Nâng cao hiểu biết và nhận thức cho học sinh THPT về chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc năm 1079 để giảng dạy và giáo dục cho học sinh trường THPT ngọc lặc năm học 2015 2016 - Pdf 44

PHỤ LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

10

11
12
13
14

15

16

17
18
19

Đề mục
I.
I.1
I. 2

4.b
4.c
III.
1
2

Nội dung tiêu đề
- Mở đầu

- Lý do chọn đề tài
- Mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
- Nội dung
- Cơ sở lý luận của vấn đề
- Nguyên nhân và bối cảnh xảy ra chiến tranh giữa VN và TQ
- Ý đồ thâm hiểm của Trung Quốc
- Mục đích và mục tiêu của Trung Quốc

- Tương quan lực lượng tham chiến
- Mặt trận ngoại giao của Trung Quốc

- Các giai đoạn của chiến tranh
- Giai đoạn 1: Mặt trận Lạng Sơn – Cao Bằng
- Mặt trận Lào Cai
- Trận Lạng Sơn
- Trung Quốc rút quân
- Việt Nam phản kích
- Phản ứng của Quốc tế
- Kết quả của cuộc chiến

7-8
8
8 - 14
8 - 10
10
10 - 11
11 - 12
12
12 - 13
13
13
14
14 - 16
14 - 15
15
16
16
16
16 - 17
16
17
17 - 18
17
17
17 - 18
18
18 - 19
19

1

học tiếp theo
I. 2. Mục đích nghiên cứu.
- Phổ biến những kiến thức về “ Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc
năm 1979 ” mang tính lịch sử hào hùng mà ông cha ta đã đổ mồ hôi, sương máu
tô điểm cho bức tranh hào khí, sự độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ ngày nay, để thế hệ trẻ ( trong đó có cán bộ giáo viên và học sinh Trường
THPT Ngọc Lặc) không quên và khắc cốt, ghi tâm truyền thống đấu tranh hào
hùng của dân tộc , nâng cao niềm tin, niềm tự hào, xây dựng ý thức, trách nhiệm
công dân trước vận mệnh của đất nước , sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ tổ
quốc.
- Không chỉ đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa,
Trường Sa mà ngay cả cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc cũng cần được
nhắc đến đầy đủ. Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì
mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống . Ta tôn trọng lịch sử, sòng
phẳng với lịch sử không có nghĩa là chúng ta kích động hận thù. Chúng ta biết sự
thật, để hiểu đâu là lẽ phải và để rút ra bài học cho các mối quan hệ quốc tế trong
bối cảnh phức tạp ngày nay ( Tháng 6/ 2015 làm việc với đại diện Hội Khoa học
2


Lịch sử Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng tình với đề xuất của GS
Phan Huy Lê rằng phải đưa mạnh dạn, đầy đủ hơn nữa những tài liệu về Hoàng
Sa, Trường Sa, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã được kiểm chứng vào sách
giáo khoa để giáo dục thế hệ trẻ )
I. 3. Đối tượng nghiên cứu.
- Khách thể: Quá trình giảng dạy môn học Giáo dục Quốc phòng và An ninh
bậc THPT
+ Thực trạng tiếp thu kiến thức, quyền được biết về một phần lịch sử dân tộc
của học sinh Trường THPT Ngọc Lặc - Huyện Ngọc Lặc - Tỉnh Thanh Hóa trong
năm học 2015 – 2016.

phản bội. Từ năm 1973, Ban lãnh đạo Trung Quốc đã có chỉ thị: "Bề ngoài ta đối
xử tốt với họ (Việt Nam) như đối xử với đồng chí mình, nhưng trên tinh thần phải
chuẩn bị họ sẽ trở thành kẻ thù của chúng ta". Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc
Kinh, Lê Duẩn thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên minh
3


