SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HÀ VĂN MAO
_______________________________________
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ VĂN MAO
Người thực hiện: Lê Quang Định
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: GD Công dân
THANH HOÁ, NĂM 2016
MỤC LỤC
A - MỞ ĐẦU………………………………………………………..
1.1- Lý do chọn đề tài…………………………………………...
1.2- Mục đích nghiên cứu……………………………………….
1.3- Đối tượng nghiên cứu………………………………………
1.4- Phương pháp nghiên cứu…………………………………...
B - NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM…………………..
2.1. Cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo
hướng phát triển năng lực của học sinh trong dạy học môn Giáo
Trang
1
1
17
19
19
20
21
23
A - MỞ ĐẦU
1.1 - Lí do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực của người
học, phải đổi mới một cách sâu sắc, đồng bộ, từ tất cả các khâu của quá trình
giáo dục. Trong hệ thống các môn học, môn Giáo Dục Công dân (GDCD) giữ
vai trò trực tiếp trong việc giáo dục học sinh ý thức và hành vi người công dân,
phát triển tâm lực và nhân cách con người. Do đó quá trình dạy học, đánh giá
kết quả học tập của học sinh là khâu cơ bản, tác động trực tiếp đến thái độ cũng
như phương pháp hoạt động của cả thầy và trò.
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ban hành các
Chỉ thị, Nghị quyết, Công văn về đổi mới giáo dục các cấp và đổi mới kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập của học sinh như: Công văn số 4718/BGD&ĐT Trung
học ngày 11/8/2010 của Bộ giáo dục và đào tạo về Hướng dẫn thực hiện nhiệm
vụ Giáo dục trung học năm học 2010-2011; nhằm tiếp tục đổi mới công tác thi,
kiểm tra đánh giá, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện thống nhất
trong tất cả các trường Trung học Cơ sở, trường Trung học Phổ thông, các trung
tâm Giáo dục Thường xuyên về quy trình và kĩ thuật biên soạn đề thi, đề kiểm
tra kết quả học tập của học sinh theo ma trận đề; Thông tư 58/2011/Thông tư Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 12/12/2011 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo;
Nghị quyết số 29/NQ-TU ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Cùng với việc đẩy mạnh đổi nội dung, phương pháp dạy học, thì đổi mới
quả tại các kỳ tập huấn, hội thảo do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
Trường Trung học Phổ thông Hà Văn Mao, dạy và học môn GDCD đã có
những chuyển biến tích cực, song sự chuyển biến đó chưa đồng bộ ở các khâu.
Trong đó, khâu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh còn chậm đổi
mới hoặc đổi mới còn hình thức. Cách đánh giá vẫn nặng về kiểm tra kiến thức
sách vở, chủ yếu là ở mức nhớ và tái hiện lại nội dung bài học; chu kỳ đánh giá
chỉ chú trọng ở thi học kỳ, xét lên lớp. Cách đánh giá này đã làm cho người học
rơi vào thế bị động, không phát huy được tính sáng tạo của học sinh trong học
tập.
Để góp phần vào quá trình đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
nhằm phát triển năng lực của học sinh trong dạy học môn GDCD trường THPT
Hà Văn Mao, từ kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, tác giả chọn vấn đề: “Đổi
mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo hướng phát triển năng lực học
sinh trong dạy học môn GDCD ở trường Trung học Phổ thông Hà Văn Mao”
làm đề tài Sáng kiến kinh nghiệm của mình.
1.2- Mục đích nghiên cứu
Sáng kiến đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới phương thức
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo hướng phát triển năng lực học sinh trong
dạy học môn GDCD ở trường Trung học phổ thông Hà Văn Mao.
1.3- Đối tượng nghiên cứu
Sáng kiến đề cập vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả của học sinh theo
hướng phát triển năng lực trong dạy học môn GDCD.
1.4- Phương pháp nghiên cứu
+ Tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, các nguyên tắc cơ bản của lôgíc biện chứng.
+ Quá trình nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân
tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra các
phương thức đánh giá phù hợp theo hướng phát triển năng lực học sinh.
2
chỉnh hoạt động dạy. Tạo cơ sở cho những dự đoán phát triển trong tương lai;
điều chỉnh mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học.
2.1.1.2. Khái niệm kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực
của học sinh
Là hoạt động kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối
cảnh có ý nghĩa. Tức là phải tạo cơ hội cho học sinh được giải quyết vấn đề
trong tình huống có tính thực tiễn. Đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm
tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá
kết quả học tập theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức
trong những tình huống ứng dụng khác nhau.
