: Giáo viên cho các nhóm thảo luận về bài thi của các nhóm sau đó
kết luận, nhận xét, đánh giá chung về cuộc thi
Bước 7: Giáo viên đưa ra nội dung tóm tắt của bài học thông qua bảng
phụ để HS đối chiếu với kết quả tìm hiểu của nhóm mình cũng như các nhóm
khác.
Bước 8: HS cả lớp hoàn thiện nội dung bài học vào vở.
Cách 2: Tổ chức một buổi phỏng vấn (Cách này có thể được áp dụng cho
toàn bộ nội dung của cả 3 bài )
Cách này được tổ chức theo trình tự sau:
Bước 1: Giáo viên chia lớp thành 9 nhóm nhỏ (4 – 5 HS ), tương ứng với
nhân + 7 bào quan + Màng sinh chất
Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư ký. Giáo viên yêu cầu trong thời gian 10
phút cả nhóm cùng nghiên cứu, soạn thảo “nội dung để trả lời phỏng vấn”, chọn
người đóng vai bào quan mà nhóm chịu trách nhiệm để trả lời phỏng vấn.

Thực hiện sự phân công nhiệm vụ của cô giáo ở tiết thứ 7 về việc tổ chức
cuộc thi "Tiếng nói của các bào quan” Hôm nay, lớp 10A1 long trọng tổ chức
hội thi này. Hội thi nhằm phát huy năng lực sáng tạo; khơi dậy niềm phấn khởi,
tình yêu đối với bộ môn Sinh học; đồng thời nâng cao ý thức học tập, quyết tâm
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao của tất cả các thành viên trong lớp.
Đến để chỉ đạo cuộc thi hôm nay, tôi xin trân trọng giới thiệu cô giáo Vũ Thị
Trọng
- Xin trân trọng giới thiệu sự có mặt của tất cả các thành viên của tập thể 10A1.
Tôi đề nghị chúng ta cho một tràng pháo tay chúc mừng
Là những người cầm cân nảy mực, những người đánh giá tài năng và trí
tuệ của các thí sinh hôm nay, tôi xin trân trọng giới thiệu các thành viên ban
giám khảo và ban thư kí.
I. Ban Giám khảo: 1. Bạn: Nguyễn Thị Nguyệt
2. Bạn Mai Hà Anh
3. Bạn Lê Khả Bảo
4. Bạn Nguyễn Thị Kim Ngân
II. Thư ký Bạn Mai Thị Quỳnh

12


Đề nghị chúng ta nhiệt liệt chúc mừng ban giám khảo, ban thư kí của cuộc
thi hôm nay .
Sau đây, tôi xin thông qua thể lệ cuộc thi: Sau thời gian chuẩn bị, mỗi tổ
phân công thành viên của tổ mình đóng vai bào quan mà tổ được phân công tìm
hiểu. Thành viên đó sẽ lên sân khấu để giới thiệu về mình, sau đó dán phần minh
họa bài thi lên bảng trong thời gian không quá 3phút. Phần dự thi sẽ được BGK
cho điểm vào phiếu điểm theo các tiêu chí: Thời gian (tối đa 10 điểm nếu quá
thời gian trừ đi nửa số điểm) nội dung và cách diễn đạt (Tối đa 30 điểm), bản
tóm tắt lưu lại trên bảng (Tối đa 10 điểm).

các đại phân tử cho tế bào như prôtêin và lipit. Cuộc sống hàng ngày và những
công việc của tôi là như vậy, rất mong các anh chị bào quan quan tâm và giúp
đỡ tôi. Cuối cùng xin cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe ”
MC: Tiếp theo là thí sinh số báo danh 03: Ty thể

13


Nội dung bài thi của thí sinh Ty thể do bạn Ngô Châu Giang đóng vai
“Xin chào mọi người! Như các bạn đã biết tim là bộ phận quan trọng duy trì sự
sống cho con người và động vật. Vốn dĩ tim có thể bơm máu đều đặn liên tục
trong suốt quá trình sống như vậy là nhờ tế bào cơ tim tập trung với số lượng
lớn bào quan đặc biệt đó là tôi – ty thể, Tôi là một bào quan có hai lớp màng
bao bọc. Màng ngoài trơn không gấp khúc, màng trong gấp khúc thành các mào
trên có nhiều loại enzim hô hấp. Trong cơ thế tôi có chất nền chứa ADN và
ribôxôm. Mọi người thường ví tôi như một nhà máy điện cung cấp năng lượng
cho hoạt động sống của tế bào dưới dạng ATP, do tôi sở hữu nhiều enzim hô
hấp tham gia vào quá trình chuyển hóa đường và các chất hữu cơ khác hành
ATP, cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của tế bào. Hình dạng, kích
thước và số lượng của họ hàng tôi ở các loại tế bào là khác nhau, tuy nhiên
chúng tôi đều có chức năng là nạp năng lượng. Tôi cũng như các anh em tôi rất
tự hào với vai trò của mình vì có thể nói nếu không có chúng tôi, động thực vật
bậc cao sẽ không tồn tại và phát triển được. Xin cảm ơn và mong tất cả mọi
người hãy cổ vũ cho tôi”
MC: Bào quan ribôxôm mang số báo danh 04
Nội dung bài thi của thí sinh ribôxôm do bạn Lương Thị Xuân đóng vai:
“Xin chào các bạn! Tôi có tên là ribôxôm, tôi rất vinh dự là bào quan có mặt ở
trong tất cả các loại tế bào sống. Cấu tạo của tôi gồm 2 tiểu phần, tiều phần
nhỏ đọc mARN trong khi tiểu phần lớn liên kết các axit amin để tạo thành chuỗi
poli peptit, Mỗi tiểu phần của tôi gồm 1 hoặc nhiều phân tử ARN ribôxôm và