chống Liên Xô của Trung Quốc, phủ nhận quan niệm của họ rằng chủ nghĩa bành
trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á.
+ Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, Trung
Quốc thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng xây
dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó Việt Nam
giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã trở thành
một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc.
Những điều này làm cho Trung Quốc lo ngại về một "tiểu bá quyền" Việt Nam và
việc bị Liên Xô bao vây từ phía bắc. Một nước Campuchia chống Việt Nam đã trở
thành một đồng minh quan trọng đối với Trung Quốc.
+ Ngày 29/ 6/1978 Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế. Tháng
7, Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại
Việt Nam về nước. Ngày 3/11/1978, Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác
giữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Xô Viết. Ngày 22 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc ngừng tuyến xe lửa liên
vận tới Việt Nam. Đầu tháng 1 năm 1979, đường bay Bắc Kinh - Hà Nội cũng bị
cắt.
+ Theo các nguồn tin chính thức của Mỹ vào tháng 8/1978, Việt Nam có
4.000 cố vấn và chuyên gia Liên Xô và đến giữa năm 1979 con số đã tăng lên đến
5.000-8.000. Tháng 9/1978, Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí mới (máy bay, tên
lửa phòng không, xe tăng và vũ khí, đạn dược, cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh)
cho Việt Nam bằng đường hàng không và đường biển.
+ Tháng 5/1979 trên biên giới Liên Xô - Trung Quốc xảy ra một xung đột

+ Ngày 20/11/1977, Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm Trung Quốc đã bày tỏ quan
điểm không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung - Xô thông qua việc "chân thành
cảm ơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn
đối với Việt Nam". Tổng Bí thư cũng đề nghị những nhà lãnh đạo Trung Quốc yêu
cầu Campuchia Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc xung đột trên tuyến
biên giới Tây Nam, nhưng Trung Quốc không quan tâm.
+ Tháng 12 năm 1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng tới
thăm Campuchia và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam. Trong chuyến
thăm này, Phó Thủ tướng Uông Đông Hưng tuyên bố: "Không một lực lượng nào
có thể đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Campuchia, hai nước
sẽ là đồng chí với nhau mãi mãi".
+ Cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu luôn nhấn mạnh
tinh thần "phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam", tuyên truyền: "Việt Nam là
tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á,
thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không đánh là
không thể được và phải đánh lớn. Việt Nam là tiểu bá ở châu Á, xâm lược
Campuchia, xua đuổi người Hoa".
+ Tháng 1 năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu các nước xã hội
chủ nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt Nam - Campuchia. Một lần nữa
Trung Quốc không đáp ứng. Cũng trong tháng 1 năm 1978, Bà Đặng Dĩnh Siêu,
Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Phnompenh và ký
một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ, bắt đầu chuyển
vũ khí đến Campuchia và tuyên bố: Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một cuộc tấn
công nào vào đồng minh của họ. Trung Quốc cũng hủy bỏ hiệp ước về lãnh sự với
Việt Nam. Ngày 12/7/1978, lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản
Trung Quốc, công khai buộc tội Việt Nam "tìm cách sáp nhập Campuchia vào một
Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam".
+ Theo tính toán của nhà nghiên cứu D.R.SarDesai, từ năm 1975-1978,
Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazoca, súng
đại liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng đầu đầy đủ để trang bị cho

những chế độ tàn bạo nhất của thế kỉ 20. Một số nhà sử học cho rằng Đặng Tiểu
Bình gây ra chiến tranh để giữ cho quân đội bận rộn trong khi ông củng cố quyền
lực và loại bỏ các đối thủ cánh tả từ thời Mao Trạch Đông.
+ Đối với Việt Nam, cuộc chiến là một phần trong kế hoạch bành trướng về
phía nam của Trung Quốc. Trước khi có xung đột, Việt Nam đã đề phòng những kế
hoạch tiến xuống Đông Dương (bao gồm biển Đông). Trung Quốc đã viện trợ vũ
khí, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác cho Campuchia và xây dựng nhiều cơ sở
hạ tầng, đồng thời xúi giục Khmer Đỏ tấn công Việt Nam. Sau khi khống chế
Campuchia rồi sẽ dùng bàn đạp để phối hợp với quân Trung Quốc ở phía bắc làm
thế gọng kìm bao vây, nếu cần sẽ tấn công để buộc Việt Nam khuất phục.
2. b. Tương quan lực lượng tham chiến
+ Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một
số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn
và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng
trên 30 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn,
chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía
sau. Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến
công vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng
Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc với
trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là đợt huy động quân sự lớn
nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên. Ngoài lực lượng quân chính
quy, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở
các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy phục
vụ cho chiến dịch, chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huy
động. Về phân phối lực lượng của Trung Quốc: hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43,
54, 55; hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có quân
đoàn 13, 14; hướng Lai Châu có quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay
là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn.
+ Về phía Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4
quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung

Ngày 5/11/1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN. Trong chuyến
đi này Đặng nói rằng, việc Việt Nam ký Hiệp ước Việt - Xô ngày 3/11/1978 là mối
đe dọa đối với các nước ASEAN, Đặng Tiểu Bình kêu gọi thành lập Mặt trận
chống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối nước ASEAN để cân bằng
lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ quyết tâm của Trung Quốc
không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt Nam. Trong chuyến đi này, Đặng
Tiểu Bình công khai ý định dùng biện pháp quân sự đối phó với Việt Nam. Sau đó,
tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ rồi tới thăm Nhật. Về mặt ngoại giao,
sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 1978, trong chuyến
thăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1, Đặng Tiểu Bình nhận được sự ủng hộ cần
thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ trong kế hoạch tấn công Việt Nam. "Đối với Việt
Nam, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm đối phó" và nhấn mạnh: "Các ngài nhớ kỹ
một điều là những lời phát biểu của tôi trong chuyến thăm nước Mỹ sẽ hoàn toàn
được chứng thực bằng những hành động".
3. Giai đoạn chiến tranh
3. a. Giai đoạn 1: Mặt trận Lạng Sơn và Mặt trận Cao Bằng
+ 5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, lực lượng bộ binh Trung Quốc với khoảng
120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo,
tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Cánh phía đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại
Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn. Có hai hướng tiến song song, hướng thứ
9


nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn
đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long
Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê. Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến từ
Phòng Thành vào Móng Cái. Cánh phía tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông
Tự, có 3 hướng tiến công chính. Hướng thứ nhất do các quân đoàn 13A và 11A dẫn
đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang.
Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào

quân Trung Quốc đã chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây Đồng
Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt.
- Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt nhất.
Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân
đội Nhân dân Việt Nam. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung
đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc. Cụm điểm tựa
Thâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía tây nam thị xã Đồng
Đăng, do lực lượng của hai Tiểu đoàn 4 và 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung
10


Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn. Lực
lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối
cùng, trụ được cho đến ngày 22.
- Ngày 19/2/1979 một đoàn cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô do đại
tướng G.Obaturovym đứng đầu tới Hà Nội hỗ trợ cho các tướng lĩnh chỉ huy của
Việt Nam. Nhóm chuyên gia của Trung tướng M.Vorobevy có trách nhiệm cố vấn
cho bộ tư lệnh lực lượng Phòng không – Không quân còn Đại tướng
G.Obaturovym làm cố vấn cho Tổng tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Việt
Nam Lê Trọng Tấn và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đại tướng Văn Tiến Dũng.
Moskva yêu cầu Trung Quốc rút quân.
3. b. Mặt trận Lào Cai
- Đến 21 tháng 2, Trung Quốc tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn
công mạnh hơn nữa. Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm. Quân
Trung Quốc chiếm thêm một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và
Quảng Ninh. Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái. Về phía
Việt Nam, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư
đoàn (gồm 30.000 quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng ngự cánh
cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng.
- Ngày 26 tháng 2, thêm nhiều quân Trung Quốc tập kết quanh khu vực

