SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"VẬN DỤNG BÀI HỌC HOÁ HỌC 12 ĐỂ GIẢI THÍCH MỘT SỐ
HIỆN TƯỢNG THỰC TIỄN"
1
A . LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mục tiêu giáo dục môn hoá học trường THPT cần cung cấp cho học sinh hệ thống kiến
thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực và gắn với đời sống. Nội dung chủ
yếu bao gồm cấu tạo chất, sự biến đổi của các chất, những ứng dụng và tác hại của những
chất trong đời sống, sản xuất và môi trường. Những nội dung này góp phần giúp học sinh
có học vấn phổ thông tương đối toàn diện để có thể tiếp tục học lên đồng thời có thể giải
quyết một số vấn đề có liên quan đến hoá học trong đời sống và sản xuất, mặt khác góp
phần phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh.
Bài tập là mục đích, là nội dung và cũng là phương pháp dạy học hiệu quả. Nó cung cấp
cho học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và còn mang lại niềm vui của sự
phát hiện, của sự tìm ra đáp số.
Nếu thông qua việc giải một bài tập hoá học mà học sinh có thể giải đáp được
những tình huống có vấn đề nảy sinh trong đời sống, trong lao động, sản xuất thì sẽ làm
tăng lòng say mê học hỏi, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Tăng
cường sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy và học hoá học sẽ góp phần thực hiện nguyên lí
giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với
thực tiễn. Bằng những kiến thức hoá học, trước tiên học sinh có thể giải đáp được những
câu hỏi “Tại sao?” nảy sinh từ thực tiễn và hơn nữa là có thể đưa ra những giải pháp tối
ưu cho tình huống có vấn đề nảy sinh từ chính thực tiễn đó.
Tuy nhiên, trong chương trình sách giáo khoa hoá học THPT ở Việt Nam, số lượng các
bài tập thực tiễn còn ít . Vì vậy học sinh có thể giải thành thạo các bài tập hoá học định
tính, định lượng về cấu tạo chất, về sự biến đổi các chất rất phức tạp nhưng khi cần phải
dùng kiến thức hoá học để giải quyết một tình huống cụ thể trong thực tiễn thì lại rất lúng
2
túng. Chính vì những lí do trên tôi đã chọn đề tài:”Vận dụng bài học Hoá học 12 để giải
thích một số hiện tượng thực tiễn”
3
trong quá trình sản xuất dầu ăn người ta thường cho thêm một lượng nhỏ chất chống oxi
trong quá trình sản xuất dầu ăn người ta thường cho thêm một lượng nhỏ chất chống oxi
hoá là một số dẫn xuất của phenol. Để hạn chế sự ôi thiu của dầu mỡ thì chúng ta nên đậy
hoá là một số dẫn xuất của phenol. Để hạn chế sự ôi thiu của dầu mỡ thì chúng ta nên đậy
kín sau khi sử dụng và không nên tạo ra những khoảng trống trong các lọ đựng.
kín sau khi sử dụng và không nên tạo ra những khoảng trống trong các lọ đựng.
Áp dụng:
Áp dụng:
Với câu hỏi 1 tôi đã dùng để đặt vấn đề cho bài: Lipit (tiết 3- HH 12 chương
Với câu hỏi 1 tôi đã dùng để đặt vấn đề cho bài: Lipit (tiết 3- HH 12 chương
trình chuẩn và tiết 3- HH 12 chương trình nâng cao). Câu hỏi đặt ra là một hiện tượng
trình chuẩn và tiết 3- HH 12 chương trình nâng cao). Câu hỏi đặt ra là một hiện tượng
thực tế gần gũi, là thắc mắc của nhiều học sinh mà chưa được giải quyết. Vì vậy, đặt học
thực tế gần gũi, là thắc mắc của nhiều học sinh mà chưa được giải quyết. Vì vậy, đặt học
sinh vào tình huống có vấn đề. Sau khi học xong bài Lipit học sinh vừa giải quyết được
sinh vào tình huống có vấn đề. Sau khi học xong bài Lipit học sinh vừa giải quyết được
vấn đề đặt ra, vừa có thêm một kinh nghiệm thực tiễn. Từ đó mà tạo ra được hứng thú
vấn đề đặt ra, vừa có thêm một kinh nghiệm thực tiễn. Từ đó mà tạo ra được hứng thú
trong học tập của học sinh.
trong học tập của học sinh.