3
2.1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
của học sinh theo hướng phát triển năng lực
2.1.2.1. Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo
hướng phát triển năng lực
Theo Trần Bá Hoành, việc đánh giá học sinh trong quá trình học tập nhằm
những mục đích như: “Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các
mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh đối với các
yêu cầu của chương trình; phát hiện những nguyên nhân sai sót, giúp học sinh
điều chỉnh hoạt động học. Công khai hóa các nhận định về năng lực và kết quả
học tập của mỗi học sinh và của tập thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển
kỹ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích,
động viên, thúc đẩy việc học tập. Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra
những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy,
phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học” [15, tr.7]
Như vậy, đánh giá không chỉ đơn thuần là để biết kết quả của học sinh mà
qua đó còn giúp học sinh và giáo viên nhận định thực trạng và định hướng điều
lớp của con; trên cơ sở đó hỗ trợ con em phát huy các điểm tốt hoặc kịp thời
ngăn chặn, điều chỉnh, sửa chữa các điểm hạn chế.
Cộng đồng xã hội nhận thấy vai trò trách nhiệm của mình, từ đó tích cực
hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho nhà trường, gia đình giúp đỡ các em học tập,
rèn luyện.
2.1.3. Tính tất yếu của việc đổi mới phương thức đánh giá kết quả học
tập theo hướng phát triển năng lực của học sinh trong dạy học môn Giáo dục
công dân
2.1.3.1. Các phương thức kiểm tra, đánh giá chủ yếu dùng trong dạy học
môn Giáo dục công dân
- Theo Thông tư 58 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày về Quy chế đánh
giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông thì có ba
hình thức kiểm ta là: kiểm tra miệng (kiểm tra bằng hỏi đáp), kiểm tra viết, kiểm
tra thực hành. (Thông Tư 58 của Bộ Giáo dục và đào tạo…)
- Đối với môn GDCD ở trường THPT, thông thường sử dụng các kiểu
đánh giá sau:
+ Đánh giá đầu vào:
Loại đánh giá này được tiến hành khi bắt đầu năm học (phân loại học
sinh) hoặc bắt đầu một đơn vị học tập (chương, bài, môn học) nhằm để kiểm tra
kiến thức, năng lực xuất phát của học sinh.
+ Đánh giá định kỳ:
Đánh giá định kỳ được tiến hành nhằm theo dõi quá trình học tập và mức
độ tiếp thu kiến thức của học sinh qua những nội dung nhất định, cung cấp
những thông tin ngược cần thiết để giáo viên và học sinh kịp thời điều chỉnh
cách dạy và cách học. Thực hiện kiểu đánh giá này bằng các bài kiểm tra 15
phút hoặc 45 phút (1 tiết).
+ Đánh giá chẩn đoán:
Loại đánh giá này được tổ chức trong tiến trình dạy học với mục đích
chính là phát hiện những sai sót về kiến thức, kỹ năng của học sinh hoặc những
khó khăn trong việc học mà học sinh gặp phải để có biện pháp khắc phục kịp
+ Đáp án và biểu điểm đánh giá: Khi xây dựng đáp án và biểu điểm cho
đề kiểm tra, đánh giá cần chú ý có thể có nhiều phương án trả lời khác nhau cho
một câu hỏi.
- Phân tích kết quả: Việc phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá nhằm phát
hiện kịp thời những ưu điểm, nhược điểm trong quá trình nhận thức, kỹ năng,
biểu hiện thái độ tình cảm của học sinh để kịp thời uốn nắn, điều chỉnh. Trên cơ
sở phân tích kết quả, giáo viên cho điểm theo thang điểm đã quy định. Ngoài
việc cho điểm cần lưu ý: Nhận xét học sinh trên cả ba mục tiêu dạy học của môn
giáo dục công dân đó là nhận thức, kỹ năng vận dụng lý thuyết, khả năng giải
quyết tình huống thực tế và ý thức thái độ trong học tập, rèn luyện của học sinh.
2.1.4. Vai trò, ý nghĩa của việc đánh giá kết quả học tập đối với việc
phát triển năng lực của học sinh trong dạy học môn Giáo dục công dân
2.1.4.1. Đánh giá kết quả học tập tác động đến tinh thần, thái độ học tập
của học sinh
Để tạo được động lực học tập cho học sinh trách nhiệm là của giáo viên.
