Sử dụng niên biểu hệ thống hoá kiến thức nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử việt nam giai đoạn 1919 1975 ở trường THPT lam kinh - Pdf 44

A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Lịch sử là môn khoa học nghiên cứu, tái hiện lại một cách chân thực quá
khứ của xã hội loài người. Trong phạm vi nhà trường, lịch sử là môn học có tác
dụng tốt nhất trong việc giáo dục đạo đức truyền thống yêu nước của dân tộc
cho học sinh, hơn thế nữa là sự biết ơn sâu sắc, kính trọng không chỉ đối với ông
cha, các vị anh hùng dân tộc mà còn là sự biết ơn, kính trọng đối với những
người có cống hiến lớn cho nhân loại.
Mặc dù có tầm ảnh hưởng quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Song
thực tế đáng buồn hiện nay là đa số học sinh không thích học môn lịch sử, xem
nhẹ môn lịch sử, các em tiếp thu kiến thức lịch sử một cách hời hợt, thiếu chính
xác, thiếu hệ thống, có một số em có tinh thần học tập với môn học này thì gặp
phải khó khăn như: Học trước quên sau hoặc học xong rồi không nhớ gì cả hoặc
có khi học thuộc rồi nhưng vẫn lúng túng trong quá trình làm bài..... Điều này
dẫn đến kết quả học tập môn lịch sử cũng như kết quả thi của học sinh trong
những năm gần đây qua các kì thi điểm rất thấp.
Trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học lịch sử đang thu hút sự quan
tâm chú ý của toàn xã hội. Thực trạng của việc dạy và học lịch sử đang là một đề
tài “nóng” sau mỗi kỳ thi tốt nghiệp THPT, thi Đại học, hiện nay là kì thi Quốc
gia. Trước sự quan tâm ấy, chúng tôi - những giáo viên dạy môn lịch sử luôn
trăn trở về việc dạy học của mình. Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và
học môn lịch sử, làm sao để các em học sinh yêu thích môn lịch sử và học môn
lịch sử ngày càng có hiệu quả hơn.
Vậy làm thế nào để học lĩnh hội được kiến thức trọng tâm của môn lịch
sử? Có rất nhiều biện pháp như: sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng hệ thống
câu hỏi gợi mở, thảo luận nhóm… Nhưng việc hệ thống hóa kiến thức bằng
bảng biểu trong dạy học lịch sử là một biện pháp rất quan trọng, giúp học sinh
nắm vững hơn những kiến thức bài học, hiểu sâu hơn các sự kiện lịch sử.
Sử dụng bảng hệ thống kiến thức trong dạy học lịch sử không phải là một
phương pháp mới. Vấn đề này đã được đề cập trong một số công trình nghiên
cứu khoa học. Tiêu biểu:

Để nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng một số các phương pháp: phương
pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết, nghiên cứu các tài liệu về phương
pháp dạy học lịch sử. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin,
thao giảng, dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm trong giảng dạy môn lịch sử.
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, sử dụng các câu hỏi điều tra có thể đáp ứng
được đầy đủ các yêu cầu của việc đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức của học
sinh trong việc giảng dạy môn lịch sử lớp 12.

2


B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
Bảng niên biểu còn được gọi là bảng hệ thống kiến thức lịch sử. Thực
chất đó là bảng kiến thức theo thứ tự thời gian, hoặc nêu các mối liên hệ giữa
các sự kiện cơ bản của một nước hay nhiều nước trong một thời kì lịch sử.Vì
vậy việc sử dụng phương pháp hệ thống hoá kiến thức qua bảng hệ thống kiến
thức có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các em học sinh:
Thứ nhất, giúp học sinh hệ thống được kiến thức trọng tâm của từng mục,
từng bài hoặc từng chương sau khi đã học xong.
Thứ hai, qua phương pháp học này giúp các em nhớ lâu, nhớ sâu kiến
thức lịch sử.
Thứ ba, qua phương pháp này giúp các em có thể phát triển khả năng
quan sát, khả năng tư duy lôgic, liên hệ tìm ra bản chất của sự kiện, nội dung
lịch sử.
Thứ tư, vận dụng làm các bài tập đòi hỏi kĩ năng thực hành hoặc yêu cầu
tổng hợp kiến thức lịch sử.
Thứ năm, với phương pháp này còn giúp các em có thể rèn luyện và phát
triển khả năng nói, khả năng diễn đạt và trình bày các sự kiện lịch sử.
Thứ sáu, phương pháp này còn là một phương tiện thay cho khối lượng

