80 năm ngày truyền thống ngành tổ chức xây dựng Đảng Nguyn Vn Dng
lời mở đầu
Mùa xuân năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam đợc thành lập đánh dấu
một bớc ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Trải qua 80 năm
chiến đấu và trởng thành Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân gơng
cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vợt qua muôn vàn khó khăn
thử thách làm nên những chiến thắng vĩ đại. Thắng lợi của Cuộc Cách mạng
Tháng Tám năm 1945, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời đã xoá bỏ chế độ
thực dân nửa phong kiến mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc
bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân chủ
nhân dân, thống nhất Tổ quốc, đa cả nớc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan
trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội...
Trong suốt 80 năm qua, Đảng ta luôn chú trọng công tác tổ chức xây
dựng Đảng, đây là bộ phận hợp thành có tính chất quyết định thắng lợi toàn bộ
sự nghiệp cách mạng của Đảng của dân tộc. Công tác tổ chức xây dựng Đảng
đã góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, góp phần
xây dựng Đảng thực sự là một chính đảng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững
vàng, hết lòng, hết sực phục vụ nhân dân. Hệ thống tổ chức trong Đảng không
ngừng đợc củng cố và đổi mới, đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức của Đảng
có đức có tài thờng xuyên đợc giáo dục và trởng thành phát triển không ngừng
về số lợng và chất lợng, phấn đấu vì mục tiêu lý tởng của Đảng.
Năm 2010 là năm có nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là năm diễn ra
Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Cùng chung
dòng chảy hào hùng của đất nớc, Đảng bộ Công an Trung ơng tổ chức cuộc thi
Tìm hiểu 80 năm ngày truyền thống của ngành tổ chức xây dựng Đảng Đây là
dịp cho mỗi cán bộ đảng viên đợc ôn lại truyền thống về ngành xây dựng Đảng,
về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Qua cuộc thi này mỗi cán bộ chiến sĩ Bộ T
1
80 năm ngày truyền thống ngành tổ chức xây dựng Đảng Nguyn Vn Dng
Từ ngày thành lập đến nay, tuy có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm ở
mặt này, mặt khác, nhưng nhìn chung, Đảng ta đã quán triệt và thực hiện một
cách đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
xây dựng Đảng mang bản chất của giai cấp công nhân, phù hợp với thực tiễn
Việt Nam ; coi trọng xây dựng Đảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ
chức, trong đó xây dựng Đảng về chính trị đúng đắn là yếu tố có ý nghĩa
quyết định ; xây dựng Đảng về tổ chức thực sự vững mạnh, bảo đảm vai trò
lãnh đạo, thực hiện thành công đường lối chính trị của Đảng, đưa cách mạng
nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, không ngừng tiến lên giành
nhiều thắng lợi vẻ vang.
1 - Công tác tổ chức trong thời kỳ Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng
lực lượng cách mạng và đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)
Ngày 3/2/1930 tại hương Cảng – Trung Quốc, dưới sự chủ trì của
đồng chí Nguyễn Ái Quốc, những đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng,
An Nam Cộng sản Đảng đã họp, thống nhất 3 tổ chức cách mạng Việt Nam
thành một Đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam ( Đông Dương Cộng
sản Liên đoàn không kịp cử đại biểu họp, Ban Chấp hành Trung ương lâm
thời của Đảng ra Nghị quyết để Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập
Đảng Cộng sản Việt Nam ). Hội nghị ngày 3/2/1930 đã thông qua Chính
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt và Lời kêu gọi cyar đồng chí
4
80 n¨m ngµy truyÒn thèng ngµnh tæ chøc x©y dùng §¶ng Nguyễn Văn Dưỡng
Nguyễn Ái Quốc gửi công, nông, binh, thanh niên, học sinh, và toàn thể quần
chúng bị áp bức. Chính cương vắn tắt vạch rõ cách mạng Việt Nam là “ tư
sản dân quyền cách mạng”. Sách lược vắn tắt chỉ rõ Đảng là “ đội tiên phong
của giai cấp công nhân”.
Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất họp từ
ngày 14/10/1930 đến cuối tháng 10/1930 tại Hương Cảng - Trung Quốc,
Trung ương đã cử ra các Bộ như: Bộ tuyên truyền, Bộ Công nhân vận động,
Bộ Tổ chức kiêm Giao thông (tiền thân của Ban Tổ chức Trung ương Đảng)
• Thành lập mặt trận dân tộc thống nhất
3. Đẩy mạnh chống chiến tranh đế quốc.
Đại hội cũng đã thông qua Nghị quyết Chính trị, Điều lệ Đảng và:
- Các nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, binh lính, thanh
niên, phụ nữ.
- Các nghị quyết về công tác trong các dân tộc thiểu số.
- Các nghị quyết về đội tự vệ đỏ và đội cứu tế đỏ
Bầu Ban chấp hành Trung ương mới gồm 13 người. Nguyễn Ái Quốc
được cử làm đại diện của Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Quốc tế thứ 3, Lê
Hồng Phong là Tổng Bí thư.
* Ý nghĩa:
• Đại hội đánh dấu sự khôi phục và phát triển của tổ chức Đảng
• Là sự chuẩn bị cho thắng lợi của các phong trào tiếp theo
Đại hội đại biểu lần I của Đảng được xem như là mốc đánh dấu bước
phát triển quan trọng của Đảng, Đảng đã phục hồi được hệ thống tổ chức từ
Trung ương đến địa phương, các Xứ ủy Bắc kì, Trung kì và Nam kì được lập
lại, các tổ chức quần chúng của Đảng cũng dần được khôi phục và phát triển.
6
80 n¨m ngµy truyÒn thèng ngµnh tæ chøc x©y dùng §¶ng Nguyễn Văn Dưỡng
Đại hội chính là mốc đánh dấu sự sống còn của Đảng Cộng Sản Việt Nam vì
trước đó tất cả các tổ chức, đảng phái khác như Việt Nam Quang phuc hội,
Việt Nam quốc dân đảng,… sau khi bị thực dân Pháp đàn áp đều không còn
hoạt động hoặc hoạt động rất hạn chế, cơ sở trong nước bị khủng bố hòan
tòan, chỉ còn các cơ sở hoạt động ở hải ngoại.
Vì vậy, trong những năm đầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng
là thông qua công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia các phong
trào đấu tranh với các hình thức và khẩu hiệu khác nhau để lựa chọn những
người ưu tú kết nạp vào đảng, xây dựng, củng cố các tổ chức của Đảng. Sau
cao trào Xô-viết Nghệ - Tĩnh, công tác tổ chức tập trung vào bảo tồn lực
lượng cách mạng, bảo vệ Đảng, khôi phục hệ thống tổ chức, tiếp tục phát
củng cố và mở rộng các khu căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang.
Đầu tháng 3-1945, phân tích mâu thuẫn sâu sắc Nhật - Pháp, nhận
định Nhật sẽ đảo chính Pháp và đây sẽ là thời cơ rất thuận lợi cho cách mạng
nước nhà, Thường vụ Trung ương ra bản Chỉ thị lịch sử : "Nhật - Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta !". Bản Chỉ thị là cương lĩnh tổ chức và
hành động, nhằm gấp rút chuẩn bị đầy đủ các điều kiện tiến tới Tổng khởi
nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân (họp tại Tân Trào, Sơn Dương,
Tuyên Quang) ra lệnh Tổng khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20
triệu nhân dân ta từ Bắc chí Nam đã đồng loạt vùng dậy tiến hành cuộc Tổng
khởi nghĩa oanh liệt, giành chính quyền về tay nhân dân trong phạm vi cả nước.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lập nên nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông
Nam Á là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ; của
đường lối độc lập tự chủ đầy sáng tạo của Đảng ta ; đồng thời, cũng là thành
tựu rất to lớn về công tác tổ chức của Đảng và về tổ chức phong trào cách
8
80 n¨m ngµy truyÒn thèng ngµnh tæ chøc x©y dùng §¶ng Nguyễn Văn Dưỡng
mạng của quần chúng nhân dân. Trong 15 năm (1930 - 1945), công tác tổ
chức xây dựng của Đảng đã có bước phát triển lớn, tích lũy được nhiều kinh
nghiệm quý báu về xây dựng Đảng và tổ chức, vận động quần chúng tham
gia các phong trào cách mạng. Từ 200 đảng viên khi mới thành lập, đến cuộc
Cách mạng Tháng Tám - 1945, tuy chỉ có hơn 5.000 đảng viên, nhưng với
đường lối chính trị đúng đắn và nghệ thuật chỉ đạo, tổ chức tài tình, được
nhân dân nhiệt tình ủng hộ và tích cực tham gia các cuộc đấu tranh, Đảng ta
đã lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính
quyền về tay nhân dân.
