ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN DUY HỮU
C¸C TéI X¢M PH¹M SøC KHáE CñA NG¦êI KH¸C
THEO LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 62 38 01 04
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại:
Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRỊNH QUỐC TOẢN
Phản biện 1: ...........................................................................
Phản biện 2: ...........................................................................
Phản biện 3 .............................................................................
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Đại học
Quốc gia tại Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Vào hồi …… giờ…..… ngày …… tháng ……. năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội
Thứ nhất, ý nghĩa về mặt chính trị, pháp lý, thực tiễn và xã hội.
Thứ hai, sự cần thiết phải làm sâu sắc hơn về lý luận trong khoa học luật hình
sự Việt Nam về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
Thứ ba, sự cần thiết tiếp tục hoàn thiện quy định BLHS Việt Nam năm 2015 về
các tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
Thứ tư, sự cần thiết phải có những giải pháp nâng cao hiệu quả để bảo đảm áp
thi hành trong thực tiễn đối với quy định của BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác.
Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe
của người khác và nâng cao hiệu quả bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Với những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh quyết định lựa chọn đề tài: “Các
tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam” làm luận án
tiến sĩ luật.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu toàn diện, sâu sắc và hệ thống về mặt lý
1
luận; tổng kết, đánh giá xác đáng, khách quan những quy định về các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng trong hoạt
động xét xử của Tòa án. Trên cơ sở đó xác định những yêu cầu, đề xuất các giải pháp
tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác trong Bộ luật hình sự hiện hành của nước ta.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến nội
dung luận án, qua đó đánh giá, xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;
- Phân tích quyền được bảo vệ sức khỏe của con người theo pháp luật quốc tế,
làm rõ ý nghĩa, cơ sở của việc quy định các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
là các điều từ 134 đến 140 thuộc Chương XIV của BLHS năm 2015).
Luận án nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc và tập trung 04 tỉnh, thành phố lớn
là thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Đắk Lắk với
mốc thời gian số liệu là 10 năm (2007 - 2016).
2
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách hình sự và cải cách tư
pháp; quan điểm, đường lối xử lý của Nhà nước đối với nhóm các tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người nói chung, về các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác nói riêng.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
Để trực tiếp giải quyết các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả luận
án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp so sánh, tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước để làm sáng tỏ
tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này, hệ thống hóa lịch sử và quy định
trong BLHS một số nước về nội dung nghiên cứu (Chương 1, Chương 2);
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các
tội xâm phạm sức khỏe của người khác (Chương 2, Chương 3);
- Phương pháp thống kê, khảo sát án điển hình, phỏng vấn để xử lý các tài liệu, số
liệu của TANDTC và Tòa án các cấp địa phương để làm sáng tỏ thực tiễn xét xử và phân
tích 244 bản án hình sự sơ thẩm và 315 bản án hình sự phúc thẩm trong giai đoạn 10 năm
(2007 - 2016) về các tội phạm này; khảo sát 202 phiếu đối với cán bộ công tác tại Tòa án
hai cấp, qua đó, đánh giá những tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản (Chương 3);
- Phương pháp tổng hợp đề xuất kiến nghị, giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy
định của BLHS Việt Nam, đề ra những giải pháp bảo đảm để phục vụ yêu cầu đấu
tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới (Chương 4);
người, thì việc nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác và thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân các cấp xét xử trên địa
bàn cả nước trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2016) là rất cần thiết không chỉ bổ sung
thêm vào kho tàng lý luận của luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác, mà còn nâng cao nhận thức của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự, qua đó bảo đảm áp dụng quy định về các tội phạm
này được chính xác, xử lý tội phạm và người phạm tội công bằng và đúng pháp luật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án làm cơ sở để đưa ra những kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của
BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác và những giải pháp
bảo đảm áp dụng qua đó, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm,
bảo vệ các quyền và tự do của con người, cũng như phòng, chống oan, sai và vi phạm
pháp luật trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự.