quên sau, hoặc học nhưng chỉ là qua loa đại khái, khi thi chỉ trông chờ vào điều
may mắn, hay bịa viết lung tung, dẫn đến sai kiến thức lịch sử một cách nghiêm
trọng.
Với học sinh trường THPT Lam Kinh, là trường thuộc khu vực trung du,
tiếp giáp 2 huyện miền núi là Ngọc Lặc và Thường Xuân, đa số học sinh là con
em nông dân, một số là con em công nhân của công ti mía đường Lam Sơn và
nhà máy giấy Mục Sơn. Mục tiêu của các em là học khối A và D nên việc nhận
thức, tiếp thu kiến thức lịch sử là cả một vấn đề đối với các em.Vì vậy việc tìm
ra được những phương pháp học tập mới, hay và có hiệu quả cho học sinh đòi
hỏi giáo viên phải có sự đầu tư nghiên cứu.
Thực tế vấn đề sử dụng phương pháp hệ thống hoá kiến thức trong dạy
học lịch sử đã có sách đề cập đến, tuy nhiên hệ thống kiến thức qua bảng biểu
thì ít người đề cập đến, có chăng chỉ sơ qua hoặc lồng gép.Còn đối với giáo
viên thì một số giáo viên có tâm huyết với nghề đã nhìn nhận được việc sử dụng
phương pháp hệ thống hoá kiến thức lịch sử bằng bảng biểu là phương pháp học
tập hữu ích cho học sinh, nên rất đầu tư cho việc tìm hiểu, nghiên cứu phương
pháp này, đặc biệt với phương pháp này càng thuận tiện hơn khi sử dụng công
nghệ thông tin. Tuy nhiên, vẫn còn một số giáo viên quan niệm sai lệch cho rằng
việc sử dụng phương pháp này mất nhiều thời gian đầu tư nên chỉ hệ thống bằng
cách trình bày xuông, hoặc nếu có sử dụng chỉ là qua loa đại khái, mà không
giúp học sinh thấy được từ việc hệ thống hoá kiến thức qua bảng biểu có thể
giúp các em khái quát được kiến thức trọng tâm của bài và đặc biệt khắc phục
được tình trạng nhầm lẫn kiến thức.
c. Điều tra cụ thể
Trong quá trình vừa giảng dạy vừa nghiên cứu đặc điểm tình hình học tập
bộ môn của học sinh vừa tiến hành rút kinh nghiệm qua mỗi tiết dạy.Việc điều
tra được thực hiện thông qua kiểm tra 15 phút, kiểm tra chất lượng đầu năm …
Giỏi
SL %


%
46.
28.9
21
6
47.
28.6
20
6

Yếu
SL %

Kém
SL %

8

17.8

0

0

9

21.4

0


Qua thực tế giảng dạy, nghiên cứu và thực nghiệm, tôi đã sử dụng một số
giải pháp sau:
1. Phân loại niên biểu hệ thống hoá kiến thức
Niên biểu được tạm chia thành 3 loại chính.
a. Niên biểu tổng hợp
Là bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra trong thời gian dài. Loại niên
biểu này giúp học sinh không chỉ ghi nhớ những sự kiện chính mà còn nắm được
các mốc thời gian đánh dấu mối quan hệ của các sự kiện quan trọng. Ví dụ như:
Niên biểu những thắng lợi của quân dân ta trong kháng chiến chống Pháp 91946
- 1954); niên biểu những thắng lợi trên mặt trận quân sự của quân dân miền
Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1961 – 1968).....
Nội dung
Các
giai đoạn

Những thắng
lợi tiêu biểu

Kết quả - Ý nghĩa

Chứng minh khả năng quân dân miền Nam có
thể đánh bại “Chiến tranh đặc biệt”. Mở ra cao
trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”
1961 –
1965
Bình
Giã Làm phá sản về cơ bản chiến lược “Chiến
(Đông – Xuân tranh đặc biệt”, quân dân miền Nam đẩy mạnh
1964 – 1965)
tiến công Xuân – Hè 1965.

- Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” thất bại về
cơ bản.

Tổng tiến công - Mỹ thừa n hận sự thất bại của chiến lược
và nổi dậy Tết “Chiến tranh cục bộ”, chấm dứt “chiến tranh
Mậu thân 1968 phá hoại” miền Bắc và chấp nhận đàm phán
với ta ở Hội nghị Pari.
b. Niên biểu chuyên đề
Đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan trọng nổi bật nào đó của một
thời kì lịch sử nhất định nhờ đó mà học sinh hiểu được bản chất sự kiện một
cách toàn diện, đầy đủ. Ví dụ: Niên biểu Cách mạng tháng Tám năm 1945; niên
biểu chiến dịch Điện Biên Phủ 1954; niên biểu cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa
Xuân 1975.....
Chiến dịch

Chiến dịch
Tây Nguyên

Nội dung
Thời gian
4/3 - 24/3/1975
Diễn biến chính - 4/3, quân ta đánh
nghi binh ở Plâyku
và Kon Tum.
- 10/3, ta tấn công
Buôn Ma Thuột và
giành thắng lợi.
- 12/3, địch phản
công chiếm lại Buôn
Ma Thuột nhưng

một số tỉnh ở Nam

26 - 30/4/1975
- 17 giờ ngày
26/4, quân ta nổ
súng mở đầu
chiến dịch, 5
cánh quân ta
vượt qua tuyến
phòng thủ vòng
ngoài, tiến vào
trung tâm Sài
Gòn, đánh chiếm
các cơ quan
chính quyền của
địch.
- 10 giờ 45 phút
ngày 30/4, xe
tăng của ta tiến

6


Chiến dịch
Nội dung

Chiến dịch
Tây Nguyên

Chiến dịch

giải vào Dinh Độc
Lập, bắt sống
toàn bộ Chính
phủ Trung ương
Sài Gòn.
- 11 giờ 30 phút
cùng ngày, chiến
dịch Hồ Chí
Minh toàn thắng.
Diệt 5 sư đoàn chủ Sài Gòn hoàn
lực địch, xoá bỏ toàn giải phóng.
quân khu I.
Chiến dịch Hồ
Chí Minh toàn
thắng
Gây nên tâm lí Tạo điều kiện vô
tuyệt vọng trong cùng thuận lợi
quân đội và chính cho quân dân ta
quyền Sài Gòn, tiến công và nổi
đưa cuộc Tiến dậy giải phóng
công và nổi dậy các tỉnh còn lại.
của nhân dân ta
tiến lên một bước
mới với sức mạnh
áp đảo.

c. Niên biểu so sánh
Dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện xảy ra cùng một lúc trong lịch sử,
hoặc ở thời gian khác nhau nhưng có những điểm tương đồng, dị biệt nhằm làm
nổi bật bản chất đặc trưng của các sự kiện ấy, hoặc để rút ra một kết luận khái

(Nguyễn Ái Quốc, 2/1930)
Chống đế quốc, chống phong
kiến
Công - nông, liên lạc với trí
thức, tiểu tư sản, trung nông.
Nhân tố quyết định mọi
thắng lợi của cách mạng Việt
Nam.
Là một bộ phận của cách
mạng thế giới.

Luận cương
(Trần Phú, 10/1930)
Đánh đổ phong kiến, đánh đổ
đế quốc.
Công - nông
Nhân tố quyết định mọi thắng
lợi của cách mạng Việt Nam
Quan hệ mật thiết với cách
mạng thế giới.
Tập hợp tổ chức quần chúng
đấu tranh.

2. Các thức lập niên biểu hệ thống hoá kiến thức
Chúng ta có thể tiến hành việc lập niên biểu theo các bước như sau:
Thứ nhất, Giáo viên tìm hoặc hướng dẫn học sinh tìm những vấn đề,
những nội dung có thể hệ thống hoá bằng cách lập bảng. Đó là các sự kiện theo
trình tự thời gian, các lĩnh vực..... Tuy nhiên chỉ nên chọn những vấn đề tiêu
biểu giúp việc nắm kiến thức tốt nhất, đơn giản nhất, không nên đưa ra quá
nhiều các loại bảng làm việc hệ thống kiến thức trở nên rối.