trước các đợt tấn công lớn của quân Trung Quốc. Từ ngày 2 tháng 3, Sư đoàn 337
trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Sư đoàn 3 chống trả 3 sư đoàn bộ binh 160, 161,
129, cùng nhiều tăng, pháo, tiến công trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong
huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu huyện Cao Lộc. Suốt ngày 27, ở hướng Cao Lộc,
sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở
hướng đường 1B, sư đoàn 161 bị trung đoàn 12 ghìm chân; ở hướng đường 1A,
trung đoàn 2 vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía bắc vừa chống lại cánh quân vu
hồi của sư đoàn 161 từ hướng tây bắc thọc sang. Nhưng 14 giờ ngày hôm đó, 1 tiểu
đoàn Trung Quốc bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh chiếm điểm cao 800, nơi
đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế trận
phòng ngự của Việt Nam ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị
chọc thủng. Chiếm được điểm cao 800 và Tam Lung, nhưng trong suốt các ngày từ
28 tháng 2 đến 2 tháng 3, quân Trung Quốc vẫn không vượt qua được đoạn đường
4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy đã dùng cho hướng tiến công này gần 5 sư đoàn
bộ binh. Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn,
mà có trận quân phòng thủ Việt Nam đánh đến viên đạn cuối cùng, quân Trung
Quốc bắt đầu bao vây thị xã Lạng Sơn ngày 2 tháng 3 sử dụng thêm sư đoàn 162
dự bị chiến dịch của quân đoàn 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều
hướng. Chiều ngày 4, một cánh quân Trung Quốc đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm
điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128
Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía tây nam thị xã.
- Đến đây, phía Việt Nam đã điều động các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo
binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu
vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn
nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của
Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14.
3. d. Trung Quốc rút quân

- Những tù binh Trung Quốc bị canh giữ bởi nữ dân quân Việt Nam.
Ngày 5 tháng 3 năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng

"một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định trong khu vực", tuyên bố của Mỹ về cuộc
tấn công của Trung Quốc có hàm ý bào chữa rằng "việc Trung Quốc thâm nhập
biên giới Việt Nam là kết quả của việc Việt Nam xâm lược Campuchia".
Liên Xô đã lên án cuộc tấn công của Trung Quốc là "hành động man rợ bất
chấp đạo lý của kẻ cướp", đòi Trung Quốc lập tức chấm dứt "cuộc chiến tranh xâm
lược", và cảnh báo Trung Quốc về lòng trung thành của Liên Xô đối với Hiệp ước
hữu nghị và hợp tác Liên Xô - Việt Nam. Đêm hôm Trung Quốc tuyên bố rút quân,
Cuba cảnh báo Trung Quốc là nước này sẽ hỗ trợ Việt Nam, kể cả việc đưa quân
đến nếu cần.
- Lên án Trung Quốc, hỗ trợ Việt Nam gồm: LiênXô, Cuba, BaLan,
Đông Đức, Tiệp Khắc, Hungary, Bulgaria, Albania, Mông Cổ, Afghanistan,
Ethiopia, Angola, Mozambique, Cộng hòa Nhân dân Campuchia
- Lấy làm tiếc và yêu cầu Trung Quốc rút quân: Lào, Miến Điện, Ấn Độ
- Phản đối hành động quân sự của Việt Nam và Trung Quốc: Thụy
Điển, Canada, New Zealand
- Yêu cầu Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, Việt Nam rút quân khỏi
Campuchia: Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines,
Iraq, Bắc Yemen, Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy, Anh, Hà Lan, Italy, Nam Tư,
Romania, Hoa Kỳ, Australia
- Lấy làm tiếc với Việt Nam và Trung Quốc, hy vọng Việt Nam và
Campuchia có thể được tự quyết định vận mệnh của mình: Tây Đức, Áo, Thụy
Sĩ, Bỉ, Luxembourg, Pháp, Tây Ban Nha, Hy Lạp
- Kêu gọi thương lượng: Bangladesh, Síp, Iceland, Ireland, Ai Cập,
Libya, Mali, Madagascar
13


- Không tuyên bố công khai: Bồ Đào Nha
- Hỗ trợ Trung Quốc: Campuchia Dân chủ, CHDCND Triều Tiên
4. Kết quả cuộc chiến