Ngoài ra, luận án còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên cao học
và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo
luật trên cả nước.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận án gồm bốn chương với tên gọi như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Chương 2: Những vấn đề chung về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
trong luật hình sự.
Chương 3: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác và thực tiễn áp dụng.
Chương 4: Yêu cầu và những giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định về các tội
xâm phạm sức khỏe của người khác trong Bộ luật hình sự năm 2015 và nâng cao hiệu
quả áp dụng.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Nam (Phần các tội phạm), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2010, tái bản năm 2012;
- TS. Phạm Mạnh Hùng (chủ biên) và viết Chương 2 - Các tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam (Phần các tội phạm), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 1, 2016;
- TS. Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam - Quyển 2, Phần các tội phạm,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009; v.v…
Riêng công trình của TS. Phạm Mạnh Hùng (chủ biên) và viết Chương 2 - Các
tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 1,
2016 đã phân tích theo quy định của BLHS năm 2015.
* Nhóm công trình là sách chuyên khảo, sách tham khảo
Tiếp cận dưới góc độ này có thể kể đến một số công trình sau:
- Sách chuyên khảo: “Luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực
tiễn” do GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1997.
Bài 9: “Xác định và đánh giá lỗi ở các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe”.
- Sách chuyên khảo “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe của con người”, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001 của PGS.TS. Trần Văn Luyện.
- Sách tham khảo: “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Tập 2 - Các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, các tội xâm phạm sở
hữu” của tác giả Đinh Văn Quế, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2012. Cuốn sách được kế thừa
và phát triển trên cơ sở cuốn sách chuyên khảo: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” năm 1997.
* Nhóm công trình là đề tài, đề án các cấp, bài viết trên tạp chí khoa học
Tiếp cận dưới góc độ này có thể kể đến một số công trình sau:
- “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng Phần các tội phạm BLHS năm
1999” do TS. Từ Văn Nhũ chủ trì, TANDTC, Hà Nội, 2002;
5
- Đề án khoa học cấp Bộ: “Phân tích, đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện
tiếp cận chủ yếu đến riêng tội cố ý gây thương tích và hoạt động phòng ngừa tội
phạm của lực lượng chức năng, cụ thể là:
- Sách chuyên khảo: “Đặc điểm, nguyên nhân của tội phạm cố ý gây thương tích
và hoạt động phòng ngừa của lực lượng Cảnh sát nhân dân” của TS. Bùi Văn Thịnh,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.
- Sách chuyên khảo: “Hoạt động phòng ngừa tội phạm về bạo lực gia đình ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của lực lượng Cảnh sát nhân dân của TS. Phạm
Minh Chiêu, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2012.
- Chương 14 “Phòng ngừa các tội phạm về bạo lực”, Trong sách chuyên khảo
“Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm” của GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.
* Nhóm công trình là đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, bài viết trên tạp chí
khoa học
Tiếp cận dưới góc độ này có thể kể đến một số đề tài sau:
6
- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Tội phạm ở Việt Nam: Thực trạng, nguyên nhân và
giải pháp” của Bộ Công an do TS. Lê Thế Tiệm chủ trì, Hà Nội, 1993;
- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Tội phạm có sử dụng bạo lực ở Việt Nam: Thực
trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” của Bộ Công an do Bùi Văn Thịnh và
Đinh Tuấn Anh chủ trì, Hà Nội, 1999; v.v...
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC
1.2.1. Dưới góc độ khoa học luật hình sự
Trước hết, tiếp cận dưới góc độ luận án tiến sĩ luật học ở nước ngoài nghiên
cứu về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam là
chưa có. Tuy nhiên, ít nhiều nội dung của các công trình đề cập trực tiếp gián tiếp
đến các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tương tự như các tội cụ thể trong
BLHS nước ta hoặc có đề cập khi so sánh với tội giết người trong luận án tiến sĩ luật
học: “Trách nhiệm về tội giết người theo luật hình sự nước Cộng hòa XHCN Việt
- Sách chuyên khảo: “Crimes Against Health and Safety” (Các tội xâm phạm
sức khỏe và an toàn) của tác giả N. Frank, Hoa Kỳ.