2 - Công tác tổ chức trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
(1945 - 1954)
Căn cứ vào thực tiễn và tiến trình phát triển của cách mạng, công tác
tổ chức của Đảng luôn kịp thời có sự điều chỉnh với những chủ trương, biện
Báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng ; quyết định đưa Đảng ra hoạt động công
khai và lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam ( trước đó Đảng tuyên bố “tự giải
tán” vào ngày 11 tháng 11 năm 1945, thực chất là rút vào hoạt động bí mật
dưới tên gọi “ Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác” nhằm bảo toàn lực lượng để
tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng cảu nhân dân trước sự tiến công của
kẻ thù trong bối cảnh chính trị phức sau Cách mạng Tháng 8/1945.
+ Các Nghị quyết của Đại hội II đã xác định rõ mục tiêu của công tác
xây dựng Đảng là : “ tăng cường lãnh đạo chính quyền, ;ãnh đạo quân đội và
lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp của Mỹ đến
thắng lợi hoàn toàn, phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Việt nam”.
+ Điều lệ Đảng khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng, mở
rộng dân chủ tăng cường tập trung, coi tự phê bình vầ phê bình là khâu chính
10
80 n¨m ngµy truyÒn thèng ngµnh tæ chøc x©y dùng §¶ng Nguyễn Văn Dưỡng
để mở rộng dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng các cấp ủy, tổ chức
đảng và đảng viên.
+ Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức
và 10 ủy viên dự khuyết.
Thi hành Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng, ngày 16-4-1952, Ban
Chấp hành Trung ương (khóa II) đã ra Nghị quyết số 09/ TW về thành lập các
ban và tiểu ban của Trung ương, trong đó có Ban Tổ chức Trung ương (trước
đó là Ban Đảng vụ) và cử đồng chí Lê Văn Lương làm Trưởng ban.
Trọng tâm của công tác tổ chức ở giai đoạn này tập trung thực hiện
các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước như : thực hiện giảm
tô, cải cách ruộng đất ; chủ trương chỉnh Đảng, chỉnh quân. Ở thời kỳ này,
bên cạnh những ưu điểm đã đạt được, Đảng và công tác tổ chức của Đảng
cũng đã từng bước nhận thức được những sai lầm, khuyết điểm trong các
cuộc phát động giảm tô, cải cách ruộng đất và trong việc chỉnh đốn tổ chức.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là thắng lợi của
Sau khi hòan thành việc khắc phục hậu quả do cuộcKháng chiến
chống Pháp để lại và thực hiện những nhiệm vụ bước đầu của chính quyền
dân chủ nhân dân theo kinh nghiệm của Liên Xô và Đông Âu sau Chiến
tranh thế giới lần thứ 2, Đại hội quyết định sẽ đưa miền Bắc đi lên cách
mạng xã hội chủ nghĩa đồng thời đưa ra nhận định công cuộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc sẽ có vai trò quyết định nhất với sự phát triển của
cách mạng hai miền
[3]
. Đại hội khẳng định đứa miền Bắc tiến nhanh, tiến
mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam
Do Pháp không thực hiện Tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneva 1954
và việc vận động thực hiện hiệp định bị chính quyền Diệm đàn áp do sợ thất
12
80 n¨m ngµy truyÒn thèng ngµnh tæ chøc x©y dùng §¶ng Nguyễn Văn Dưỡng
bại nên Việt Nam chưa thống nhất được
]
. Đại hội do đó đã quyết định sẽ tiến
hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và nhận định cuộc cách
mạng này có vai trò quyết định trực tiếp với sự nghiệp giái phóng miền Nam.