Sự kiện hình thành phải rõ ràng, chân thực.
Số liệu phải chính xác, đầy đủ, có chọn lọc.
Vấn đề đưa ra cần được phân tích sâu sắc, biện chứng để rút ra nhận xét,
chính xác, khoa học.
3. Sử dụng niên biểu hệ thống hoá kiến thức có hiệu quả trong dạy
học lịch sử
Chương trình lịch sử Việt Nam 1919 - 1975 là chương trình lịch sử lớp 12
gồm các giai đoạn: 1919-1930, 1930-1945, 1945-1954, 1954-1975. Các phần
này kế tiếp chương trình lớp 11, vì thế khi học tập học sinh không thể nắm
những kiến thức từng giai đoạn, từng nội dung cụ thể, mà còn phải tìm hiểu mối
quan hệ giữa các sự kiện trong sự phát triển chung. Học sinh phải biết sử dụng
kiến thức đã học để tiếp nhận kiến thức mới, biết quá khứ để tìm hiểu hiện tại.
Yêu cầu học sinh phải nắm vững kiến thức cơ bản, bao gồm những sự kiện,
nhân vật lịch sử, không gian, thời gian …
Sử dụng niên biểu hệ thống hoá kiến thức có thể thực hiện trong quá
trình dạy hoặc thực hiện sau khi đã học xong, tuỳ vào lượng kiến thức cũng như
thời lượng học tập và phải phù hợp với đối tượng học sinh. Nó thường được áp
dụng cho những bài ôn tập, tổng kết, hoặc những nội dung mang tính chất so
sánh, liệt kê các sự kiện. Việc sử dụng niên biểu hệ thống hoá kiến thức giúp học
sinh liệt kê được các sự kiện chính trong từng mục, từng bài hoặc từng chương,
hoặc giúp các em có thể so sánh, đối chiếu giữa nội dung này với nội dung kia,
giai đoạn này, giai đoạn khác....., đặc biệt với phương pháp này sẽ giúp các em
khắc phục được tình trạng nhầm lẫn kiến thức giữa nội dung sự kiện này với nội
dung sự kiện khác, kiến thức trọng tâm giai đoạn lịch sử này với giai đoạn lịch
sử khác..... Từ đó giúp các em hiểu sâu được bản chất của lịch sử, quy luật phát
triển của lịch sử và nhất là hiểu được ý nghĩa của việc học môn lịch sử và dần
yêu thích môn lịch sử hơn.Với phương pháp này giáo viên cũng có thể lưu ý với
học sinh có thể sử dụng vào bài kiểm tra, bài thi khi đề bài yêu cầu.
Ví dụ 1 : Bài 12 mục II phần 3: Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc. Sau khi
trình bày xong quá trình hoạt động của Người từ 1919-1925 trên lược đồ, giáo

Thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa ở Pari, Ra báo Người cùng
khổ.
Người đi Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế Nông dân và Đại hội V
Quốc tế Cộng sản.
Người về Quảng Châu (Trung Quốc) mở lớp huấn luyện đào
tạo cán bộ và tuyên truyền giáo dục lý luận.
Thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên.

Với bảng hệ thống này trước hết giúp học sinh có thể nhớ và liệt kê được
các sự kiện hoạt động của Người. Từ đó rút ra được vai trò của Người đối với
cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này.
Cũng dạng hệ thống theo kiểu bảng niên biểu này giáo viên có thể áp
dụng cho những phần khác như hệ thống diễn biến của phong trào cách mạng
1930 - 1931, diễn biến phong trào dân chủ 1936 - 1939 hoặc diễn biến của cách
mạng tháng Tám năm 1945 hoặc hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
từ 1911 đến 1945.....
Ví dụ 2: Khi dạy xong mục I bài 13: Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt
Nam từ năm 1925 đến năm 1930, giáo viên có thể yêu cầu hoặc hướng dẫn học
sinh hệ thống hoá kiến thức những vấn đề cơ bản của từng mục trong bài theo
bảng niên biểu sau:
Nội
dung
Thời
gian
Lãnh
đạo