7
- Sách tham khảo: “La protection pénale de la personne humaine” (Bảo vệ con
người bằng luật hình sự) của tác giả JEAN-PAUL DOUCET, Gazette du Palais, 1994,
248 trang.
Ngoài ra, một số công trình đề cập đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại sức khỏe của người khác với tư cách là các tội xâm phạm nhân thân hoặc tội
phạm về bạo lực, hoặc việc bảo vệ phụ nữ trước các tội phạm về bạo lực, cố ý xâm
phạm sức khỏe với nhiều dạng khác nhau…
* Nhóm công trình là báo cáo, chuyên đề tổng kết…
Tiếp cận dưới góc độ này có thể kể đến một số công trình sau:
- Báo cáo: “Report: Homicide: Murder and involuntary manslaughter” (Cố ý
và vô ý mưu sát) của Ủy ban cải cách pháp luật, 2008.
- Báo cáo: “The Influence of Violent Crimes on Health in Jamaica” (Ảnh
hưởng của các tội xâm phạm sức khỏe ở Jamaica) của các tác giả Paul A. Bourne,
Collin Pinnock và Damion K. Blake.
- Báo cáo: “Sentencing in Cases of Impaired Driving Causing Bodily Harm or
Impaired Driving Causing Death with a particular emphasis on Conditional
Sentencing (Xử án trong những trường hợp người lái xe với khả năng lái xe bị suy
giảm (do rượu hoặc ma túy) gây ra thương tích hoặc thương vong đặc biệt tập trung
vào án tù treo) của tác giả David M.Paciocco và GS. Julian Roberts.
- Báo cáo: “Different types of asault” (Phân biệt các dạng tấn công), trang Tư
vấn pháp luật Lawtons, Vương quốc Anh (www.lawtonslaw.co.uk).
- Trang Website của Y tế Cộng đồng Vương quốc Anh, 2006 không gọi trực
tiếp mà nêu là “các tội phạm có ảnh hưởng đến sức khỏe”.
- Tài liệu chuyên đề: “Understanding the progression of serious cases through
the Criminal Justice System” (Nhận biết quá trình các trường hợp phạm tội nghiêm
cả nhất mà tất cả mọi người, không phân biệt nam nữ, màu da, sắc tộc, thành phần,
địa vị xã hội, nghề nghiệp đều phải có và được hưởng một cách đương nhiên.
Khái niệm quyền con người với bản chất là các quyền tự nhiên của con người
có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ ở các nhà triết học ngụy biện như Ăngtiphôn,
Ankiđan. Thời kỳ này, Bộ luật Hammurabi có thể được coi là văn bản pháp luật thành
văn đầu tiên của nhân loại đề cập đến quyền con người. Sau đó, theo một số tài liệu,
tư tưởng về quyền con người còn được phản ánh thông qua các học thuyết, ấn phẩm
tôn giáo, chính trị - pháp lý của nhân loại như: Văn tuyển Nho giáo (Luận ngữ), Kinh
Vệ Đà của đạo Hin-đu, Kinh Phật của Đạo Phật, Kinh thánh của Đạo thiên chúa,
Kinh Kô-ran của Đạo Hồi... và ở các mức độ khác nhau đều phản ánh những quan
điểm có tính hệ thống của nhân loại về nhân phẩm, tự do, bình đẳng, bác ái và việc
bảo vệ những giá trị đó.
Còn ở Châu Âu, kể từ thời Phục Hưng trở đi, tư tưởng về quyền tự nhiên ngày
càng trở nên phổ biến. Có thể kể đến một số đại biểu xuất sắc là Lôccơ (Anh), Rútxô
(Pháp), Xpinôda (Hà Lan), I. Can tơ, Pruphenđóocphơ (Đức), Jepphécxơn (Mỹ).