Đại hội nhận định cách mạng hai miền có quan hệ mật thiết, gắn bó và
tác động lẫn nhau nhằm hòan thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống nhất đất nước.
Kế họach 5 năm lần thứ nhất 1960-1965
Nhằm thực hiện mục tiêu tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên
chủ nghĩa xã hội, Đại hội đề ra Kế họach 5 năm lần thứ nhất 1960-1965,
nhiệm vủ chủ yếu của Kế hoạch này là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, lấy
phát triển công nghiệp nặng làm nền tảng, đồng thời ra sức phát triển công
nghiệp nhẹ và nông nghiệp.
Đại hội cũng đã tổng kết 30 năm công tác xây dựng Đảng ; thông qua
tuyến, ở vùng địch tạm chiếm hay vùng giải phóng, dù phải đấu tranh trong
các trại giam tàn bạo của nhà tù Mỹ-ngụy hay nơi biên cương hẻo lánh, đều
trung thành với Đảng, với Tổ Quốc, nổ lực phấn đấu, hy sinh hoàn thành
nhiệm vụ. Hàng ngàn cán bộ làm công tác tổ chức đã anh dũng hi sinh. Tổ
quốc và Đảng đời đời nhớ ơn các đồng chí đó!
4 - Công tác tổ chức từ năm 1975 đến nay
* Giai đoạn 1975 – 1986:
Ngay sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, công tác tổ
chức của Đảng đã nhanh chóng giải quyết hàng loạt vấn đề cấp bách như :
xây dựng và củng cố hệ thống chính trị thống nhất của cả nước ; thực hiện
sự thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IV (tháng 12-1976), lần thứ V (tháng 3 năm 1982) đã đi sâu tổng kết những
14
80 n¨m ngµy truyÒn thèng ngµnh tæ chøc x©y dùng §¶ng Nguyễn Văn Dưỡng
vấn đề cơ bản về xây dựng đảng trong điều kiện mới ; thẳng thắn chỉ ra
những ưu điểm và khuyết điểm trong sự lãnh đạo chính trị của Đảng gắn
liền với những ưu điểm và khuyết điểm trong công tác xây dựng đảng về tư
tưởng và tổ chức, trong đó "công tác tổ chức cũng rất trì trệ, chậm chuyển
hướng, không đi kịp tình hình và nhiệm vụ" ; đồng thời, đề ra các quan
điểm, chủ trương, giải pháp xây dựng đảng một cách toàn diện.
Đại hội IV
+ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12-1976), lần thứ V
(tháng 3 năm 1982) đã đi sâu tổng kết những vấn đề cơ bản về xây dựng
đảng trong điều kiện mới ; thẳng thắn chỉ ra những ưu điểm và khuyết điểm
trong sự lãnh đạo chính trị của Đảng gắn liền với những ưu điểm và khuyết
điểm trong công tác xây dựng đảng về tư tưởng và tổ chức, trong đó "công
tác tổ chức cũng rất trì trệ, chậm chuyển hướng, không đi kịp tình hình và
nhiệm vụ" ; đồng thời, đề ra các quan điểm, chủ trương, giải pháp xây dựng
đảng một cách toàn diện.
+ Đại hội thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương
công nhân, nhất là công nhân đại công nghiệp trong Đảng.