320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường,
38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000
gia súc bị giết và bị cướp. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa,
tài sản và phương tiện sinh sống. Về phía Trung Quốc, cuộc chiến ngắn ngày đã
tiêu tốn của nước này khoảng 1,3 tỷ USD và làm ảnh hưởng lớn tới quá trình cải tổ
kinh tế.
Về lâu dài, nó mở đầu cho hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ và xung
đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia, buộc Việt Nam phải thường xuyên
duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ dọc biên giới, gây hậu quả xấu đến nền
kinh tế. Sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng biên giới bị ảnh hưởng nghiêm
trọng. Ngoài ra, nhiều cột mốc biên giới cũng bị quân Trung Quốc phá hủy, gây
khó khăn cho việc hoạch định biên giới sau này.
14


6. Đánh giá về cuộc chiến
Cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng.
- Phía Việt Nam: Lời nói đầu Hiến pháp Việt Nam năm 1980 khẳng định
"Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong
muốn có hoà bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá
quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia. Phát
huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi
oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Campu-chia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía
Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình."
- Trong bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình tại hội nghị quân chính nội bộ
ngày 16-3-1979 (sau khi rút quân về nước 1 tháng), Đặng Tiểu Bình chỉ trích gay
gắt các quan chức chính quyền và các lãnh đạo quân đội về những sai lầm trong
chiến dịch: "Đánh lần này vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở
Cao Bằng chí ít là 5 đánh 1, 6 đánh 1. Chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều
gấp mấy lần, thậm chí 6 đánh 1, 7 đánh 1…" nhưng "…thương vong của chúng ta



thiêng liêng của Tổ quốc (Thiếu tướng LÊ VĂN CƯƠNG, nguyên Viện trưởng
Viện Nghiên cứu chiến lược, Bộ Công an)
- Tăng cường tuyên truyền pháp lý về lịch sử truyền thống đấu tranh chống
lại kẻ thù xâm lược, sự hy sinh xương máu của ông, cha ta. Từ đó khơi dậy lòng
yêu nước, tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh của thế hệ trẻ khi tổ quốc lâm nguy
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tài liệu và sách giáo khoa có liên
quan.
- Với Trung Quốc, chúng ta tiếp tục thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác
toàn diện; tăng cường xây dựng, củng cố lòng tin, tạo cơ chế đối thoại, giải quyết
tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình. Trong quan hệ với Trung Quốc, ta
kiên định nguyên tắc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển, đảo của Tổ quốc, nhưng ứng
xử khôn khéo, tránh để rơi vào thế đối đầu trực tiếp về quân sự. Thực tiễn cho thấy,
nếu quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tốt đẹp thì các tranh chấp dễ giải quyết.
- Với thế giới, ta công khai, minh bạch hóa phạm vi chủ quyền, quyền chủ
quyền, lập trường, quan điểm chính nghĩa của ta trong vấn đề biển Đông để tranh
thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các nước ASEAN và quốc tế đối với ta; bác
bỏ yêu sách sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.
2. b. Tính tiêu cực
- Hiện nay sự hiểu biết pháp luật về lịch sử và ý thức thực hiện pháp luật
của một số cán bộ, nhân dân ta còn mập mờ, chưa đầy đủ. Vì vậy mà có người
chưa quan tâm đúng mức đến sự hy sinh mất mát qua các cuộc chiến tranh trong
đó có Chiến tranh bảo vệ Biên giới phía Bắc năm 1979. Một số người có người
thân đã từng chiến đấu, nhưng chưa được Đảng, nhà nước, xã hội công nhận lại
nóng lòng thể hiện thái độ, cách nhìn nhận không phù hợp.
- Cũng nhân cơ hội này, nhiều thế lực phản động đã lợi dụng tình hình biên
giới, biển đảo, để xuyên tạc, kích động, nói xấu, bôi nhọ chế độ và làm một số
người hiểu sai về các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta.
- Âm mưu, ý đồ của họ là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động

11
403
76, 92%
13, 15%
9, 93%
3

12

422

251 hs - chiếm
59, 47%

98 hs – chiếm
23, 22%

73 hs – chiếm
17, 31%

Tổng

1.236

942 hs – chiếm
76, 21%

179 hs - Chiếm
14, 48%


+ Học sinh có hứng thú trong quá trình nhận thức, lĩnh hội kiến thức.
+ Khi thực nghiệm, đề tài mang tính thời sự, đáp ứng nhu cầu khám phá lịch
sử, mang tính tuyên truyền sâu rộng, hiểu biết đúng đắn và ý nghĩa đối với
tuổi trẻ Trường THPT Ngọc Lặc nói riêng cũng như tuổi trẻ trên địa bàn
huyện Ngọc lặc nói chung.
+ Phù hợp với đặc thù môn học, trình độ của giáo viên và học sinh và xu thế
đổi mới giáo dục ở nước ta và thế giới.
II. 3. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
3. a. TỔ CHỨC GIẢNG DẠY .
* Về phía giáo viên:
- Triển khai đến toàn bộ giáo viên giảng dạy trực tiếp môn GDQP & AN
- Đ/c Tổ trưởng chuyên môn tổ chức một buổi hội thảo công bố đề tài đến
các thành viên trong tổ và mời thêm đại diện Ban giám hiệu, Đoàn thanh niên, giáo
viên các tổ bộ môn Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Công dân…cùng tham gia và đóng
góp, xây dựng ý kiến để đề tài được hoàn thiện và thực thi.
- Bố trí giảng dạy lồng ghép nội dung hiểu biết “ Chiến tranh bảo vệ Biên
giới phía Bắc năm 1979 ”
* Về phía học sinh:
- Tích cực học và ghi chép bài đầy đủ nội dung theo chương trình quy định.
17


- Nắm vững kỹ năng quân sự, kiến thức quốc phòng- an ninh, kiến thức về
lịch sử truyền thống đánh giặc giữ nước, niềm tự hào của dân tộc trong đó có
“Chiến tranh Biên giới phía Bắc năm 1979” đến đông đảo quần chúng nhân dân
nơi cư trú được rõ.
3. b. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA.
- Tổ chức tuyên truyền rộng rãi đề tài đến tất cả giáo viên và học sinh
trường THPT Ngọc Lặc để mọi người cùng nắm được, từ đó phối kết hợp tổ chức
các hoạt động về lịch sử “ Chiến tranh bảo vệ Biên giới 1979 ”

giới phía Bắc năm 1979 ” với lượng kiến thức đầy đủ, công khai cho toàn bộ giáo
viên một cách đại trà, đây là lực lượng nòng cốt trong việc tuyên truyền một cách
sâu rộng và cụ thể đến mỗi đối tượng học sinh trong mỗi vùng miền khác nhau.
4. b. Với bản thân: Đã nâng cao một cách rõ rệt chất lượng giờ dạy chính
khóa cũng như ngoại khóa, tự tin, vững vàng đứng trên bục giảng, khẳng định tầm
quan trọng của môn học Giáo dục Quốc phòng và An ninh, tạo được hứng thú cho
người dạy và người học hiểu biết một phần lịch sử của dân tộc nói riêng, xây dựng
18


tình yêu quê hương, đất nước một cách bền vững và sâu sắc, góp phần vào việc
giáo dục toàn diện cho học sinh THPT
- Đã có 81/ 85 cán bộ giáo viên là đoàn viên Công đoàn, Chi đoàn giáo
viên, Đoàn thanh niên trường THPT Ngọc Lặc tham gia học tập và tổ chức các
hoạt động, phong trào về Giáo dục lịch sử “ Chiến tranh bảo vệ Biên giới phía Bắc
năm 1979 ”. chiếm 94,50%, họ đã tỏ ra rất hào hứng và nhận thức được ý thức
trách nhiệm của bản thân một cách sâu sắc hơn về tầm quan trọng của lich sử dân
tộc.
- 100% cán bộ GV tham gia, xem đây là bài học hết sức bổ ích sau khi kết
thúc đợt hoạt động và đề nghị sang năm học tới tiếp tục tổ chức tuyên truyền
thêm.
4.c. Học sinh: Đã góp phần nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm công dân tình
yêu, quê hương, đất nước, quý trọng lịch sử trong tâm hồn mỗi học sinh, sẵn sàng
đứng lên chung tay góp sức của mình bảo vệ và xây dựng biên giới trên bộ, quyền
và quyền chủ quyền Biển đảo, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
* Kết quả đạt được khi đối chiếu với ( bảng1)
* Bảng kháo sát thực trạng sau khi thực hiện đề tài:
( bảng 2)
Chưa biết về
Còn mơ hồ