Trong đánh giá phải đảm bảo nguyên tắc tính vừa sức và bám sát yêu cầu của
chương trình. Nếu đề kiểm tra quá dễ hoặc quá khó đối với học sinh đều không
tạo được động lực học tập cho các em; đề quá dễ học sinh sẽ ỷ lại, chủ quan
không cố gắng phấn đấu nhưng đề quá khó thì tạo cho các em tâm lý chán nản,
chính vì vậy đề kiểm tra phải đảm bảo tính vừa sức; tuy nhiên cũng phải đảm
bảo tính phân loại học sinh, đó cũng là cách để tạo động lực phấn đấu cho học
sinh.
Bên cạnh đó, việc đánh giá kết quả học tập chính xác, công bằng. Vì khi
đánh giá đúng thực chất khả năng của học sinh và tạo được công bằng trong
đánh giá thì những học sinh nào được điểm cao trong các kỳ kiểm tra hoặc thi,
có thể được khuyến khích bằng cách cho điểm thưởng thì các em sẽ cố gắng ít
nhất là để giữ vững thành tích mà mình đã đạt được; còn học sinh nào đạt kết
quả chưa cao thì sẽ cố gắng nhiều hơn để đạt được kết quả cao hơn. Ngoài ra, để
6
thuần là nhận định thực trạng của học sinh, định hướng điều chỉnh hoạt động của
học sinh mà qua đó còn cung cấp những thông tin cần thiết giúp người giáo viên
nhận định thực trạng và định hướng điều chỉnh hoạt động dạy của mình.
Tóm lại: kiểm tra, đánh giá kết quả học tập tác động trực tiếp đến các chủ
thể tham gia vào quá trình dạy học bao gồm cả người dạy, người học và những
người làm công tác quản lý giáo dục. Đối với người dạy, rút ra được mặt tích
cực để tiếp tục phát huy và những gì chưa làm được cần được điều chỉnh. Đối
với người học, thông qua quá trình đánh giá họ sẽ biết được mức độ về kiến
thức, kỹ năng của mình đạt được đến đâu, thể hiện bằng điểm số hoặc xếp loại.
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cũng có vai trò cung cấp những thông tin cần
thiết cho những người quản lý giáo dục, giúp họ có được cơ sở để định hướng,
chỉ đạo quá trình đổi mới dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh.
7
2.2. THỰC TRẠNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ VĂN MAO HUYỆN BÁ
THƯỚC, TỈNH THANH HOÁ
2.2.1. Tình hình dạy và học môn Giáo dục công dân trường Trung học
Phổ thông Hà Văn Mao huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá
2.2.1.1. Những thuận lợi cơ bản
Căn cứ vào đặc điểm riêng biệt của từng môn và tình hình cụ thể của từng
trường, đối tượng học sinh từng địa bàn mà việc áp dụng phương pháp, cách
thức đánh giá cũng khác nhau. Theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo, tài
liệu Chuẩn kiến thức, kỹ năng là cơ sở quan trọng để thực hiện đổi mới phương
pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá, Trên cơ sở chỉ đạo trực tiếp của Sở Giáo dục
và Đào tạo Thanh Hoá, trường Trung học Phổ thông Hà Văn Mao cũng đã thực
hiện các phương pháp kiểm tra đánh giá và khung đánh giá theo quy định, phù
học phụ vì nó ít tiết (chỉ có 1 tiết/tuần) và không nằm trong các môn thi tốt
nghiệp, khối thi Đại học nào nên việc học tập đối với môn GDCD là mang tính
đối phó, chỉ cần đủ điểm đậu là được nhất là đối với học sinh khối 12; trang thiết
bị phục vụ quá trình dạy học bộ môn còn hạn chế chưa có sự quan tâm đầu tư
cũng góp phần làm cho việc đổi mới phương pháp dạy của giáo viên ở các
trường không được như ý muốn… Đó cũng chính là những nguyên nhân làm
mất dần đi vai trò của môn học trong trường Phổ thông.
2.2.2. Phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học Phổ thông Hà
Văn Mao, huyện Bá Thước hiện nay
2.2.2.1. Kiểm tra thường xuyên trong dạy học môn Giáo dục công dân
trường Trung học Phổ thông Hà Văn Mao huyện Bá Thước
Hiện nay các giáo viên dạy học bộ môn GDCD ở trường THPT Hà Văn
Mao vận dụng hình thức kiểm tra thường xuyên để kiểm tra bài cũ vào đầu mỗi
tiết học là chủ yếu, ngoài ra để đánh giá học sinh trong suốt quá trình dạy học
với hình thức đa dạng, phong phú hơn giáo viên dạy bộ môn này đã áp dụng
phương pháp: cho điểm cộng (+) hoặc điểm trừ (-) khi tham gia nhiệt tình, tích
cực trong tiết học để tìm hiểu kiến thức mới hoặc học sinh thông qua việc thực
hiện tốt nhiệm vụ được phân công trong thảo luận nhóm, đóng tiểu phẩm.