Câu hỏi 2
Câu hỏi 2Tại sao mật ong để lâu bị đóng đường dưới đáy chai, lớp đường đó là gì?
Tại sao mật ong để lâu bị đóng đường dưới đáy chai, lớp đường đó là gì?
Mật ong có chứa glucozơ, khi để lâu glucozơ kết tinh gây ra hiện tượng đóng đường dưới
Mật ong có chứa glucozơ, khi để lâu glucozơ kết tinh gây ra hiện tượng đóng đường dưới
đáy chai. Loại mật ong như vậy là mật ong nguyên chất không pha thêm đường.
lớp màng đen bám bên trong bụng cá. Để khử mùi tanh này, ta dùng giấm, mẻ hoặc các
lớp màng đen bám bên trong bụng cá. Để khử mùi tanh này, ta dùng giấm, mẻ hoặc các
quả có vị chua như khế, chanh có tính axit sẽ trung hoà amin tạo ra muối amoni.
quả có vị chua như khế, chanh có tính axit sẽ trung hoà amin tạo ra muối amoni.
Áp dụng:
Áp dụng:
Tên bài học là: “Amin” dường như là hợp chất không mấy quen thuộc với học
Tên bài học là: “Amin” dường như là hợp chất không mấy quen thuộc với học
sinh. Nhưng khi giáo viên đặt câu hỏi: “
sinh. Nhưng khi giáo viên đặt câu hỏi: “
Tại sao có thể dùng giấm(hoặc quả chua) để khử
Tại sao có thể dùng giấm(hoặc quả chua) để khử
mùi tanh của cá? Điều này có liên quan gì đến bài amin?
mùi tanh của cá? Điều này có liên quan gì đến bài amin?
” thì học sinh bắt đầu có sự liên
” thì học sinh bắt đầu có sự liên
hệ giữa thực tế mà học sinh đã sử dụng nhiều khi chế biến thức ăn với nội dung bài học.
hệ giữa thực tế mà học sinh đã sử dụng nhiều khi chế biến thức ăn với nội dung bài học.
Vì vậy, tôi đã dùng câu hỏi 3 để đặt vấn đề cho bài: Amin (tiết 13, 14- HH 12 chương
Vì vậy, tôi đã dùng câu hỏi 3 để đặt vấn đề cho bài: Amin (tiết 13, 14- HH 12 chương
trình chuẩn và tiết 17, 18- HH 12 chương trình nâng cao). Khi kết thúc phần: tính bazơ
trình chuẩn và tiết 17, 18- HH 12 chương trình nâng cao). Khi kết thúc phần: tính bazơ
của amin, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi 3 để giải quyết vấn đề đã đặt ra. Học
của amin, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi 3 để giải quyết vấn đề đã đặt ra. Học
sinh vừa nắm vững bài học, vừa có thêm kiến thức bổ ích trong cuộc sống.
sinh vừa nắm vững bài học, vừa có thêm kiến thức bổ ích trong cuộc sống.
Câu hỏi 4
Câu hỏi 4
5
Câu hỏi 6
Câu hỏi 6Tại sao sữa tươi để lâu trong không khí bị vón lại?
Tại sao sữa tươi để lâu trong không khí bị vón lại?
Là do một số chất trong sữa lên men tạo môi trường axit gây nên sự đông tụ protein,
Là do một số chất trong sữa lên men tạo môi trường axit gây nên sự đông tụ protein,
trường hợp này thì sữa đã bị nhiễm khuần nên không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
trường hợp này thì sữa đã bị nhiễm khuần nên không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.Áp dụng:
Áp dụng:
Giáo viên dùng câu hỏi 4,5,6 để vào bài: Peptit và protein (tiết 16, 17 - HH 12
Giáo viên dùng câu hỏi 4,5,6 để vào bài: Peptit và protein (tiết 16, 17 - HH 12
chương trình chuẩn và tiết 21, 22- HH 12 chương trình nâng cao). Sau khi học xong phần
chương trình chuẩn và tiết 21, 22- HH 12 chương trình nâng cao). Sau khi học xong phần
tính chất vật lý của bài, học sinh đã có thể trả lời câu hỏi giáo viên đưa ra. Đồng thời, còn
tính chất vật lý của bài, học sinh đã có thể trả lời câu hỏi giáo viên đưa ra. Đồng thời, còn
giảI thích được những hiện tượng khác có liên quan đến sự đông tu protein.
giảI thích được những hiện tượng khác có liên quan đến sự đông tu protein.
Hai trong ba câu hỏi còn lại dung để đặt câu hỏi trong phần củng cố kiến thức hoặc bài
Hai trong ba câu hỏi còn lại dung để đặt câu hỏi trong phần củng cố kiến thức hoặc bài
tập về nhà.
tập về nhà.
Câu hỏi 7
Câu hỏi 7
Trong môi trường axit là các rau, quả có vị chua sẽ xúc tác cho sự thuỷ phân
protein tạo thành aminoaxit và những protein đơn giản hơn, nên thịt cá nhanh nhừ hơn.
protein tạo thành aminoaxit và những protein đơn giản hơn, nên thịt cá nhanh nhừ hơn.
Áp dụng:
Áp dụng:
Việc đặt vấn đề bằng những câu hỏi thực tiễn gần gũi với học sinh sẽ đưa học
Việc đặt vấn đề bằng những câu hỏi thực tiễn gần gũi với học sinh sẽ đưa học
sinh vào tình huống có vấn đề. Việc giải quyết vấn đề giúp học sinh hiểu sâu sắc bài học
sinh vào tình huống có vấn đề. Việc giải quyết vấn đề giúp học sinh hiểu sâu sắc bài học
hơn. Câu hỏi 8 được đặt ra khi bắt đầu phần tính chất hoá học của protein (tiết 16, 17-
hơn. Câu hỏi 8 được đặt ra khi bắt đầu phần tính chất hoá học của protein (tiết 16, 17-
6
HH 12 chương trình chuẩn và tiết 21, 22- HH 12 chương trình nâng cao). Từ khái niệm
HH 12 chương trình chuẩn và tiết 21, 22- HH 12 chương trình nâng cao). Từ khái niệm
ptotein và tính chất hoá học của peptit (đã học), học sinh sẽ tìm cách trả lời câu hỏi trên.
ptotein và tính chất hoá học của peptit (đã học), học sinh sẽ tìm cách trả lời câu hỏi trên.
Từ đó, mà nâng cao kỹ năng phân tích và tư duy của học sinh.
Từ đó, mà nâng cao kỹ năng phân tích và tư duy của học sinh.
Câu hỏi 9
Câu hỏi 9Phân biệt các chất liệu vải như thế nào
Phân biệt các chất liệu vải như thế nào?
Căn cứ vào bản chất của có chất liệu làm nên vải ta có thể nhận biết cách đơn giản sau:
- Nếu vải làm bằng sợi bông: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng, có mùi
như đốt giấy và tro có màu xám đậm.
- Nếu vải làm bằng sợi tơ tằm: Khi đốt sợi vải cháy chậm hơn vải sợi bông, có mùi khét
như đốt tóc, sợi tơ co cục, màu nâu đen, lấy tay bóp thì tan.
- Nếu vải làm bằng lông cừu( len lông cừu): Khi đốt bắt cháy không nhanh, bốc khói, có
có thể dát mỏng và có điện trở phù hợp, vì nếu kim loại có điện trở nhỏ thì gây đoản
mạch, nếu kim loại có điện trở lớn thì hiệu suất toả nhiệt thấp nên hiệu suất phát sáng
thấp.
Câu hỏi 11 Một trong những chất liệu làm nên vẻ đẹp kì ảo của tranh sơn mài đó là
những mảnh màu vàng lấp lánh cực mỏng. Những mảnh màu vàng lấp lánh cực mỏng đó
được làm từ nguyên liệu gì vậy?
Chính là từ kim loại vàng được dát mỏng thành những lá vàng có chiều dày 1.10
-4
mm. Nếu dát mỏng 1 chỉ vàng (có khối lượng là 3,75g Au và có d = 19,32g/cm
3
) tới
chiều dày 1.10
-4
mm thì diện tích lá vàng thu được là rất lớn 194,1m
2
.
Câu hỏi 12 Tại sao những đồ dùng bằng bạc lâu ngày bị xỉn màu, mất đi ánh bạc lấp
lánh? Muốn làm sạch bề mặt này người ta thường làm gì?
Bạc đã phản ứng với hiđrosunfua trong không khí tạo ra bạc sunfua (Ag
2
S) màu đen. Để
loại bỏ lớp bạc sunfua này, người ta cho vật đó vào một chảo nhôm chứa dung dịch muối
và được đun đến gần sôi sẽ xảy ra phản ứng:
2Al + 3H
2
O + Ag
2
S
→Al
pin điện hoá mà Fe là cực âm, C là cực dương
Cực âm: Fe Fe
2+
+ 2e, Fe
2+
Fe
3+
+e dưới tác dụng của ion OH
-
tạo ra gỉ sắt có thành
phần chủ yếu là Fe
2
O
3
.nH
2
O.
Cực dương: O
2
+ 2H
2
O + 4e4OH
-
Khi gắn vào vỏ tàu những tấm Zn, do Zn là kim loại mạnh hơn Fe nên Zn là điện cực âm
bị oxi hoá thành Zn
2+
trở thành “vật hi sinh”, thép là điện cực dương, vỏ tàu đựoc bảo vệ.
Sau một thời gian, người ta lại thay những tấm Zn khác.
Áp dụng:
Khí CO
2
sinh ra hấp thụ nhiệt của cơ thể và thải ra ngoài qua đường hô hấp, làm giảm
nhiệt độ cơ thể, nên có tác dụng giải khát.
Câu hỏi 15 Một trong những ứng dụng của cao su là dùng để làm đệm, bằng cách nào
để tạo độ xốp cho cao su?
Trong công nghệ tạo xốp cho cao su, người ta thường dùng phối hợp natri hiđrocacbonat
với axit stearic. Axit stearic ngoài tác dụng chính là phản ứng với natri hiđrocacbonat giải
phóng khí cacbon đioxit, còn có tác dụng hoá dẻo và tăng trợ lưu hoá hỗn hợp cao su.
Câu hỏi 16 Sau khi đi bơi, tóc thường khô do nước trong bể bơi rất có hại cho tóc. Nếu
dùng nước xôđa để gội đầu thì tóc sẽ trở lại mượt mà và mềm mại. Hãy giải thích việc
làm đó.
Clo được dùng làm chất chống tạo rong rêu trong vệ sinh bể bơi theo phản ứng sau:
Ca(OCl)
2
+ 2H
2
O → 2HClO + Ca(OH)
2Canxi hipoclorit phản ứng với nước tạo axit hipoclorơ là một tác nhân hoạt động. Ở pH
bằng 7,0 có 27,5% axit ion hoá thành ion hipoclorit không hoạt động. Phần axit hipoclorơ
còn lại (72,5%) chuyển thành clo dùng làm sạch hồ bơi. Một lượng nhỏ Ca(OH)
2
là
nguyên nhân chủ yếu làm khô tóc. Khi gội bằng NaHCO
3
sẽ xảy ra phản ứng sau, loại bỏ
Ca(OH)
3
+ OH
-
Dung dịch hiđrocacbonat có dư OH
-
nên có tính kiềm. Khi đun nóng có sự phân huỷ
H
2
CO
3
thành CO
2
và H
2
O làm cho cân bằng chuyển dịch theo chiều thuận tạo thêm OH
-
nên tính kiềm lại mạnh hơn.
Áp dụng:
Áp dụng:
Tính chất của một số hợp chất kim loại kiềm hầu như không mới, điều này dễ
Tính chất của một số hợp chất kim loại kiềm hầu như không mới, điều này dễ
gây sự nhàm chán cho học sinh. Việc đặt những câu hỏi gắn liền với thực tế gần gũi của
gây sự nhàm chán cho học sinh. Việc đặt những câu hỏi gắn liền với thực tế gần gũi của
học sinh giúp bài học trở nên thú vị hơn, gây được sự tập trung chú ý của học sinh. Vì
học sinh giúp bài học trở nên thú vị hơn, gây được sự tập trung chú ý của học sinh. Vì
vậy, tôi đã chọn một trong các câu hỏi 14, 15, 16 để đặt vấn đề cho phần tính chất hoá
vậy, tôi đã chọn một trong các câu hỏi 14, 15, 16 để đặt vấn đề cho phần tính chất hoá
học của NaHCO
học của NaHCO
2
K
2
CO
3
+ 3/2O
2
Do đó chúng được sử dụng trong bình lặn hoặc tàu ngầm để phục vụ quá trình hô hấp
của con người.
11
Câu hỏi 19. Tại sao trong bột giặt, người ta thường cho thêm vào một ít bột natri
peoxit?cách tốt nhất để bảo quản bột giặt làgì?
Natri peoxit (Na
2
O
2
) khi tác dụng với nước sẽ sinh ra H
2
O
2
là một chất oxi hoá mạnh có
thể tẩy trắng được quần áo. Vì vậy để tăng hiệu quả tẩy trắng của bột giặt người ta
thường cho thêm Na
2
O
2
.
Na
2
O
2
là những hợp chất không được giới thiệu trong chương
trình học. Nhưng để giúp học sinh có thêm hiều biết về ứng dụng trong đời sống hằng
ngày của các nguyên tố kim loại kiềm. Tôi đặt câu hỏi 18,19 để học sinh tìm hiểu và sau
đó sẽ giải thích trong giờ luyện tập.Câu hỏi 20. Trộn đều một phần vôi với bốn phần cát và lượng nước vừa đủ ta thu được
một khối nhão gọi là vữa vôi dùng để kết dính các viên gạch, đá với nhau trong các công
trình xây dựng. Sau một thời gian, vữa vôi đông cứng dần và gắn chặt với gạch, đá. Vì
sao vữa vôi lại đông cứng dần và gắn chặt vào gạch, đá?
Chủ yếu là nhờ CO
2
trong không khí và SiO
2
trong vữa vôi tác dụng với Ca(OH)
2
tạo ra chất rắn, hơi nước bay hơi. Sau một thời gian, vữa vôi đông cứng dần và gắn chặt
với gạch, đá.
CO
2
+ Ca(OH)
2
CaCO
3
+ H
2
O
SiO
2
tan dần trong nước có hoà tan khí CO
2
, nhất
là nước mưa, tạo ra Ca(HCO
3
)
2
làm tan đá vôi.
CaCO
3
+ CO
2
+ H
2
O Ca(HCO
3
)
2
Về mùa khô, khi áp suất CO
2
giảm đi thì Ca(HCO
3
)
2
bị phân huỷ tạo ra CaCO
3
kết tủa tạo
ra những nhũ đá và măng đá trong hang động. Như vậy, tính trung bình cứ mỗi năm lại
tạo thêm một lớp đá trên các măng đá. Người ta có thể dựa vào điều này để tính tuổi của
các núi đá vôi.
: Hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ giúp học
sinh giải thích được nhiều hiện tượng tự nhiên thú vị, cũng như những ứng dụng phổ biến
sinh giải thích được nhiều hiện tượng tự nhiên thú vị, cũng như những ứng dụng phổ biến
của hợp chất kim loại kiềm. Để học sinh chuẩn bị tốt bài học này, sau khi học xong bài:
của hợp chất kim loại kiềm. Để học sinh chuẩn bị tốt bài học này, sau khi học xong bài:
kim loại kiềm thổ, tôi đặt câu hỏi 20, 21, 22, 23 cho 4 nhóm học sinh tìm hiểu trước.
kim loại kiềm thổ, tôi đặt câu hỏi 20, 21, 22, 23 cho 4 nhóm học sinh tìm hiểu trước.
Trong bài học
Trong bài học: Hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ (tiết 44- HH 12 chương trình
: Hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ (tiết 44- HH 12 chương trình
chuẩn và tiết 48- HH 12 chương trình nâng cao), thông qua phần trình bày của học sinh,
chuẩn và tiết 48- HH 12 chương trình nâng cao), thông qua phần trình bày của học sinh,
giáo viên đặt vấn đề khi bắt đầu dạy về hợp chất có liên quan. Bằng cách như vậy, học
giáo viên đặt vấn đề khi bắt đầu dạy về hợp chất có liên quan. Bằng cách như vậy, học
sinh hiểu bài nhanh và sâu sắc hơn.
sinh hiểu bài nhanh và sâu sắc hơn.
Câu hỏi 24. Để bảo quản trứng tươi lâu, người ta đã nhúng trứng vào dung dịch nước
vôi rồi vớt ra để ráo, em hãy giải thích cách làm trên?
Trên bề mặt vỏ trứng gia cầm có những lỗ khí nhỏ nên không khí và vi sinh vật có
thể xâm nhập, hơi nước trong trứng thoát ra, lượng cacbon đioxit tích tụ trong trứng tăng
làm trứng nhanh bị hỏng. Khi ngâm trứng trong dung dịch nước vôi sẽ xảy ra phản ứng
sau:
CO
2
+ Ca(OH)
2
CaCO
2
+ 2H
2
O
muối lactat của canxi, magie không tan trong nước, nên làm mềm nước. Axit lactic còn
có tác dụng làm giảm pH của nước nhằm tăng cường hoạt lực của hệ enzim thuỷ phân
trong nước.
Á
Á
p dụng:
p dụng:
Câu hỏi 25 được đặt ra sau khi học xong phần làm mềm nước cứng bằng
Câu hỏi 25 được đặt ra sau khi học xong phần làm mềm nước cứng bằng
phương pháp kết tủa trong bài: Hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ để rèn luyện
phương pháp kết tủa trong bài: Hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ để rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức đã học, để giải thích những ứng dụng thực tế.
kỹ năng vận dụng kiến thức đã học, để giải thích những ứng dụng thực tế.
Câu hỏi 26. Nồi nhôm chỉ nên dùng để nấu cơm, nấu nước; không nên dùng để nấu canh
chua, không nên để canh chua quá lâu trong nồi nhôm. Em hãy giải thích vì sao?
Canh chua có môi trường axit sẽ hoà tan Al vào làm thức ăn bị nhiễm bẩn Al
3+
,không
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Á
Á
p dụng:
p dụng:
Câu hỏi 26 được đặt ra trong phần ứng dụng của nhôm, để học sinh có thêm
Câu hỏi 26 được đặt ra trong phần ứng dụng của nhôm, để học sinh có thêm
kiến thức khi dùng các đồ nhôm làm dụng cụ nhà bếp. Sử dụng đúng cách để bảo vệ sức
3
+ 3H
+
15
Al(OH)
3
sinh ra là những nhân keo hút các chất rắn còn lơ lửng trong nước làm cho kích
thước của các hạt keo đủ nặng và lắng xuống làm rong nước.
Á
Á
p dụng:
p dụng:
Rất nhiều vùng ở nông thôn Việt Nam còn chưa được sử dụng nước máy trong
Rất nhiều vùng ở nông thôn Việt Nam còn chưa được sử dụng nước máy trong
sinh hoạt, mà dùng nước giếng đào, giếng khoan nên tôi đặt câu hỏi 27 trong phần ứng
sinh hoạt, mà dùng nước giếng đào, giếng khoan nên tôi đặt câu hỏi 27 trong phần ứng
dụng của nhôm. Việc trả lời câu hỏi 27 giúp học sinh có thêm một kinh nghiệm nho nhỏ
dụng của nhôm. Việc trả lời câu hỏi 27 giúp học sinh có thêm một kinh nghiệm nho nhỏ
trong cuộc sống, làm cho giờ học trở nên thú vị hơn.
trong cuộc sống, làm cho giờ học trở nên thú vị hơn.
Câu hỏi 28 Có một mẫu boxit dùng để sản xuất nhôm có lẫn tạp chất là sắt (III)
oxit,silicđioxit . Làm thế nào để từ mẫu này có thể điều chế được nhôm tinh khiết?
Để điều chế được nhôm tinh khiết cần làm sạch quặng boxit như sau:
Hoà tan quặng bằng NaOH đặc ở 180
0
C, loại được Fe
2
O
3
không tan.
3
Nhiệt phân Al(OH)
3
theo phương trình hoá học:
2Al(OH)
3
Al
2
O
3
+ 3H
2
O
Sau đó chuẩn bị hỗn hợp điện phân, điện phân nóng chảy Al
2
O
3
thu được Al tinh
khiết.
Á
Á
p dụng:
p dụng:
với câu hỏi 28 tôi đặt ra khi bắt đầu dạy phần sản xuất nhôm.
với câu hỏi 28 tôi đặt ra khi bắt đầu dạy phần sản xuất nhôm.
Câu hỏi 29. Tại sao nước giếng khoan khi vừa bơm lên rất trong, nhưng để trong không
khí một thời gian thì bị vàng. Làm thế nào để nước trong trở lại ?
16
Trong nước ngầm thường tồn tại ở dạng ion trong sắt (II) hiđrocacbonat và sắt (II) sunfat
là muối tan không màu.Khi bơm lên hợp chất Fe(II) bị oxi hoá thành Fe(III) ở dạng sắt
+ H
2
O
Cu(OH)
2
+ 2CH
3
COOH (CH
3
COO)
2
Cu + 2H
2
O
Á
Á
p dụng:
p dụng: câu hỏi 30 được đặt ra khi bắt đầu phần đồng (Cu) trong bài: Sơ lược về một
số kim loại khác.
C. KIỂM NGHIỆM
1. Nhận xét định tính.
1.1. Đối với học sinh.
17
-Học sinh vận dụng tốt hơn kiến thức hoá học khi giải quyết các vấn đề thực tiễn có liên
quan đến hoá học.
-Học sinh thấy hứng thú hơn khi học môn hoá học.
-Học sinh thấy rõ hơn ý nghĩa, vai trò của việc học môn hoá học.
- Kích thích sự tìm tòi, tham khảo các tài liệu trong sách, trong báo chí, thư viện, các
phương tiện phát thanh truyền hình, internet…có liên quan đến ứng dụng hoá học trong
sản xuất và đời sống xã hội.
Cần tăng cường số lượng và chất lượng các bài tập thực tiễn trong kiểm tra đánh giá.
19