Vận dụng kiến thức quang học để giải thích một số hiện tượng quang học thường gặp trong đời sống nhằm gây hứng thú học vật lý cho học sinh THPT - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG KIẾN THỨC QUANG HỌC ĐỂ GIẢI THÍCH MỘT SỐ
HIỆN TƯỢNG QUANG HỌC THƯỜNG GẶP TRONG ĐỜI SỐNG
NHẰM
GÂY
HỨNG
THÚQUANG
HỌC VẬT
LÝĐỂ
CHO
HỌC
SINHMỘT
THPT
VẬN
DỤNG
KIẾN
THỨC
HỌC
GIẢI
THÍCH
SỐ
HIỆN TƯỢNG QUANG HỌC THƯỜNG GẶP TRONG ĐỜI SỐNG
NHẰM GÂY HỨNG THÚ HỌC VẬT LÝ CHO HỌC SINH THPT


Tài liệu tham khảo ……………………………………………………………..17

2


A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, Việt Nam nói riêng và cả thế giới nói chung
đang có những bước chuyển mình tích cực về phương pháp dạy và học ở các
trường phổ thông. Bên cạnh việc cung cấp những kiến thức mang tính hàn lâm
thì giáo dục cần coi trọng việc ứng dụng những kiến thức đó vào trong đời
sống. Vật lý học là một môn học vô cùng lý thú, các hiện tượng vật lý xuất hiện
và ứng dụng trong mọi mặt của đời sống, sản xuất. Để việc học vật lý đạt kết
quả tốt bên cạnh việc giải các bài tập tính toán thì việc vận dụng kiến thức để
giải thích các hiện tượng thực tế đóng vai trò quan trọng để nâng cao chất lượng,
tạo hứng thú cho học sinh học tập.
Qua thực tế giảng dạy cho thấy nếu trong bài dạy áp dụng được những
kiến thức đã học để giải quyết những vướng mắc các em chưa giải thích được
bằng vốn sống thì tiết học Vật lý sẽ nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn nhiều đối với học
sinh. Mặt khác, thực tế việc giảng dạy Vật lý hiện nay, chủ yếu dành nhiều thời
gian dạy học sinh nhận diện các kiểu, loại bài toán khác nhau và cách thức vận
dụng các công thức Vật lý cho từng kiểu, loại toán đó mà ít chú trọng giúp học
sinh giải thích các hiện tượng Vật lý xảy ra trong tự nhiên. Hiện nay các tài liệu,
sách tham khảo chủ yếu là sách về các dạng bài tập. Các hiện tượng vật lý nói
chung và các hiện tượng về quang học nói riêng cũng được giải thích ở một số
sách nhưng chưa có tính hệ thống và giải thích hơi chung chung để những người
không hiểu về lý thuyết vật lý cũng có thể hiểu được
Trước thực tế đó tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng kiến thức
quang học để giải thích một số hiện tượng quang học thường gặp trong đời
sống nhằm gây hứng thú học Vật lý cho học sinh THPT”, nhằm giúp học sinh

N
sáng.
S
3. Định luật phản xạ ánh sáng
i i’
- Tia phản xạ nằm trong mặt phẳng tới và ở phía bên kia pháp
tuyến so với tia tới.
I

- Góc phản xạ bằng góc tới (i = i)
4. Định luật khúc xạ ánh sáng
- Tia khúc xạ nằm trong mặt phẳng tới và ở bên kia pháp tuyến so với tia tới
- Đối với một cặp môi trường trong suốt nhất định thì tỉ số giữa sin của góc tới
(sin i) với sin của góc khúc xạ (sin r) luôn luôn là mọt số không S
N
đổi.
i
Số không đổi này phụ thuộc vào bản chất của hai môi trường và được
I
gọi là chiếc suất tỉ đối của môi trường chứa tia khúc xạ (môi
r
trường 2) đối với môi trường chứa tia tới (môi trường 1).
K
Kí hiệu n 21
= n 21
5. Hiện tượng phản xạ toàn phần
- Khi ánh sáng truyền từ mặt phân cách của môi trường chiếc quang hơn (n 1)
sang môi trường chiếc quang kém (n2) thì góc khúc xạ r lớn hơn góc tới i.
- Góc khúc xạ lớn nhất bằng 900; tia khúc xạ nằm là là mặt phân cách hai môi
trường thì góc tới tương ứng gọi là góc giới hạn i gh