Trong phân phối chương trình, mỗi tuần có một tiết GDCD,
vì vậy, để đánh giá kết quả học sinh, cần tăng cường kiểm tra
miệng và kiểm tra 15 phút hoặc chấm thực hành. Câu hỏi kiểm
tra cần rõ ràng, chủ yếu cho học sinh thể hiện sự rèn luyện bản
thân. Giáo viên nên chấm thực hành thường xuyên để buộc học
sinh phải thường xuyên ghi chép và động viên sự tiến bộ của
các em.
2.2.2.2. Kiểm tra định kỳ trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường
Trung học Phổ thông Hà Văn Mao
Kiểm tra định kỳ là các bài kiểm tra 1 tiết giữa học kỳ và bài kiểm tra
Giáo viên dạy học môn GDCD chưa thực sự quan tâm đầu tư cho việc
thực hiện đổi mới công tác đánh giá, còn chậm trong việc thực hiện đổi mới cả
về nội dung lẫn hình thức, hình thức kiểm tra chủ yếu là những kiến thức trong
sách giáo khoa; câu hỏi với yêu cần vận dụng thấp chứ chưa chú trọng các câu
hỏi liên hệ thực tiễn để các em thể hiện thái độ của mình đối với các vấn đề xảy
ra xung quanh (vận dụng bậc cao).
Trong quá trình kiểm tra, giáo viên vẫn chưa thực sự chú ý đến việc cụ thể
hóa các yêu cầu kiểm tra về kiến thức, kỹ năng và thái độ học sinh thông qua các
câu hỏi trong các bài kiểm tra định kỳ; việc thực hiện các tiêu chí của kiểm tra,
đánh giá còn hạn chế.
Việc đánh giá thường xuyên đối với học sinh còn chưa thực sự được quan
tâm và công tác đánh giá chỉ mang tính một chiều do giáo viên thực hiện, qua
khảo sát tại trường thì có 2/3 giáo viên khẳng định kết quả của các bài kiểm tra
vẫn là yếu tố quyết định trong việc xác định năng lực học tập của học sinh và
theo quy định chung thì đối với môn GDCD mỗi học kỳ có 4 cột điểm trong đó
chỉ có một cột điểm là kiểm tra thường xuyên còn lại là kiểm tra định kỳ (thực
hiện thông qua các bài kiểm tra) không kể đôi khi việc thực hiện cột kiểm tra đó
đối với một số giáo viên chỉ là dùng để kiểm tra bài cũ, do vậy việc đánh giá chỉ
mới dừng lại ở định tính chứ chưa mang tính định lượng do vậy chưa phản ánh
một cách toàn diện, chính xác năng lực thực sự của học sinh.
Giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc thông qua các bài kiểm tra để chỉ
ra những điểm mạnh và hạn chế của học sinh để các em khắc phục và giúp các
em khắc phục. Do đó việc thực hiện cho lời phê đối với các bài kiểm tra của học
sinh là không có và việc trả bài, giải thích các đáp án đối với các bài kiểm tra để
thông qua đó nhận xét về khả năng của các em cũng chưa được thực hiện một
cách tốt nhất.
2.2.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại
Đối với giáo viên: Công tác tập huấn chưa mang lại kết quả khả quang,
giáo viên chưa nắm vững những nội dung cơ bản nhất là vị trí, vai trò của đánh
giá trong việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh; Một số giáo viên
kiểm tra cần đảm bảo yêu cầu về các cấp độ nhận thức mà học sinh cần đạt
bao gồm: nhận biết, thông hiểu, vận dụng bậc thấp và vận dụng bậc cao. Để
đảm bảo được các yêu cầu đó, giáo viên cần bám sát vào Chuẩn kiến thức và
kỹ năng; đối với môn GDCD ở Trung học phổ thông thì các yêu cầu đó được
cụ thể như sau:
Về kiến thức: Giúp học sinh có hiểu biết ban đầu về thế giới quan duy vật
và phương pháp luận biện chứng; biết được một số phạm trù cơ bản của đạo đức
học; hiểu một số yêu cầu đạo đức đối với người công dân hiện nay; biết được
một số phạm trù và quy luật kinh tế cơ bản, vai trò quản lý kinh tế của Nhà
nước; biết được bản chất Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hiểu đường lối, quan điểm của Đảng; các chính sách quan trọng của Nhà nước
về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay; hiểu bản chất và vai
trò của pháp luật đối với sự phát triển của công dân, đất nước, nhân loại. Hiểu
quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; hiểu trách
11
nhiệm của công dân trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, pháp
luật, chính sách của Nhà nước; hiểu trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tham gia
kinh tế của công dân.