415 hs – chiếm
3
12
422
0, 00%
01, 65%
98, 35%
Tổng
0 hs – chiếm
37 hs - Chiếm
1.199 hs –
1.236
0, 00%
2, 99%
chiếm 97, 01%
* Đối chiếu 2 bảng số liệu thực trạng trước và sau khi thực hiện đề tài:
- Đã có 1.236/ 1.236 học sinh học tập và tham gia các phong trào do Giáo
viên lựa chọn đề tài này khi phối hợp với cán bộ giáo viên các tổ chức đoàn thể
trong nhà trường tổ chức thực hiện chiếm 100%.
- Quá trình nhận thức của học sinh Trường THPT Ngọc Lặc khi thực hiện đề
tài: Khảo sát trước khi thực nghiệm và sau khi thực nghiệm thông qua 2 bảng
thống kê số liệu ( Bảng 1 và 2 ) cho thấy sự thành công của đề tài hiểu biết thêm
về lịch sử “ Chiến tranh bảo vệ Biên giới phía Bắc năm 1979 ” với sự hiểu biết đạt
trung bình đến 97% tổng số học sinh toàn trường, được hầu hết Ban Giám hiệu, các
tổ chức đoàn thể và cán bộ giáo viên hưởng ứng và tham gia, đặc biệt là giáo viên
2 tổ bộ môn Giáo dục Quốc phòng- An ninh và Lịch sử.

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
III. 1. KẾT LUẬN.
19

1979 ” cho toàn bộ giáo viên một cách đại trà, đây là lực lượng nòng cốt trong
việc tuyên truyền về giá trị lịch sử và nhân văn sâu sắc của nhân dân Việt Nam
chống giặc ngoại xâm một cách sâu rộng và cụ thể đến mỗi đối tượng học sinh
trong mỗi vùng miền khác nhau. Mỗi địa phương, đặc biệt là các tỉnh/thành giáp
biên giới trên bộ và trên biển, nâng cao cảnh giác cách mạng trước các thế lực thù
địch chống phá nhà .
- Tăng cường in ấn các ấn phẩm, xuất bản nhiều sách viết về “ Chiến tranh
bảo vệ Biên giới phía Bắc năm 1979 ”. Mở các trung tâm triển lãm tranh ảnh về
cuộc chiến. Giới thiệu các bộ phim, video, phóng sự, các ca khúc cách mạng về
cuộc chiến mang tính tích cực để đông đảo nhân dân và thế hệ trẻ được hiểu, biết.
- Trong chương trình cải cách giáo dục nên đưa thêm phần lịch sử “ Chiến
tranh bảo vệ Biên giới phía Bắc năm 1979 ”chủ quyền Biển đảo Việt Nam vào
sách giáo khoa để học sinh năm rõ kiến thức và hiểu rõ vấn đề hơn về lịch sử
chiến tranh như các quốc gia vẫn làm.
- Do quy định về số trang đối với việc viết sáng kiến kinh nghiệm nên còn
hạn chế về quy mô, nội dung kiến thức, chưa phản ánh một cách đầy đủ nhất khi
20


phổ biến về đề tài. Nếu có thể sẽ phát triển thành “ Đề tài nghiên cứu khoa học”để
làm cơ sở tác giả có thể lựa chọn, phân tích nội dung một cách toàn diện và sâu
sắc hơn!!!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status