Trong đó: α là góc trông ảnh của một vật qua dụng cụ, α0 là góc trông vật đặt ở
điểm cực cận của mắt.
8. Tính chất sóng của ánh sáng
- Ánh sáng là sóng điện từ. Ánh sáng đơn sắc nhìn thấy có một bước sóng λ xác
định và có một màu nhất định. Một chùm ánh sáng trắng song song, gồm các
ánh sáng đơn sắc có bước sóng từ 0,4 μm (tia tím) đến 0,76 μm (tia đỏ), đến
lăng kính khi ló ra khỏi lăng kính, bị phân tích thành dãy nhiều màu, từ đỏ đến
tím, gọi là quang phổ của ánh sáng trắng. Tia đỏ bị lệch (về phía dáy lăng kính)
ít nhất, tia tím bị lệch nhiều nhất. Nguyên nhân của sự tán sắc đó là do chiếc suất
của thuỷ tinh (môi trường) phụ thuộc vào bước sóng (tần số) ánh sáng.
- Hai sóng ánh sáng kết hợp, do hai nguồn sáng kết hợp phát ra, giao thoa với
nhau khi gặp nhau, tạo nên vân sáng (cực đại giao thoa) và vân tối (cực tiểu giao
thoa) trên màn quan sát.
9. Lượng tử ánh sáng
- Chùm ánh sáng đơn sắc có bước sóng λ được coi như dòng các phôtôn (lượng
tử ánh sáng)
Mỗi phôtôn mang năng lượng xác định ε = h f = h (f là tần số ánh sáng, h là
hằng số Plăng; h = 6,625.10-34 J.s; c = 3. 108m/s). Cường độ ánh sáng tỉ lệ với số
phôtôn.
- Hiện tượng quang điện là hiện tượng các electrôn bị bật ra (gọi là electrôn
quang điện) khi chiếu vào mặt kim loại chùm ánh sáng có bước sóng λ thích
hợp.
II. Thực trạng của vấn đề
Môn Vật lý là một môn học khó, có không ít học sinh không muốn học
Vật lý thậm chí sợ môn học này. Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến
đối tượng giáo dục. Hiện tượng dùng cùng một bài giảng, một cách dạy cho
nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít. Với phương pháp giảng dạy này

5


ánh sáng trắng Mặt Trời qua một lỗ tròn nhỏ F (đục ở cánh cửa) rọi xiên vào một
mặt của tấm kính và ló ra khỏi mặt thứ hai (hình vẽ).

Đặt
tờ
trắng
hứng
chùm tia ló, ông thấy một vệt sáng dài, có các màu sắc sắp xếp theo thứ

một
giấy
T để
tự sau
6


đây: Đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím đúng như bảy màu của cầu vòng.
Niutơn gọi dãy sáng có màu sắc ấy là quang phổ Mặt Trời, và đã giải thích đúng
đắn sự xuất hiện của nó.
Theo ông, ánh sáng Mặt Trời, ánh sáng đèn điện là ánh sáng trắng, ánh
sáng trắng là tập hợp của vô số ánh sáng đơn sắc khác nhau.
Mọi chùm ánh sáng đơn sắc đi từ không khí vào thuỷ tinh đều bị khúc xạ
và lệch về gần pháp tuyến. Nhưng các tia đơn sắc có màu khác nhau bị khúc xạ
khác nhau: tia đỏ lệch ít nhất, rồi đến tia da cam, tia vàng v.v... Cho một chùm
ánh sáng trắng qua lăng kính, thì khi qua mặt thứ nhất của lăng kính, các chùm
tia màu sắc khác nhau bị khúc xạ khác nhau, nên không trùng nhau nữa, mà tách
rời nhau; lúc tới mặt thứ hai, các tia đơn sắc đi từ thuỷ tinh ra không khí lại rời
xa nhau thêm. Thành thử khi rọi vào tờ giấy, mỗi chùm tia đơn sắc tạo nên một
vệt sáng có màu nhất định, và các vệt sáng này sắp xếp liền nhau tạo thành
quang phổ.