Hội Việt Nam
cách mạng thanh
niên


Lê Văn Huân, Nguyễn
Đình Kiên. Tôn Quang
Phiệt, Đạng Thai Mai
Trí thức và thanh niêu
tiểu tư sản yêu nước,
Dân chủ tư sản  vô

10


Nội
dung
hướng
chính
trị
Hình
thức
đấu
tranh

Hội Việt Nam
cách mạng thanh
niên

Kết
quả

Tân Việt
cách mạng Đảng

dân tộc, xây dựng nền
dân chủ, giúp đỡ các
dân tộc bị áp bức.
- Bất hợp tác với chính
phủ Pháp và triều đình
phong kiến, cổ động
bãi công, “đánh đuổi
giặc Pháp, đánh đổ
ngôi vua, thiết lập dân
quyền”.
Xây dựng tổ chức Trung Kì
cơ sở hầu khắp cả
nước, Tổng bộ đặt
tại Quảng Châu –
Trung Quốc.
Bị phân hoá, là Bị tan rã sau thất bại
nhân tố thành lập của khởi nghĩa Yên
Đông Dương cộng Bái.
sản đảng và An
Nam cộng sản đảng

Lãnh đạo quần chúng
trong nước, liên lạc
với các dân tộc bị áp
bức trên thế giới để
“dánh đổ chủ nghĩa đế
quốc nhằm thiết lập
một xã hội bình đẳng
và bác ái”.


niên biểu sau:
Giai đoạn Phong trào cách mạng
Nội dung
1930 - 1931
Nhận định
Đế quốc và phong kiến
kẻ thù
Mục tiêu
Đòi “Độc lập dân tộc” và
đấu tranh
“Người cày có ruộng”
Liên minh công - nông.
Tập hợp
lực lượng

Lực lượng
tham gia

Phương pháp và
hình thức đấu
tranh
Địa bàn

Chủ yếu công nhân - nông
dân.

- Chính trị : Bão công, biểu
tình.
- Bạo động vũ trang : Đánh
phá huyện lị, đồn điền, nhà

của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử .
Ví dụ 4: Khi học xong bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi
nghĩa tháng Tám (1939 - 1945). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, giáo viên
cũng có thể yêu cầu học sinh hệ thống kiến thức qua bảng niên biểu sau:

12


Hội
nghị
Nội dung
Hoàn cảnh

Nhiệm vụ
Khẩu hiệu

Phương pháp
cách mạng
Mặt trận
Ý nghĩa

Hội nghị BCHTW Đảng
(11/1939)

Hội nghị BCHTW Đảng
lần VIII (5/1941)

- Tháng 9/1939 chiến tranh thế
giới II bùng nổ. Tháng 6/1940
Pháp đầu hàng Đức.

tô, giảm tức, chia lại
ruộng công, tiến tới thực
hiện người cày có ruộng.
Hoạt động bí mật, bất hợp pháp.
Đi từ khởi nghĩa từng
phần tiến lên tổng khởi
nghĩa.
Mặt trận thống nhất dân tộc phản Mặt trận Việt Minh.
đế Đông Dương
Đánh dấu bước chuyển hướng Hoàn chỉnh chủ trương
quan trọng của Đảng: Đặt nhiệm chuyển hướng chỉ đạo
vụ giải phóng dân tộc lên hàng chiến lược cách mạng
đầu.
của Đảng.

Đây là những phần có lượng kiến thức gần giống nhau nên học sinh rất
hay nhầm giữa nội dung của Hội nghị này với nội dung của Hội nghị khác.Vậy
qua bảng so sánh trên, học sinh sẽ thấy được sự khác biệt về hoàn cảnh của hai
hội nghị, từ đó xác định nội dung Đảng đề ra cụ thể của từng giai đoạn lịch sử là
hoàn toàn phù hợp và đúng đắn. Đồng thời qua bảng thống kê này giúp học sinh
tránh được tình trạng nhầm lẫn kiến thức trong hai hội nghị.
Ví dụ 5: Khi học xong bài 15 và bài 16, giáo viên cũng có thể yêu cầu
học sinh hệ thống kiến thức qua bảng niên biểu sau:

13


TT

1

phát xít dành lại độc
Dương.
lập cho toàn thể dân
tộc.
Mặt trận
Liên hiệp hết thảy các
Việt Minh.
1941giới đồng bào yêu
1945
nước, không phân
biệt giàu nghèo.