Về kỹ năng:
Vận dụng được kiến thức đã học để phân tích, đánh giá các hiện tượng,
các sự kiện, các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống phù hợp với lứa tuổi; biết lựa
chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội; biết bảo vệ
cái đúng, cái tốt, cái đẹp và đấu tranh, phê phán đối với các hành vi, hiện tượng
tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với khả năng bản thân.
Về thái độ:
Yêu cái đúng, cái tốt, cái đẹp; không đồng tình với các hành vi, việc làm
tiêu cực; yêu quê hương, đất nước, trân trọng và phát huy các giá trị truyền
thống của dân tộc; tin tưởng vào các đường lối chủ trường của Đảng; tôn trọng
12
trong sách giáo khoa, hoặc có thể từ nội dung bài học liên hệ, đánh giá, lấy ví dụ
trong thực tế cho phù hợp với lứa tuổi.
Ví dụ: Quy luật cung - cầu ảnh hưởng như thế nào đến giá cả thị trường?
Em hãy lấy 1 ví dụ để chứng minh sự ảnh hưởng đó.
Câu hỏi tự luận có mức độ vận dụng bậc cao là loại câu hỏi yêu cầu
học sinh có thể hiểu nội dung đã học ở mức độ cao để có thể liên hệ, lý giải,
đánh giá một vấn đề trong thực tế và đưa ra cách ứng xử phù hợp trong một
tình huống cụ thể.
Ví dụ: Cho một tình huống sau:
Bình vừa tròn 17 tuổi thì nhận được giấy yêu cầu đến Ban chỉ huy quân
sự huyện để đăng ký nghĩa vụ quân sự.
Mẹ Bình không đồng ý cho Bình đi vì cho rằng: Bình chưa đủ 18 tuổi và
con trai mình còn đang đi học nên chưa phải đăng ký nghĩa vụ quân sự.
Hỏi:
1/ Theo em, mẹ Bình nói vậy là đúng hay sai? Vì sao?
2/ Nếu là Bình, em sẽ làm gì?
Ví dụ: Hiện nay, hiện tượng bạo lực học đường đang diễn ra rất phức tạp,
trong đó có rất nhiều vụ do nữ sinh tổ chức. Hiện tượng này đang ảnh hưởng xấu
đến nét đẹp của nữ sinh học đường, vi phạm nghiêm trọng chuẩn mực đạo đức,
phẩm hạnh của người phụ nữ Việt Nam.
Theo em, cần phải làm gì để ngăn chặn kịp thời những hiện tượng trên và
giúp các bạn nữ hiểu ra điều sai trái, xấu xa đó?
Cho phép học sinh được lựa chọn sự kiện, nhân vật, vấn đề chính trị,
đạo đức, xã hội yêu thích hoặc nổi bật... để trình bày quan điểm, hiểu biết
của bản thân
Từ câu chuyện, tình huống, bài viết… học sinh cảm nhận và bộc lộ cảm
xúc, tình cảm, thái độ của mình:
thang điểm 10. Thông qua cách thực hiện đó cũng đã thúc đẩy học sinh xây
dựng bài tích cực hơn và suy nghĩ tìm tòi những vấn đề mới có liên quan đến nội
dung bài học nhưng nhìn chung cách thức thực hiện còn cứng nhắc. Bản thân
thiết nghĩ cần đa dạng trong cách thức thực hiện hình thức này để nó phát huy
hơn nữa vai trò của mình trong công tác đánh giá, chẳng hạn thay vì trước đây
giáo viên luôn là người chủ động thì chúng ta có thể tạo điều kiện cho học sinh
đánh giá lẫn nhau bằng cách khi kiểm tra bài cũ, có thể gọi hai học sinh để một
em đặt câu hỏi xung quanh nội dung bài học và một học sinh trả lời sau đó để
học sinh tự đánh giá cho điểm và cuối cùng giáo viên nhận xét và cho điểm nếu
điểm số mà các em tự cho không phù hợp; hoặc là trong quá trình dạy bài mới
thay vì giáo viên nêu vấn đề thì chúng ta khuyến khích học sinh tự tìm vấn đề
mới có liên quan và cho điểm đối với các phát hiện thú vị, như vậy sẽ làm cho
lớp học sinh chủ động hơn và đánh giá được khả năng của học sinh chính xác
hơn.