Ánh sáng từ Mặt Trời, Mặt Trăng tới chúng ta phải đi qua khí quyển Trái
Đất. Gặp các phân tử không khí, và nhất là các hạt bụi lơ lửng trong không khí,
ánh sáng đó bị tán xạ, và phần ánh sáng tán xạ đó không tới mắt chúng ta.
Ta đã biết, các thành phần màu (đỏ,da cam, vàng, lục, lam,chàm, tím)
trong ánh sáng trắng bị tán xạ không đều: ánh sáng đỏ ít nhất, ánh sáng lam và
tím bị tán xạ nhiều hơn cả. Do đó, sau khi qua khí quyển, tới mắt ta, thì ánh sáng
lam và tím bị mất do tán xạ nhiều hơn ánh sáng đỏ, vàng và trong ánh sáng nhận
được, các thành phần đỏ, vàng thành trội hơn, so với ánh sáng tới.
Lúc giữa trưa (hay nửa đêm) Mặt Trời (hay Mặt Trăng)-chiếu sáng vuông
góc với mặt đất, các tia sáng đi qua một lớp không khí tương đối mỏng, nên
phần ánh sáng mất do tán xạ là nhỏ, và ánh sáng vẫn có đủ các thành phần của
ánh sáng trắng: ta thấy Mặt Trời, Mặt Trăng vẫn có màu trắng. Nhưng lúc Mặt
Trời mới mọc hoặc sắp lặn các tia sáng đi là mặt đất nên phải qua một lớp không
khí dày gấp hàng chục lần, lớp không khí ở gần mặt đất này lại đầy bụi nên tán
xạ ánh sáng rất mạnh. Trong ánh sáng tới mắt ta các thành phần lam, tím bị yếu
đi rất nhiều, các thành phần đỏ và vàng trở thành trội, và làm cho ánh sáng ngả
sang màu vàng, màu đỏ. Vì vậy ta thấy, khi Mặt trời ở sát chân trời, thì có màu
đỏ, lên cao một chút thì chuyển sang màu hồng, rồi màu vàng, vì lớp không khí
mà ánh sáng đi qua càng mỏng dần và cuối cùng có màu trắng.
4.Tại sao xảy ra hiện tượng ảo ảnh?
Chắc là mọi người đều biết nguyên nhân vật lý của hiện tượng ảo ảnh
thông thường. Lớp không khí nông ở kề sát mặt cát bị hun nóng trên sa mạc có
những tính chất của gương phẳng, đó là do lớp không khí này có mật độ nhỏ hơn
lớp không khí nằm trên. Tia sáng từ một vật ở xa rọi nghiêng, khi tới lớp không
khí này sẽ uống cong đường đi, rồi lại rời khỏi mặt đất và đạp vào mắt người
quan sát, tựa hồ như được phản xạ từ gương dưới một góc tới rất lớn. Và đối với
người quan sát, dường như trước mặt mình có một mặt nước phẳng lặng trải ra
trong sa mạc (hình vẽ).

Ở đây đã xảy xa hiện tượng phản xạ toàn phần.

Nếu qua sát kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng, những ngôi sao ở thấp gần chân
trời lấp lánh mạnh hơn, còn những ngôi sao ở cao, giữa vòm trời, thì không lấp
lánh.
Các tia sáng từ sao đến mắt ta cũng qua một lớp khí quyển dày. Ban ngày
mặt đất bị Mặt Trời nung nóng nên trong khí quyển luôn luôn có dòng khí đối
lưu nhỏ, chiếc suất khác nhau. Tia sáng từ vì sao tới mắt ta, khi đi qua những
dòng khí ấy, bị khúc xạ thành hơi cong, lúc cong về phía này, lúc cong về phía
khác. Do đó một mặt vị trí của ngôi sao hình như bị thay đổi liên tục, mặt khác
số tia sáng rọi vào mắt cũng không đều, lúc nhiều, lúc ít khiến ta thấy sao có lúc
sáng hơn, có lúc tối hơn, tức là thấy nó lấp lánh.
Sao càng ở gần chân trời, lớp không khí mà tia sáng phải đi qua càng dày,
sao càng lấp lánh mạnh. Khi sao ở giữa đỉnh đầu, lớp không khí mà ánh sáng đi
qua mỏng hơn, tia sáng lại đi cùng phương với dòng khí, nên tia sáng không bị
cong và hầu như không lấp lánh.
7. Chậu thau đựng đầy nước, vì sao khi nhìn nghiêng thấy nước trở thành
nông hơn?
Khi chậu thau đựng đầy nước, nhìn nghiêng từ bên cạnh, độ sâu từ mặt
nước tới đáy chậu có vẻ như trở thành nông hơn. Hiện tượng kì lạ này, rốt cuộc
đã xảy ra như thế nào?
Trong cùng một loại môi trường, ánh sáng bao giờ cũng truyền theo
đường thẳng-đường ngắn nhất. Song khi từ môi trường này sang môi trường
9