2.1.2. Khái niệm và những đặc điểm của các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác trong luật hình sự Việt Nam
* Khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong luật hình sự
Việt Nam
Trước hết, để hiểu rõ khái niệm “các tội xâm phạm sức khỏe của người khác”
cần phải làm sáng tỏ “sức khỏe” và “hành vi xâm phạm sức khỏe”.
“Sức khỏe”, theo định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới (WHOWorld Health Organization) thì “Sức khỏe là trạng thái sảng khoái về mặt thể chất,
tinh thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay tật, không yếu đuối mà là ở
trạng thái có thể chất tốt, trí tuệ phát triển và xã hội lành mạnh”. Hay Từ điển tiếng
Việt định nghĩa: “Sức khỏe là trạng thái không có bệnh tật, cảm thấy thoải mái về thể
chất, thư thái về tinh thần”.
Đặc biệt, quan niệm về sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm sự lành
mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần. Người đã định nghĩa: “Ngày nào cũng tập thể dục
thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe”. Nội dung của định
nghĩa này hoàn toàn tương đồng và thống nhất với định nghĩa về sức khỏe của Tổ
2.1.3. Sự cần thiết quy định các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
trong luật hình sự Việt Nam
Luật hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao
gồm các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội
phạm và quy định chế tài hình sự áp dụng cho người phạm những tội đó. Trong hệ
thống pháp luật của Nhà nước, luật hình sự có vị trí, vai trò rất quan trọng. Lời nói
đầu của BLHS Việt Nam đã khẳng định pháp luật hình sự là một trong những công
cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực
vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt
Nam XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ
chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi
người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang
tính nhân văn cao. Đồng thời, luật hình sự góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố
gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Do đó, từ quy định của BLHS, có thể thấy, sự cần thiết để quy định các tội xâm
phạm sức khỏe của người khác trong luật hình sự Việt Nam xuất phát từ các chức năng
của nó (chức năng của luật hình sự), mà luật hình sự có chức năng trước hết và cơ bản
là chức năng bảo vệ cho sự phát triển bình thường của các quan hệ xã hội phù hợp với
lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. “Là một trong những
bộ phận quan trọng của hệ thống tư pháp hình sự, luật hình sự được coi là công cụ
phản xạ tự vệ của xã hội chống lại tội phạm - những hành vi nguy hiểm cho xã hội, cho
Nhà nước, cho con người. Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của luật hình sự là nhiệm vụ bảo
vệ. Ở thời đại nào và quốc gia nào, luật hình sự cũng có nhiệm vụ ấy...”. Trong các
10
quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ có quan hệ xã hội liên quan đến quyền được bảo
vệ về sức khỏe của con người. Do đó, sự cần thiết quy định các tội xâm phạm sức khỏe
của người khác trong luật hình sự Việt Nam được thể hiện như sau:
Liên quan đến các tội xâm phạm sức khỏe của con người, Bộ luật Hồng Đức
(hay Quốc triều Hình luật) được vua Lê Thánh Tông ban hành được coi là Bộ luật
chính thống và thể hiện hoạt động lập pháp thành công nhất của triều đại nhà Lê
(1428-1789). Theo đó, các nhà lập pháp thời kỳ này đã có sự quan tâm và đã được
quy định trong Chương “Đấu tụng” - một chương riêng trong 13 chương của Bộ luật
này. Chương “Đấu tụng” có tổng cộng là 50 điều luật thì các nhà làm luật thời Lê đã
dành đến 33 điều luật để quy định về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác…
2.2.2. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1985
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam kiểu mới được hình
thành. Thời gian đầu, do chưa có điều kiện ban hành luật mới và do yếu tố lịch sử, Nhà
nước ta đã cho phép áp dụng một số văn bản pháp luật của đế quốc phong kiến, với điều
kiện là không trái với nguyên tắc độc lập của đất nước và chính thể dân chủ cộng hòa.
11
Đến năm 1955, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 442/TTg ngày
19/01/1955 về việc trừng trị một số tội phạm.