Đối với hình thức kiểm tra viết, đổi mới các hình thức đề kiểm tra, kết hợp
giữa hình thức trắc nghiệm khách quan và hình thức tự luận trong đó chú ý đến
sự kết hợp một cách hợp lý giữa câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm khách
quan trong đề kiểm tra vì bản thân mỗi hình thức đánh giá đều có những ưu
điểm và hạn chế riêng, nếu thực hiện đánh giá thông qua các bài kiểm tra là chủ
yếu thì việc kết hợp một cách hợp lý giữa hai hình thức trên là việc làm rất cần
thiết để chúng bổ sung cho nhau giúp cho đề kiểm tra được hoàn thiện hơn.
Ngoài ra, bản thân thiết nghĩ đối với môn GDCD vì nó là môn học gắn
liền với thực tiễn và có tính giáo dục cao nên việc kiểm tra, thi có thể thực hiện
các hình thức khác như sử dụng phổ biến hơn hình thức quan sát hoạt động của
học sinh; hình thức đánh giá thông qua các hoạt động ngoài lớp, rèn luyện trong
cuộc sống hàng ngày. Nếu thực hiện được các hình thức đánh giá đó sẽ góp phần
đánh giá học sinh một cách toàn diện đồng thời góp phần phát huy tốt vai trò của
GDCD trong việc giáo dục học sinh. Tuy nhiên để thực hiện được các hình thức
đánh giá đó là một vấn đề vô cùng khó khăn vì giáo viên sẽ rất mất thời gian để
thường xuyên liên hệ, kịp thời thu nhận những thông tin nhận xét, đánh giá của
năng lực tự đánh giá của học sinh gặp nhiều khó khăn.
Để góp phần phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện
để học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình, bản thân thiết nghĩ trong thời
gian tới chúng ta cần thực hiện các bước sau:
Trước hết cấp quản lý cần có sự hướng dẫn, chỉ đạo để thực hiện thống
nhất về việc quy định tiết trả bài và sửa bài kiểm tra. Cần có quy định về việc
phê nhận xét một cách cụ thể về bài làm của học sinh và sửa bài kiểm tra; việc
sắp xếp lại phân phối chương trình sao cho sau mỗi tiết kiểm tra giữa học kỳ và
kiểm tra cuối học kỳ có 01 tiết trả bài là việc hết sức cần thiết. Đồng thời, cần
phổ biến những kiến thức cơ bản và cách thức thực hiện về đánh giá kết quả học
tập theo hướng đổi mới cho giáo viên để giáo viên thực hiện đầy đủ những yêu
cầu theo quy định, trong đó có việc phê nhận xét đối với các bài kiểm tra.
Đối với giáo viên, bản thân mỗi giáo viên cần nghiêm túc trong việc
nhận xét bài làm của học sinh, chú trọng đến việc chỉ ra những hạn chế hoặc
thông qua các tiết kiểm tra giúp học sinh tự tìm ra những hạn chế của mình;
đồng thời, giúp học sinh dần dần khắc phục những hạn chế đó. Đây là việc làm
rất khó khăn với giáo viên dạy một số lượng lớn học sinh; nhưng nếu làm được
điều đó sẽ giúp học sinh chủ động, có trách nhiệm hơn đối với việc học tập của
15
bản thân. (Để là tốt việc này nên đưa quy định tính thừa giờ chấm bài kiểm tra
cho giáo viên)
Đổi mới cách chấm điểm:
Đổi mới cách chấm điểm là vấn đề quan trọng góp phần phát triển năng
lực của học sinh. Chúng ta sử dụng thang điểm 10 để đánh giá, nhưng để thuận
tiện trong việc xếp loại học sinh, điểm số không chỉ tập trung vào các bài kiểm
tra theo quy định (kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết giữa học kỳ
và kiểm tra cuối học kỳ). Thay vì theo quy định thì có 4 cột điểm dựa trên điểm
số các bài kiểm tra thì chúng ta có thể cũng chỉ lấy 4 cột điểm theo quy định
học sinh thảo luận nhóm các vấn đề liên quan đến thực tế đời sống, gúp học sinh
nắm bắt vấn đề nhanh, hiểu và nhớ ngay tại lớp.