khác do tốc độ truyền của ánh sáng trong hai loại môi trường đó khác nhau, tại
mặt phân cách của hai môi trường, ánh sáng sẽ bị gẫy khúc, hiện tượng này của
ánh sáng gọi là khúc xạ ánh sáng. Chậu nước của bạn trông thấy biến thành
nông đi chính là do khúc xạ của ánh sáng gây nên.
Tương tự như ví dụ sau: dưới khe suối có con cá nhỏ, tia sáng từ thân cá
phản xạ ra, đến mặt phân cách giữa nước và không khí liền đổi hướng nghiêng

lực của mắt là 9. Để phép đo được đúng, ngoài việc đảm bảo cho bảng có độ rọi
chuẩn, nên đứng một lát cho quen mắt rồi thử và thử đi thử lại một vài lần.
9. Nhìn bằng hai mắt có lợi gì hơn nhìn bằng một mắt?
Tác dụng của sự nhìn bằng hai mắt, là cho ta cảm giác về độ sâu, về hình nổi.
Hai mắt cách nhau một khoảng 5-6cm. Khi nhìn một vật bằng cả hai mắt, hai
ảnh phối cảnh của vật trên võng mạc của hai mắt hơi khác nhau một chút. Khi
10


thần kinh thị giác của hai mắt “chập” hai cảm giác thu được với mỗi mắt, thành
cảm giác chung về hình ảnh của vật, thì hai cảm giác không “chập” hoàn toàn,
và do đó cho ta cảm giác về độ sâu về hình nổi.
10. Tại sao trong giao thông, người ta dùng đèn đỏ để báo hiệu nguy hiểm,
mà không dùng đèn màu khác?
Có hai lý do. Lý do thứ nhất, lý do khách quan, là trong bảy màu quang phổ,
màu đỏ ứng với bước sóng lớn nhất, nên ánh sáng đỏ truyền trong không khí
được xa hơn. Khi một chùm ánh sáng truyền trong không khí, nhất là không khí
có nhiều bụi hoặc hạt nước nhỏ (tức là sương mù), thì một phần năng lượng ánh
sáng bị các phân tử không khí và các hạt đó tán xạ ra mọi phía, nên năng lượng
chùm sáng càng giảm, khi truyền đi càng xa. Phần ánh sáng mất do tán xạ tăng
rất nhanh khi bước sóng giảm, nên ánh sáng có bước sóng dài bị mất mát ít hơn
và truyền được xa hơn ánh sáng các màu khác.
Lý do thứ hai, lý do chủ quan là như sau: Khi đứng rất xa một đèn màu, ta
trông thấy đèn nhưng không nhận ra màu của nó. Phải lại gần thêm, mới phân
biệt màu của ánh sáng đèn. Nghĩa là đối với các màu lục, lam, vàng, tím ngưỡng
sáng (là lượng ánh sáng nhỏ nhất mà mắt phát hiện được) không trùng với
ngưỡng màu (lượng ánh sáng nhỏ nhất để nhận ra màu ánh sáng). Chỉ riêng với
màu đỏ, là hai ngưỡng đó trùng nhau: ban đêm nếu đặt một chiếc đèn đỏ trên
đường, thì từ xa đi lại, lúc bắt đầu trông thấy đèn ta cũng đồng thời nhận ra màu
đỏ của nó. Như vậy dùng đèn đỏ để báo hiệu nguy hiểm thì không sợ nhầm lẫn

nhạy chậm hơn điều kiện chiếu sáng. Mắt được cấu tạo để nhìn trong những
điều kiện chiếu sáng rất khác nhau, từ những chỗ rất sáng, như đường phố lúc
trưa hè, đến những chỗ tối như “đêm ba mươi”: võng mạc của mắt có hai loại tế
bào; tế bào nón hoạt động khi đủ ánh sáng, (ban ngày) tế bào que chỉ hoạt động
khi thiếu ánh sáng (chiều, tối).
Cả hai loại tế bào này lại có độ nhạy tăng dần, khi lượng ánh sáng rọi vào
mắt giảm. Trước thuỷ tinh thể của mắt, lại còn có con ngươi, tự động mở rộng
khi thiếu ánh sáng, và tự động thu hẹp khi ánh sáng bên ngoài quá mạnh. Nhờ
phối hợp khéo léo ba quá trình trên, mắt có thể hoạt động ở chỗ tối cũng tốt gần
như ở chỗ sáng.Nhưng, nếu con ngươi của mắt mở rộng hay thu hẹp một cách tự
động và nhanh chóng, thì các tế bào nhạy sáng của mắt chỉ thay đổi từ từ. Khi ta
đi ngoài đường sáng, con ngươi khép nhỏ hết sức, và tế bào nón hoạt động với
độ nhạy thấp, còn tế bào que không hoạt động. Nếu ta đột ngột bước vào căn
nhà tối, thì con ngươi lập tức mở ra rộng, để lượng ánh sáng rọi vào mắt được
nhiều hơn, nhưng tế bào nhạy sáng của mắt chưa kịp tăng độ nhạy. Do đó, ta
chưa nhìn rõ các vật trong nhà. Phải một, hai phút sau, độ nhạy của các tế bào
nón mới tăng đến mức đủ giúp cho mắt nhìn rõ mọi vật. Trong một, hai phút chờ
đợi ấy, mắt ta bị loá. Ngược lại cũng vậy, từ trong hnà bước ra ngoài sân nắng,
độ nhạy của các tế bào nhạy sáng chưa kịp giảm, ta cũng bị lóa.
Ban ngày mọi vật đều sáng, sáng gần ngang với bóng đèn điện đang thắp,
mắt hoạt động với độ nhạy thấp, nên khi nhìn bóng đèn cũng như nhìn mọi vật
khác, không cần thay đổi độ nhạy, mắt không bị lóa. Buổi tối, mọi vật đều tối,
trừ các bóng đèn trên cao. Nhìn mọi vật mắt phải tăng độ nhạy lên nhiều lần.
Nếu đang lúc ấy, mắt chợt nhìn vào bóng đèn, sáng như các vật ban ngày, mắt sẽ
bị lóa, vì độ nhạy của mắt chưa giảm kịp.
13. Vì sao công nhân hàn điện phải che mặt bằng một cái mặt nạ có tấm
kính tím?
Ánh lửa hàn phát ra rất nhiều tia tử ngoại có bước sóng ngắn hơn 3800A 0.
Trong quang phổ vị trí của những tia này ngoài vùng tím, vì thế gọi là tia tử
ngoại (tử là tím). Tia náy có tác dụng hoá học rất mạnh, có thể phân huỷ tế bào.


17. Ma trơi là gì ?
Những đêm tối trời, khô ráo, trên các bãi tha ma thường xuất hiện những khối
sáng xanh chập chờn trong gió.
Hiện tượng này được những người mê tín gọi là “ma trơi”. Chúng ta biết,
một số phản ứng hoá học, nhất là những phản ứng ôxy hoá thường kèm theo sự
phát quang. Chất hoá phát quang “cổ điển” nhất là chất lân tinh (phốt pho) mà
người ta đã phát hiện từ 1669.
Ở các bãi tha ma, phốt pho, từ các hài cốt bốc ra thành hơi qua kẽ đất bay
lên, phản ứng với ôxy trong không khí tạo thành những khối sáng xanh chập
chờn trong gió. Đó chính là bản chất của “ma trơi”.
18. Người ta làm thế nào để kim và chữ số ở mặt đồng hồ có thể phát sáng
trong đêm tối?
Một số tinh thể như tinh thể kẽm sunfua, kẽm silicat hoặc kẽm catmi có
tính chất phát quang rất mạnh khi bị kích thích bằng ánh sáng có bước sóng
ngắn như tia tử ngoại, tia X (tia rơnghen) v.v... Đó là hiện tượng quang-phát
quang
Áp dụng hiện tượng trên, người ta phủ lên mặt kim và chữ số của đồng
hồ một lớp kẽm sunfua hoặc kẽm catmi trộn lẫn một lượng rất nhỏ chất phóng
xạ như muối rađi hoặc muối mêsôtôri. Nhờ tia phóng xạ (trong đó có tia γ bước
sóng rất ngắn) kẽm sunfua bị kích thích và phát ánh sáng lục rất rõ trong đêm
tối. Sau một thời gian chất phóng xạ rã hết, tia phóng xạ tắt, kim và chữ số đồng
hồ cũng hết sáng. Lượng chất phóng xạ pha thêm phải rất nhỏ, dưới mức gây
nguy hiểm.
14


19. Đèn ống phát quang như thế nào ?
Đèn ống thường dùng là đèn chứa hơi thuỷ ngân. Khi xảy ra hiện tượng
phóng điện, hơi thuỷ ngân phát sáng và cho một quang phổ giàu tia tử ngoại.

khác. Khi nhìn vật đó qua ánh sáng phản xạ và tán xạ, thì nó có một màu nào đó;
nhưng nhìn trong ánh sáng truyền qua lại thấy nó có màu khác. Chẳng hạn một
lá vàng rất mỏng, có màu vàng khi nhìn trong ánh sáng phản xạ, nhưng soi lên
lại thấy nó có màu lục.
Màu sắc của vật trong suốt cũng phụ thuộc vào bề dày của nó. Ta thường
thấy nước dưới ao, hồ sâu có màu lục, nhưng để một cốc nước hồ riêng biệt thì
thấy nó trong suốt. Ánh sáng ban ngày truyền qua nước tới một độ sâu nào đó
mới phản xạ lại. Nước lại hấp thụ ánh sáng có bước sóng dài nhiều hơn ánh sáng

15


có bước sóng ngắn, truyền càng sâu xuống nước ánh sáng trắng càng mất nhiều
màu đỏ và vàng. Do đó, nhìn xuống hồ ta thấy nước có màu lục.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Trong đề tài này tôi đã thực hiện áp dụng với các nhóm học sinh khác
nhau cụ thể là nhóm 1(lớp 11B6-năm học 2013-2014, 12C6- năm học 20142015) và nhóm 2( lớp 11B7- năm học 2013-2014, 12C7 năm học 2014-2015),
nhóm 1 áp dụng thường xuyên việc vận dụng kiến thức quang học để giải thích
các hiện tượng trong đời sống, còn nhóm 2 thì không áp dụng hoặc áp dụng
không thường xuyên. Kết quả được đo thông qua sự so sánh độ chênh lệch về
tiếp thu kiến thức, kỹ năng, thái độ sôi nổi của học sinh trong giờ học
- Đo kiến thức, kỹ năng:
Lớp
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
11B6
6,67%

nhiên và ứng dụng để giải thích các hiện tượng Quang học tương tự.
Với những kiến thức vốn có và tiếp thu được trong quá trình giảng dạy tôi
đã cố gắng trình bày tương đối hoàn chỉnh cơ sở lý thuyết đề tài. Qua kết quả
kiểm nghiệm tôi nhận thấy có thể áp dụng đề tài ở các lớp học sinh khác. Đề tài
còn có thể mở rộng đối với các hiện tượng quang học khác nói riêng và các hiện
tượng vật lý nói chung
Do còn thiếu kinh nghiệm và khả năng có hạn, nên chắc chắn đề tài không
tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý
16


thầy, cô giáo. Và hy vọng rằng, đề tài này sẽ là tài liệu giúp các em học sinh yêu
thích môn Vật lý nói chung và phần Quang học nói riêng.
II. Kiến nghị
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông đang là vấn
đề bức xúc. Để dạy Vật lý trong trường phổ thông có hiệu quả tôi đề nghị một số
vấn đề sau :
- Giáo viên phải kiên trì, đầu tư nhiều tâm, sức để tìm hiểu kiến thức, vận
dụng sáng tạo các phương pháp dạy Vật lý để bài giảng thu hút được học
sinh
- Ngành Giáo dục phải đầu tư trang thiết bị dạy và học tốt hơn để đáp ứng
được yêu cầu của môn học
- Ở các nhà trường nên thường xuyên tổ chức các hình thức tổ chức ngoại
khóa về các vấn đề liên quan đến Vật lý
- Nếu có điều kiện tôi mong sẽ phát triển sâu hơn nội dung đề tài và mở
rộng sang tất cả các hiện tượng vật lý phần khác chứ không riêng về phần
quang học, vừa đảm bảo nội dung SGK vừa tăng hứng thú học tập cho
học sinh và đạt được mục tiêu giáo dục gắn liền với thực tiễn

XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status