Sau 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ban hành Nghị
quyết ngày 02/7/1976 giao cho Chính phủ hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất
trong cả nước. Thời kỳ này, các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được quy
định trong Sắc luật số 03-SL/76 của Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời Miền
Nam Việt Nam (nhưng được áp dụng thống nhất trên toàn quốc). Điểm b Điều 5 Sắc
luật này quy định: “Phạm tội cố ý gây thương tích, thì phạt tù từ 06 tháng đến 05
năm. Trường hợp nghiêm trọng, thì bị phạt tù đến 20 năm”.
2.2.3. Giai đoạn từ năm 1985 đến nay
Ngày 27/6/1985, Quốc hội Việt Nam đã thông qua BLHS đầu tiên của nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam, đặt dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, hoàn
thiện quy phạm pháp luật về hình sự nói chung và quy định pháp luật về các tội xâm
phạm sức khỏe của người khác nói riêng.
Trong BLHS năm 1985, các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được quy
12
2.3.2. Quy định của Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi tắt là BLHS Trung
Quốc) được Quốc hội nước này thông qua ngày 01/7/1979 và có hiệu lực từ ngày
01/01/1980. Bộ luật được sửa đổi nhiều lần, lần gần đây nhất là năm 2007. Liên quan
đến các tội xâm phạm sức khỏe của người khác…
2.3.3. Quy định của Bộ luật hình sự Nhật Bản
BLHS Nhật Bản được ban hành năm 1908, đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần,
lần gần đây nhất là năm 2011. Bộ luật có 40 chương và 264 điều. Các tội xâm phạm
sức khỏe của con người được quy định tại chương 27 và 28 bao gồm 10 điều.
2.3.4. Quy định của Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức
BLHS Cộng hòa Liên bang Đức năm 2009 bao gồm 29 chương và 358 điều.
Trong đó, các tội xâm phạm sức khỏe của con người được quy định tại Chương thứ 17
với tên gọi “Các tội xâm phạm sự nguyên vẹn thân thể”.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 3
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
3.1. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI XÂM
PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
Trong BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 1999)
các nhà làm luật quy định 7 tội xâm phạm sức khỏe của người khác bao gồm: Tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 104); tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh (Điều 105); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106); tội gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 107); tội
vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 108); tội vô ý
3.1.1.2. Hình phạt
* Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác, Điều 104 BLHS quy định 4 khung hình phạt
* Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Điều 105 BLHS quy định 2 khung hình phạt
* Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, Điều 106 BLHS quy định 2 khung hình phạt:
* Đối với tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
trong khi thi hành công vụ, Điều 107 BLHS quy định 2 khung hình phạt:
* Đối với tội hành hạ người khác, Điều 110 BLHS quy định 2 khung hình phạt:
3.1.2. Những dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt của các tội vô ý xâm
phạm sức khỏe của người khác
3.1.2.1. Những dấu hiệu pháp lý hình sự
Ngoài những dấu hiệu pháp lý hình sự chung (khách thể của tội phạm, đối
tượng tác động là con người, chủ thể của tội phạm là cá nhân có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và mặt chủ quan của tội phạm qua
dấu hiệu lỗi vô ý), các tội vô ý xâm phạm sức khỏe của người khác còn có những dấu
hiệu đặc thù phản ánh qua các tội danh cụ thể như sau:
* Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
(Điều 108 BLHS)
* Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi
phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 109 BLHS)
3.1.2.2. Hình phạt
Tương tự, về hình phạt đối với các tội vô ý xâm phạm sức khỏe của người khác
quy định như sau:
* Đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác, Điều 108 BLHS quy định một khung hình phạt có mức phạt:
* Đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác, do vi phạm quy tắc hành chính hoặc quy tắc nghề nghiệp, Điều 109 BLHS
khung hình phạt có mức phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
2012
2013
2014
2015
2016
TỔNG
CẤP
ST
PT
Tổng
ST
PT
Tổng
ST
PT
Tổng
ST
PT
Tổng
ST
PT
Tổng
ST
PT
66.919
117.867
12.968
20.615
79.887
138.482
57.902
101.194
13.543
20.219
71.445
121.413
62.091
110.062
14.530
21.063
76.621
131.125
68.131
124.438
14.781
22.190
82.912
146.628
69.894
126.770
15.603
23.991
85.497
150.761
74.963
127.831
63.040
109.338
14.165
22.259
77.205
131.597
65.462
114.344
12.687
20.079
78.149
134.423
55.221
95.241
12.971
19.417
68.192
114.658
60.925
107.000
13.896
19.989
74.821
126.989
67.369
122.960
14.119
21.239
779.694
1.342.502
CÒN LẠI
1.330
3.118
647
1.128
1.977
4.246
1.341
3.049
520
989
1.861
4.038
1.457
3.523
281
536
1.738
4.059
2.681
5.953
572
802
3.253
6.755
1.166
3.062
1.221
2.536
2.376
5.249
1.155
2.713
1.221
2.536
2.376
5.249
(Nguồn: TANDTC)
15
* Tình hình công tác thụ lý, giải quyết các vụ án về các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác của TAND các cấp trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)
Theo Báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm của TANDTC, trong giai đoạn
10 năm (2007 - 2016), tổng số vụ và số bị cáo phạm các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác (từ Điều 104 đến Điều 110) được thể hiện qua bảng thống kê sau:
Bảng 3.2. Số vụ án và số bị cáo về các tội xâm phạm sức khỏe con người trên địa
bàn cả nước đã được thụ lý, giải quyết trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)
Điều 104
Điều 105 Điều 106 Điều 107
Bị
Bị
Bị
Bị
Vụ
Vụ
Thời
gian
Điều 108
Bị
Vụ
cáo
11 11
7
7
7
7
9
9
10 10
9
9
16 17
16 17
14 18
16 20
115 125
Điều 109
Bị
Vụ
cáo
7
9
3
4
2
2
1
2
3
4
1
15
2
23
(Nguồn: TANDTC)
* Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án về tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104) của TAND các cấp trong giai
đoạn 10 năm (2007 - 2016)
Cụ thể, theo thống kê số vụ án và số bị cáo đã thụ lý giải quyết về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn cả nước giai
đoạn 10 năm (2007 - 2016) cụ thể như sau:
Bảng 3.3. Số vụ án và số bị cáo đã thụ lý giải quyết về tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn cả nước
trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)
THỤ LÝ
NĂM
2007
2008
2009
2010
2011
9.879
114.800
Đình chỉ, tạm
đình chỉ
Vụ
Bị cáo
125
183
133
206
143
224
157
265
153
213
182
259
230
304
249
389
225
320
225
306
1.822 2.669
GIẢI QUYẾT
5.368
5.970
5.673
6.272
6.890
6.876
6.306
5.501
5.116
59.548
Bị cáo
8.491
8.325
9.350
9.086
9.952
11.720
11.538
10.213
8.630
8.024
95.329
(Nguồn: TANDTC)
16
Bảng 3.4. Số vụ và số bị cáo về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác, tội giết người đã thụ lý giải quyết và tổng số vụ và tổng số bị
13.591
7.400
12.175
6.527
10.533
6.098
9.879
69.851
114.800
ĐIỀU 93
Số vụ
Số bị cáo
2.326
8.491
2.668
8.325
2.181
9.350
2.487
9.086
2.864
9.952
3.223
11.720
2.761
11.538
3.040
10.213
2.342
1.128.434
(Nguồn: TANDTC)
Bảng 3.5. Tỷ lệ số vụ và số bị cáo về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác trên tổng số vụ và tổng số bị cáo trên địa bàn cả nước đã