* Về phương châm xây dựng Đảng:
a) Phải xây dựng Đảng vững mạnh về cả ba mặt: chính trị, tư tưởng,
và tổ chức. Ba ấy gắn liền với nhau, quyết định lẫn nhau.
b) Phải qua phong trào cách mạng của quần chúng, qua việc xây dựng
chế độ tập thể của nhân dân lao động mà tiến hành công tác xây dựng Đảng;
16
80 n¨m ngµy truyÒn thèng ngµnh tæ chøc x©y dùng §¶ng Nguyễn Văn Dưỡng
tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng Đảng, góp phần kiểm tra sự hoạt
động của Đảng, kiểm tra công tác và phẩm chất của cán bộ, đảng viên.
c) Xây dựng Đảng, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, phải gắn liền
với kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực của Nhà nước, gắn liền với xây
dựng và củng cố quần chúng, hình thành sức mạnh tổng hợp của hệ thống
chuyên chính vô sản.
d) Viêc nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên phải kết hợp với nâng
cao chất lượng chi bộ và đảng bộ cơ sở, với việc tăng cường cơ quan lãnh
đạo và kiện toàn bộ máy tổ chức ở từng cấp, từng ngành.
đ) Trong công tác phát triển Đảng, phải coi trọng chấ lượng, chống
khuynh hướng chạy theo số lượng đơn thuần; phát triển Đảng luôn luôn đi
đối với củng cố Đảng. Một mặt, kết nạp nhwngxn gười thật sự ưu tú, đủ tiêu
chuẩn, mặt khác, kịp thời đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa biến
chất, những người không đủ tư cách đảng viên. Cảnh giác đề phòng nhữn
phần tử xấu phản động; xu thời, vụ lợi chui vào Đảng.
+ Đại hội đã thảo luận, đánh giá quyết định chuyển cách mạng Việt
Nam từ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân
chủ ở miền Nam sang thực hiện cách mạng xã hội trên toàn đất nước. Từ
nhận định đó, Đại hội đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm
vi cả nước, gồm:
• Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa
• Đường lối xây dựng kinh tế trong thời kì quá độ
tiêu cơ bản:
• Xây dựng một bước cơ sở vật chất – kĩ thuật của Chủ nghĩa xã
hội
18
80 n¨m ngµy truyÒn thèng ngµnh tæ chøc x©y dùng §¶ng Nguyễn Văn Dưỡng
• Bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước mà bộ
phận chủ yếu là cơ cấu công - nông nghiệp và cải thiện một bước đời sống vật
chất và văn hóa của nhân dân lao động.
+ Báo cáo xây dựng Đảng đã đề ra những nhiệm vụ, chủ trương về
công tác xây dựng Đảng.
+ Đại hội IV đã quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành
Đảng Cộng sản Việt Nam
+ Đại hội đã bầu ra 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết
vào Ban Chấp hành Trung ương khóa IV.
Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, đất nước lâm vào tình
trạng khủng hoảng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, niềm tin của nhân
dân suy giảm. Ngành tổ chức xây dựng Đảng đã cùng toàn Đảng tiến hành
công cuộc đổi mới, đổi mới về tổ chức và cán bộ, tạo cơ sở cho việc tiến hành
đổi mới toàn diện, từng bước khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, bảo
đảm giữ vững ổn định chính trị. Trong thời kỳ đổi mới, công tác tổ chức xây
dựng Đảng bám sát thực tiễn, thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn
Đảng; đẩy mạnh kiện toàn, sắp xếp tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị; thực
hiện chiến lược cán bộ thời kỳ CNH-HĐH đất nước.
Đại hội V
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam V’’ hay ‘‘Đại hội đại biểu lần thứ
năm của Đảng Cộng Sản Việt Nam’’ diễn ra từ ngày 27 đến ngày 31-3-1982 ở
Hà nội. Tham dự đại hội có tất cả là 1033 đại biểu chính thức thay mặt cho
1.727.000 đảng viên trong nước.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam V diễn ra trong bối cảnh kinh tế đất
nước sau 5 năm Kháng chiến chống Mỹ đang gặp những trì trê nghiêm trọng.
cấp uỷ và tổ chức Đảng, đề cao trách nhiệm của tập thể và cá nhân, khắc phục
20
80 n¨m ngµy truyÒn thèng ngµnh tæ chøc x©y dùng §¶ng Nguyễn Văn Dưỡng
những yếu kém, nhất là tính thụ động, ỷ lại cấp trên; kết hợp tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng với sự kiện toàn các cơ quan chính quyền, cải tiến tổ chức
và cơ chế quản lý, nâng cao tính chiến đấu của đội ngũ đảng viên; tiếp tục tiến
hành việc kiểm tra đảng viên và phát thẻ đảng viên; đưa những người không
đủ tư cách ra khỏi Đảng.
+ Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 116 ủy viên chính thức
và 36 ủy viên dự khuyết.
* Giai đoạn 1986 đến nay
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986 đến nay,
công tác tổ chức tập trung vào chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các chủ trương,
chính sách đổi mới ; đổi mới công tác tổ chức, cán bộ ; tiếp tục tăng cường
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ; kiện toàn tổ chức, đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng
và chất lượng đảng viên ; nâng cao ý thức bảo vệ Đảng ; chống đa nguyên,
đa đảng.
Đại hội VI
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI họp từ ngày 15 đến ngày 18
tháng 12 năm 1986 tại Hà Nội (họp nội bộ từ ngày 5 đến ngày 14 tháng 12
năm 1986). Dự đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng
viên cả nước, 32 đoàn đại biểu của các Đảng và các tổ chức quốc tế.
+ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI diễn ra trong bối cảnh sai lầm
của đợt tổng cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế Việt
Nam càng trở nên khó khăn (tháng 12 năm 1986, giá bán lẻ hàng hóa tăng
845,3%). Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn
định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Số người bị thiếu
đói tăng, bội chi lớn. Nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng.
21
kinh tế xã hội, bắt nguồn từ những khuyết điểm trong công tác tư tưởng; tổ
chức và công tác của Đảng.
* Những bài học kinh nghiệm lớn:
1. Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy
dân làm gốc" xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể cảu nhân dân lao
động.
2. Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui
luật khách quan.
3. Phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều
kiện mới.
4. Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo
nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
* Mục tiêu kinh tế - xã hội
Mục tiêu cự thể cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên:
• Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy.
• Bước đầu tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất
• Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
• Tạo chuyển biến tốt về mặt xã hội
• Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.
* Đổi mới
Đổi mới ở đây không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà
được hiểu là thay đổi cách thức để đạt được mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
- Đổi mới về kinh tế
• Xóa bỏ kinh tế bao cấp, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
23
80 năm ngày truyền thống ngành tổ chức xây dựng Đảng Nguyn Vn Dng
i mi v c ch qun lý kinh t: c ch kinh t th trng cú s
qun lý ca nh nc theo nh hng xó hi ch ngha.
i mi v ni dung v cỏch thc cụng nghip húa, thc hin 3 ch
Liên Xô .
+ Đại hội đã tổng kết đánh giá việc thực hiện đừơng lối đổi mới của
đại hội VI, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm kế thừa, phát huy những thành
tựu, ưu điểm đã đạt được: khắc phục khó khăn, yếu kém mắc phải trong bước
đầu đổi mới; ngăn ngừa những lệch lạc phát sinh trong quá trình đó; điều
chỉnh bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi
mới của đất nước tiến lên.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội
Bản cương lĩnh này được thông qua tại Đại hội VII. Đây chính là tổng
thể những điểm chủ yếu về mục đích, đường lối, nhiệm vụ cơ bản của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong thời kì tiếp tục đi lên đổi mới và xây dựng nền
kinh tế thị trường.
* Bản cương lĩnh 1991 xác định:
- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân
Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và
của dân tộc.
- Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nên
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên
tắc tổ chức cơ bản.
- Xác định nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng.
25