Kết quả
Dấy lên một cao trào
cách mạng dân tộc,
dân chủ rộng lớn, uy
tín của Đảng được
nâng cao
Rộng lớn, tập hợp
mọi tầng lớp nhân dân
để đấu tranh chống kẻ
thù chủ yếu.
Góp phần rất quan
trọng cho cách mạng
tháng Tám thành công
kháng chiến chống
Pháp thắng lợi.

Đây là bảng kiến thức tổng hợp về các hình thức mặt trận từ năm 1936
đến năm 1945, qua đó học sinh không chỉ nắm được các hình thức mặt trận qua


45
42

Giỏi
SL %
12 26.7
2
4.8

Khá
Trung bình
Yếu
SL %
SL
% SL %
18 39.9 15 33.4 0
0
13 31.0 22 52.3 5 11.9

Kém
SL %
0
0
0
0

Như vậy qua bảng đối chiếu, so sánh trên ta thấy ở lớp 12C5 dạy thực
nghiệm phương pháp hệ thống hoá kiến thức qua bảng niên biểu, số học sinh
tiếp thu kiến thức tốt hơn, chủ động hơn, đặc biệt tỷ lệ % từ trung bình trở lên

cần lưu ý điều này để thiết kế bài soạn sao cho phù hợp. Tuy nhiên cách thức sử
dụng phải hết sức linh hoạt: có thể tiến hành trên lớp, có thể trong câu hỏi soạn
bài của học sinh, có thể là bài tập về nhà của các em.....
3. Hình thức niên biểu phải phong phú, sinh động, thích hợp, tránh đơn
điệu gây nhàm chán cho học sinh.
4. Giáo viên phải biết hướng dẫn tổ chức cho học sinh tự mình khám phá
kiến thức mới, dạy cho học sinh không chỉ có kiến thức mà cả phương pháp học
trong đó, cốt lõi là tự học. Chính trong các hoạt động tự lực được giao cho từng
cá nhân hoặc nhóm nhỏ tiềm năng sang tạo của mỗi học sinh được bộc lộ và
phát huy. Giáo viên phải biết luyện tập cho các em có thói quen nhìn nhận sự
kiện dưới những góc độ khác, biết đặt ra nhiều giả thuyết khi lí giải một hiện
tượng. Biết đề xuất những giải pháp khác nhau khi xử lí một tình huống. Phải
giáo dục cho học sinh không vội vã bằng lòng với giải pháp đầu tiên được nêu
ra, không suy nghĩ cứng nhắc theo những qui tắc đã học trước đó, không máy
móc áp dụng những mô hình hành động đã gặp trong các bài học, trong sách vở
để ứng xử trước những tình huống mới.
II. Kiến nghị
1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hoá
Nên có một cơ chế mở để các nhà trường THPT tự điều chỉnh phân phối
chương trình dạy học sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường.
2. Đối với Ban Giám hiệu nhà trường
Có cơ chế mở để tổ, nhóm bộ môn tự điều chỉnh phân phối chương trình
dạy học.
Bổ sung cơ sở vật chất, máy chiếu, máy tính, máy đa vật thể..... để đảm
bảo quá trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh.
3. Đối với giáo viên giảng dạy Lịch sử
Phải có lòng nhiệt huyết đối với nghề. Học hỏi, trau dồi trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy của bộ môn.
Chuẩn bị đồ dùng dạy học khi lên lớp phải chu đáo: Giáo án (hoặc giáo án
điện tử), bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ hệ thống kiến thức…..


1. Sách giáo viên Lịch sử 12, NXB Giáo dục 2010.
2. Sách giáo khoa Lịch sử 12, NXB Giáo dục 2010.
3. Phương pháp dạy học lịch sử, Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị, NXB
Giáo dục, 1999.
4. Các loại bài thi học sinh giỏi môn lịch sử, Phan Ngọc Liên (chủ biên),
NXB hà Nội, 2007.
5. Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, Lê Mậu Hãn (chủ biên), NXB Giáo
dục 2004.
6. Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử, Trịnh Đình Tùng (chủ biên),
NXB Giáo dục 2014.

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status