thụ lý giải quyết trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)
NĂM
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
TỔNG
ĐIỀU 104
Số vụ
Số bi cáo
6.597
10.413
6.323
10.048
6.990
11.313
6.748
11.140
68.751
123.652
68.415
124.540
64.196
115.743
64.636
111.038
638.498
1.128.434
TỶ LỆ
Số vụ
Số bị cáo
10,9 %
9,9 %
10,0 %
9,1 %
10,6 %
9,8 %
12,2 %
11,6 %
11,9 %
11,1 %
11,7 %
11,1 %
11,6 %
10,9 %
10,8 %
9,7 %
10 năm (2007 - 2016)
Thời
gian
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
TỔNG
Điều 105
Vụ
Bị
cáo
27
28
48
78
42
57
31
32
19
19
20
9
9
13
13
16
21
153 164
Điều 107
Vụ
Bị
cáo
6
8
1
1
1
1
1
3
4
1
1
1
9
4
1
2
Điều 109
Vụ Bị
cáo
7
9
3
3
1
1
10
14
6
16
4
4
8
8
6
9
3
3
1
1
49
68
Điều 110
Vụ
Bị
cáo
khỏe khác (Điều 105 đến Điều 110) với tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104) trên địa bàn cả nước
của TAND các cấp trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)
NĂM
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
TỔNG
ĐIỀU 105 ĐẾN 110
Số vụ
Số bị cáo
76
81
83
117
63
79
66
75
55
66
54
12.175
6.527
10.533
6.098
9.879
69.851
114.800
TỶ LỆ
Số vụ
Số bị cáo
1,1%
0,7%
1,3%
1,1%
0,9%
0,6%
0,9%
0,6%
0,7%
0,5%
0,6%
0,4%
0,7%
0,5%
0,8%
0,6%
0,8%
0,5%
0,8%
2014
2015
2016
Tổng
9
4
8
18
5
3
5
7
2
61
14
8
6
16
26
26
3
17
2
8
126
Cải
tạo
KẾT QUẢ XÉT XỬ
Tù từ Tù từ Tù từ Tù từ
Tù
Hình Hình
03 năm 03 năm 07 năm 15 chung phạt phạt
trở
đến 07 đến 15 năm thân,
bổ
bổ
xuống năm
năm
đến tử hình sung sung
20
là khác
năm
phạt
tiền
4.458 2.175 1.060 347
14
8
6
4.666 2.007 1.153 413
3
7
36
5.130 2.147
982
360
0
7
7
54.637 23.510 11.501 4.839
27
77 160
(Nguồn: TANDTC)
Từ bảng 3.8 cho thấy, việc áp dụng án treo và hình phạt tù có thời hạn đối với
các tội xâm phạm sức khỏe của người khác vẫn là phổ biến. Việc áp dụng án treo đối
với các bị cáo cao nhất là năm 2009 (2.594 bị cáo) và thấp nhất là năm 2016 (1.494 bị
cáo). Việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn từ ba năm trở xuống nhiều nhất đối với
các bị cáo là năm 2013 (6.790 bị cáo) và thấp nhất là năm 2007 (4.458 bị cáo). Việc
áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với các tội phạm này trong 10 năm
(2007 - 2016) là 27 bị cáo. Ngoài ra, trong 10 năm có 61 trường hợp được coi là
không có tội, có 126 trường hợp bị áp dụng hình phạt tiền, 794 trường hợp áp dụng
hình phạt cải tạo không giam giữ.
* Nhân thân người phạm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác của
TAND các cấp giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)
Theo thống kê, nhân thân người phạm tội đối với các tội xâm phạm sức khỏe
của người khác của TAND các cấp giai đoạn 10 năm (2007 - 2016) như sau:
19
Bảng 3.9. Nhân thân các bị cáo đã bị TAND xét xử về các tội xâm phạm sức khỏe
khác trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2016)
NĂM
2007
2008
2009
2010
276
556
246
234
529
230
197
635
278
243
636
254
245
890
279
228
878
252
262
810
229
218
677
151
139
689
171
125
6.827
2.374
xét, đánh giá sau đây:…
3.3. NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN
3.3.1. Những tồn tại, hạn chế
* Tồn tại, hạn chế liên quan đến việc định tội danh
Theo GS.TSKH. Lê Văn Cảm thì: “Định tội danh là một quá trình nhận thức lý
luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp
dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng
cách - trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của
vụ án hình sự đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự phù hợp giữa các dấu
hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu
thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định”.