và đây là những nét khái quát nhất về tôi”
MC: Xin được cảm ơn phần dự thi của thí sinh 05, tiếp theo là phần dự thi của
thí sinh Không bào
Nội dung bài thi của thí sinh không bào do bạn Lê Thị Linh đóng vai:
“Xin chào mọi người, tôi là không bào! tôi là một bào quan rất đặc biệt, tôi
không có hình dạng nhất định, hình dạng của tôi phụ thuộc vào nơi tôi có mặt,
Khi tế bào thực vật còn non hay trong tế bào động vật thì tôi rất nhỏ, khi tế bào
thực vật lớn, tôi trở thành một thể lớn hơn. Tôi được bọc bởi 1 lớp màng bên
trong chứa dịch không bào, tôi giống với cái túi có thể chứa nhiều thứ, chẳng
hạn. trong tế bào cánh hoa, tôi chứa các sắc tố tạo màu cho hoa để thu hút côn
trùng, không chỉ thế, tôi còn chứa các chất hữu cơ, các iôn khoáng tạo áp suất
thẩm thấu, trong các tế bào lá cây, tế bào ở đỉnh sinh trưởng tôi chứa các chất
dinh dưỡng hoặc các chất thải độc hại đối với một số tế bào ăn động vật. Sau
đây là những nét khái quát về tôi (dán nội dung nhóm chuẩn bị lên bảng)! Xin
cảm ơn tất cả mọi người!”
MC: Cuối cùng là phần dự thi của thí sinh mang số báo danh 07, bào quan
lizôxôm
Nội dung bài thi của thí sinh lizôxôm do bạn Lê Minh Quân đóng vai:
“Xin chào các bạn, tôi là lizôxôm- là bào quan quan trọng trong tế bào, ngày
hôm nay đến với cuộc thi này với mong muốn giới thiệu về bản thân để giúp các
bạn hiểu rõ hơn về tôi, Tôi được cấu tạo bởi một lớp màng bê trong chứa nhiều
enzim thủy phân, tôi có chức năng phân hủy các tế bào già, tế bào chết, tế bào
bị tổn thương không có khả năng phục hồi, tôi còn có thể phân cắt một số đại
phân tử hữu cơ như prôtêin, lipit, cacbohidrat...”
MC: Kính thưa quý vị! Sau phần thi sôi nổi đầy hào hứng cuộc thi “ Tiếng nói
của các bào quan” đã thành công tốt đẹp, và đây là thời điểm quan trọng nhất
của cuộc thi, tôi xin được công bố kết quả như sau:
Giải nhất thuộc về thí sinh Ty thể do bạn Ngô Châu Giang đóng vai
Thí sinh được giải nhì thuộc về thí sinh Lục lạp do bạn Bùi Thị Trúc đóng vai.
Thí sinh được giải 3 thuộc về 2 thí sinh bộ máy gôngi do bạn Lê Thị Mai Chi


H13: Hào hứng nhận giải thưởng

H14: GV hoàn thiện nội dung

4. Hiệu quả của sáng kiến
Qua quá trình thực nghiệm, tôi đã sử dụng phương pháp đóng vai theo
phương án trên vào dạy học bài 8+9+10 “Tế bào nhân thực – Sinh học 10”.
Bài này được dạy song song cùng thời gian và chéo nhau với 2 loại giáo
án
- Giáo án thực nghiệm có sử dụng phương pháp đóng vai vào soạn bài và
giảng dạy.
- Giáo án đối chứng không sử dụng phương pháp đóng vai.
Sau khi dạy xong bài một thời gian, để kiểm tra độ bền của kiến thức, tôi
tiến hành kiểm tra khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh bằng hệ thống câu
hỏi trong đề kiểm tra 1tiết ngay sau tiết này theo phân phối chương trình .
Bước đầu thu được kết quả cụ thể như sau:
4.1. Kết quả định lượng
- Lớp đối chứng (ĐC) : 10A2, 10A4
- Lớp thực nghiệm (TN): 10A1, 10A3
Lớp
Số
Số học sinh đạt điểm xi
HS 1
2
3
4
5
6
7

0
0
0

1
0
0

1
0
0

2
3
10
11
0
1
7
8
0
2
6
8
Bảng 1. Bảng tần suất

5
6
6


5

0
2
1

9
1
11

10
0
4

xi
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Lớp ĐC (%) 0 1.35 4.05 9.46 24.32 28.38 16.22 14.86 1.35
0
Lớp TN (%) 0
0
0 3.90 16.08 20.78 15.58 20.78 14.29 8.19



+ Lập luận rõ ràng, chặt chẽ. Tinh thần phối hợp làm việc trong nhóm tốt
+ Độc lập nhận thức, có khả năng “đóng vai”, trình bày vấn đề một cách
chủ động theo quan điểm riêng từng nhóm, không theo nguyên mẫu SGK hoặc
của giáo viên. Ví dụ: như nhóm của bạn Ngô Châu Giang, nhóm của bạn Bùi
Thị Trúc “đóng vai” lưu loát, sáng tạo…
+ Các em tham gia “đóng vai” với tinh thần say mê, hào hứng, không khí
giờ học thoải mái.
+ Tuy nhiên, vẫn còn một số ít học sinh chưa nắm vững nội dung bài học,
khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và vận dụng kiến thức chưa tốt, việc
thảo luận còn chiếu lệ, trình bày phần thi hời hợt.
4.3. Kết luận chung về thực nghiệm
Với kết quả thực nghiệm này, chúng tôi có thêm cơ sở thực tiễn để tin
tưởng vào khả năng ứng dụng phương pháp đóng vai theo hướng mà đề tài đã
chọn.
Qua thực nghiệm dạy học có sử dụng phương pháp đóng vai, tôi nhận
thấy:
- Hứng thú học tập của học sinh cao hơn, hoạt động thảo luận sôi nổi hơn
và hiệu quả cao hơn, kiến thức thu được của các em do có đầu tư nên sâu hơn,
HS tập trung để quan sát và phân tích, phát biểu xây dựng bài tốt hơn.
- Tăng cường thêm một số kỹ năng hoạt động học tập cho HS như quan
sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, kỹ năng làm việc độc lập, “đóng vai” và trình
bày một vấn đề trước tập thể.
- Hoạt động của giáo viên nhẹ nhàng, thuận lợi hơn để có thể tập trung
vào việc đưa HS vào trung tâm của hoạt động dạy học. Thông qua phương pháp
đóng vai, HS trong nhóm và giữa các nhóm phát biểu ý kiến, tranh luận, bổ sung
cho những người “đóng vai” tạo không khí học tập rất tích cực, nâng cao hiệu
quả tiếp thu, lĩnh hội tri thức của HS.
Do giới hạn về thời gian cũng như các điều kiện khác nên tôi chưa thực

học Sinh học 10 theo hướng nghiên cứu của đề tài này có thể áp dụng vào nhiều
bài trong chương trình Sinh học THPT và các môn học khác.
2. Kiến nghị
Qua nghiên cứu đề tài này, chúng tôi rút ra một số kiến nghị sau:
- Cần phát huy tối đa vai trò của phương pháp đóng vai
- GV cần có biện pháp cụ thể để rèn luyện kỹ năng “đóng vai” cho HS
lĩnh hội tri thức trong dạy học bài 8+9+10 “Tế bào nhân thực”.
- Cần nghiên cứu sử dụng phương pháp đóng vai cụ thể phù hợp đối với
từng đối tượng HS (trình độ trung bình hay khá, giỏi).
- Do số lượng HS ở lớp tôi nghiên cứu có số lượng HS phù hợp nên hiệu
quả tương đối tốt, phương pháp này không phù hợp với những lớp có số lượng
HS đông (lớn hơn 40 HS)
- Do trình độ HS nơi nghiên cứu đề tài thấp nên hiệu quả còn hạn chế vì
vậy cần nghiên cứu thêm ở những nơi có trình độ HS khá, giỏi để so sánh hiệu
quả.
- Khi sử dụng phương pháp đóng vai cần dành thời gian phù hợp cho việc
xây dựng “kịch bản” và “đóng vai”. Đồng thời có biện pháp kích thích những
HS khác tham gia “chất vấn”, đặc biệt là những học sinh nhút nhát.
- Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp đóng vai trong
dạy học Sinh học 10, đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư thiết kế để tạo cho HS
hứng thú và học tập tốt hơn.
- Do thời gian có hạn nên tôi mới đi sâu thiết kế, sử dụng phương pháp
đóng vai vào bài nghiên cứu theo 1 cách. Vì vậy có thể mở rộng thêm đề tài theo
các cách 2 và 3 để đánh giá so sánh kết quả thu được.
20


- Ngoài ra có thể nghiên cứu áp dụng phương pháp đóng vai vào dạy học
ở nhiều bài học khác trong chương trình sinh học THPT
Do khả năng và thời gian có hạn nên kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại

- Nguồn: http://tailieu.vn

22


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: VŨ THỊ TRỌNG
Chức vụ và đơn vị công tác: Tổ trưởng chuyên môn
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
Năm học
giá xếp loại
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở,
(A, B,
loại
Tỉnh...)
hoặc C)
1. Sử dụng thí nghiệm trong dạy Sở GD &
C
2007 - 2008
học phần chuyển hóa vật chất ĐT Thanh
và năng lượng ở thực vật
Hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status