16
Hai là, tổ chức các hội nghị chuyên đề, hội thảo. Nhà trường định hướng
và khuyến khích giáo viên dạy GDCD tổ chức các tiết giảng chuyên đề liên quan
đến tình hình chấp hành pháp luật, đến hành vi đạo đức của học sinh. Mở rộng
giao lưu chuyên đề các cụm trường nhằm trao đổi kinh nghiệm về kiểm tra, đánh
giá theo hướng phát triển năng lực học sinh.
Ba là, tiến hành nhiều hình thức tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ cho
giáo viên đặc biệt là các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về kỹ năng sư phạm và phương
pháp dạy học. Cần có thêm nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên
GDCD.
Bốn là, có thêm các chính sách thiết thực và cụ thể để nâng cao đời sống
và điều kiện làm việc của đội ngũ giáo viên để tăng cường tình yêu nghề nghiệp,
quan tâm đến trao dồi phẩm chất và năng lực chuyên môn.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ VĂN MAO
2.4.1. Một số kết quả đạt được trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo hướng phát triển năng lực của học sinh trong dạy học môn Giáo dục
công dân ở trường Trung học Phổ thông Hà Văn Mao những năm qua
Đánh giá kết quả học tập của học sinh được xem là khâu cuối cùng của
quá trình dạy học, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát huy tính
tích cực, sáng tạo của học sinh. Việc thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá trong
dạy học môn GDCD trường THPT Hà Văn Mao đã mang lại những kết quả như
sau.
Về nhận thức: Qua kết quả khảo sát 130 học sinh thì có 80 em có suy
sinh thì có 80 học sinh cho rằng đó là việc rất cần thiết, 50 học sinh xác định đó
là cần thiết và 20 học sinh thì nghĩ đó là việc không cần thiết. Đồng thời học
sinh hiện nay cũng có cách nhìn nhận mới hơn về kiểm tra, đánh giá chú trọng
đến vai trò của mình trong quá trình dạy học chứ không như trước đây tất cả đều
do giáo viên quyết định, chính vì vậy qua khảo sát thì trung bình 150 học sinh có
90 học sinh đề xuất để đánh giá chính xác năng lực của các em ngoài việc đánh
giá của giáo viên thì cũng cần tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá khả năng
của mình đây cũng chính là xu hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá hiện nay; 40
học sinh cho rằng chỉ cần dựa vào điểm của các bài kiểm tra và 30 học sinh còn
lại thì cho rằng ngoài điểm của các bài kiểm tra, nhận xét của giáo viên còn phải
tham khảo ý kiến của Đoàn trường.
Về kiến thức: Kết quả đạt được trong các năm học gần đây (Xem phụ lục
4, bảng 2.2; 2.3)
Như vậy, vai trò của việc thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá đối với
việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh thể hiện rõ nét trong sự thay
đổi về ý thức học tập của học sinh và ý thức của các em đối với việc thực hiện
kiểm tra; nhìn chung các em đã có sự thay đổi nhất định trong nhận thức đối với
bộ môn và thấy được cái hay của môn GDCD, đặc điểm của môn GDCD làm
các em thích điều đó cho thấy các em đã chủ động, tích cực hơn đối với việc học
tập bộ môn. Qua đó chúng ta cũng thấy rõ mối quan hệ giữa đổi mới kiểm tra,
đánh giá và đổi mới phương pháp dạy học, chúng hỗ trợ cho nhau trong việc
phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh. Khi giáo viên đổi mới phương thức
đánh giá, không chỉ rập khuôn với yêu cầu học sinh tái hiện lại kiến thức trong
sách mà phải suy nghĩ và liên hệ với cuộc sống xung quanh thông qua các câu
hỏi giải thích, lấy ví dụ theo cách hiểu của học sinh và giải quyết những tình
huống xảy ra trong cuộc sống thì trong quá trình học tập các em sẽ không chỉ
học vẹt mà có thể phát huy tính sáng tạo của mình. Từ đó, kết quả học tập thể
hiện qua các bài kiểm tra cũng sẽ phản ánh được một các toàn diện, chính xác
hơn về năng lực của các em.
2.4.2. Một số kết quả đạt được đối với giáo viên trong kiểm tra, đánh
3.1. Kết Luận
Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay và trong hệ thống các
môn học, môn Giáo dục công dân giữ vai trò quan trọng và trực tiếp trong việc
giáo dục học sinh ý thức và hành vi người công dân, phát triển tâm lực và nhân
cách con người. Giáo dục công dân truyền tải cho người học những giá trị,
chuẩn mực của xã hội để họ trở thành những con người toàn diện, biết sống và
biết tôn trọng người khác, thành công dân có ích cho cộng đồng, xã hội.
Tuy nhiên, trong các trường Trung học Phổ thông hiện nay, môn học này
chưa được chú trọng đúng mức; còn nhiều hạn chế, bất cập, nhất là những hạn
chế về nội dung chương trình và phương pháp dạy học, trong đó có khâu kiểm
tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Thời gian qua, giáo viên dạy học bộ môn Giáo dục công dân trường
THPT Hà Văn Mao đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng đổi
mới phương thức đánh giá kết quả học tập của học sinh. Việc đánh giá kết quả
học tập của học sinh phần nào được chú ý áp dụng phù hợp với đặc thù của bộ
môn, do đó bước đầu đã mang lại những kết quả nhất định, góp phần phát triển
năng lực học sinh. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc đánh giá kết quả học
tập của học sinh còn có những hạn chế nhất định, chưa phát triển năng lực người
19
học. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ nhận thức đến tổ chức
hoạt động; từ phía người dạy lẫn phía người học; từ phía nhà trường lẫn phía các
cấp quản lý giáo dục. Do vậy, cần đổi mới mạnh mẽ, toàn diện hơn nữa phương
thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo hướng phát triển năng lực của học
sinh.
Đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực
học sinh, cần thực hiện các giải pháp chủ yếu như: nâng cao nhận thức về tính
tất yếu đổi mới phương thức đánh giá kết quả học tập của học sinh; xác định
những yêu cầu và tiêu chí cụ thể trong đánh giá; đổi mới nội dung thi, kiểm tra
20
21
D - DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1].
Bộ Giáo dục và Đào tạo (05/08/2008), “Chí thị 46/2008/CT-BGD&ĐT về
việc tăng cường công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục”
[2].
Bộ Giáo dục và Đào tạo (05/05/2006), “Quyết định số 16/2006/BGDĐT
về việc ban hành chương trình giáo dục phổ thông”
[3].
Bộ Giáo dục và Đào tạo (15/05/2008), “Công văn số 7475/BGDĐT GDTrH về việc đưa ra các yêu cầu quan trọng về đổi mới kiểm tra đánh
giá”
[4].
Bộ Giáo dục và Đào tạo (12/12/2011), “Thông tư số 58/TT-BGDĐT, ngày
12/12/2011 của Bộ về đánh giá xếp loại học sinh…”
[5].
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), “Giáo dục công dân lớp 10” (Sách giáo
22
[14]. Trần Văn Chương (chủ biên), (2007), “Tình huống Giáo dục công dân
lớp 10”, NXB Giáo dục, Hà Nội
[15]. Trần Bá Hoành (1996), “Đánh giá trong giáo dục, NXB Giáo dục, Hà
Nội
[16]. Nguyễn Hữu Khải (chủ biên), (2009), “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến
thức, kỹ năng môn Giáo dục công dân trung học phổ thông”, NXB Giáo
dục
[17]. Nguyễn Lân (chỉnh lý và bổ sung - 1997), “Từ điển Tiếng Việt”, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội
[18]. Luật giáo dục (2005), NXB Lao động xã hội
[19]. Trần Viết Quang (2013) “Đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học
phổ thông” NXB Giáo Dục Việt Nam
[20]. Trần Văn Thắng (chủ biên), (2008), “Tình huống Giáo dục công dân 12”,
NXB Giáo dục
[21]. Trường THPT Hà Văn Mao, “Báo cáo tổng kết năm học 2013 - 2014”
[22]. Trường THPT Hà Văn Mao, “Báo cáo tổng kết năm học 2014 - 2015”
[23]. Vũ Hồng Tiến - Trần Văn Thắng (2008), “Tình huống Giáo dục công dân
11”, NXB Giáo dục
[24]. Nguyễn Phú Tuấn (2006), “Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo
hướng phát huy tính tích cực của học sinh THPT” (kỷ yếu hội thảo), Viện
Chiến lược và Chương trình giáo dục, TP Hồ Chí Minh
23