BLHS Việt Nam quy định các tội xâm phạm sức khỏe của người khác bao gồm
7 tội danh. Trong các tội danh này, có ba tội danh có ranh giới rất gần nhau là: Tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích
20
động mạnh và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ngoài ra, riêng tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp dẫn đến chết người
(khoản 3 Điều 104) cũng dễ nhầm lẫn với tội giết người (Điều 93) hoặc với tội chống
người thi hành công vụ (Điều 247 BLHS); v.v... với các dạng như:
a) Nhầm lẫn giữa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác (Điều 104) với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105 BLHS)
b) Nhầm lẫn giữa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác dẫn đến hậu quả chết người (khoản 3 Điều 104) với tội giết người (Điều
93 BLHS)
c) Nhầm lẫn giữa trường hợp phạm tội có tình tiết để cản trở người thi hành
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
21
Chương 4
YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG BỘ LUẬT
HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
4.1. YÊU CẦU TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM
PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM NĂM 2015 VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
Ngày 27/11/2015, BLHS năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua và vì
một số lý đang tạm lùi thời gian thi hành, đồng thời vẫn đang tiếp tục được hoàn
thiện trước khi được áp dụng chính thức, do đó, việc đặt ra định hướng tiếp tục hoàn
thiện quy định của BLHS năm 2015 nói chung, quy định về các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác nói riêng là yêu cầu có ý nghĩa cấp bách. Bởi lẽ, đây chính là
những cơ sở khoa học, thực tiễn định hướng cho việc hoàn thiện BLHS, bảo đảm yêu
cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trước tình hình mới của đất nước. Nghiên cứu
sinh cho rằng, để có thể cơ sở lý luận và thực tiễn của tiếp tục hoàn thiện quy định về
các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong BLHS năm 2015 và nâng cao hiệu
quả áp dụng, cần phải đáp ứng các yêu cầu sau đây.
4.1.1. Thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước, tôn trọng và bảo vệ
quyền con người, quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác
4.1.2. Đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng và chống các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác
4.1.3. Đáp ứng đòi hỏi của xu thế hội nhập quốc tế và tiếp thu kinh nghiệm
lập pháp hình sự các nước
4.2. QUY ĐỊNH MỚI VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI
KHÁC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC
trong trường hợp có hậu quả chết người
* Sửa đổi tình tiết định khung cho chính xác trong tội gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (điểm a khoản 2
Điều 137 BLHS năm 2015)
* Sửa đổi đối tượng bị tác động trong tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha
mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185) trong
tương quan với tội hành hạ người khác (Điều 140 BLHS năm 2015)
* Hướng dẫn, giải thích về căn cứ phân biệt các tội danh và ban hành văn bản
giải thích một số tình tiết cụ thể trong các tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác
* Về kỹ thuật, do vị trí, tầm quan trọng của quyền bất khả xâm phạm về tính
mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của con người, BLHS năm 2015 cần chia
thành bốn mục 1, 2, 3 và 4 tương ứng với các nhóm tội phạm (như một số Chương
khác trong Bộ luật, ví dụ: Chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế;
Chương XXI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng...), cụ thể là:
4.3. NHỮNG GIẢI PHÁP KHÁC NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY
ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG BỘ
LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
Bên cạnh kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nghiên cứu sinh cho rằng, để bảo đảm
áp dụng quy định về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong BLHS năm
2015, cần có những giải pháp đồng bộ khác sau đây.
4.3.1. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến và
giáo dục pháp luật hình sự
4.3.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập chứng cứ, tăng cường trách
nhiệm của những người tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ
án xâm phạm sức khỏe của người khác
4.3.3. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về vũ khí, quan tâm giải
quyết các mâu thuẫn phát sinh trong cộng đồng dân cư ngay từ cơ sở
KẾT LUẬN CHUNG
Tóm lại, từ kết quả nghiên cứu đề tài luận án tiến sĩ luật “Các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam” cho phép rút ra các kết luận sau đây: