TRặèNG AI HOĩC DUY TN
KHOA K TOAẽN
óử taỡi:
óử taỡi:
HACHTOAẽNCHIPHấSANXUTVAèTấNH
HACHTOAẽNCHIPHấSANXUTVAèTấNH
GIAẽTHAèNHSANPHỉMTAICNGTYSĩI
GIAẽTHAèNHSANPHỉMTAICNGTYSĩI
ưTỉNGCNGTYCỉPHệNDTMAY
ưTỉNGCNGTYCỉPHệNDTMAY
HOèATHOĩ
HOèATHOĩ
GVHD
GVHD
:Th.sNGUYNHặẻUPHUẽ
:Th.sNGUYNHặẻUPHUẽ
SVTH
SVTH
:LNGUYNDIMTHUẽY
:LNGUYNDIMTHUẽY
LẽP
LẽP
:K13KDN3
:K13KDN3
MSSV
Phần I: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
doanh nghiệp sản xuất.
Phần II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công
ty Sợi -Tổng công ty cổ phần Dệt May Hoà Thọ.
Phần III: Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại công ty Sợi-Tổng công ty cổ phần Dệt May Hoà Thọ.
Do hạn chế về mặt thời gian, cùng với sự hiểu biết còn hạn chế nên đề tài không
tránh khỏi những thiếu sót và còn mang tính lý thuyết. Vì vậy em rất mong thầy cô
cùng các cô chú, anh chị trong công ty góp ý, hướng dẫn bổ sung để đề tài hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị trong công ty và đặc biệt là thầy
Nguyễn Hữu Phú đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề
tài.
Đà Nẵng,25 tháng 4 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Lê Nguyễn Diễm Thúy
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
SVTH: Lê Nguyễn Diễm Thúy
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
STT Từ viết tắt Từ đầy đủ
1 NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp
2 K/C Kết chuyển
3 TL Tiền lương
4 CNTTSX Công nhân trực tiếp sản xuất
5 BHXH Bảo hiểm xã hội
6 BHYT Bảo hiểm y tế
7 KPCĐ Kinh phí công đoàn
8 SXC Sản xuất chung
9 BPPX Bộ phận phân xưởng
10 CPSX Chi phí sản xuất
sống và lao động vật hóa cần thiết để sản xuất sản phẩm mà doanh nghiệp đã chi ra
trong một kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
Chi phí sản xuất được xác định trên cơ sở khối lượng sản phẩm, hệ thống định
mức, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật và các chế độ chính sách của doanh nghiệp phù hợp
với những yếu tố khách quan của thị trường trong từng thời kỳ.
1.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất:
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp các loại chi phí khác nhau vào từng
nhóm theo những đặc trưng nhất định.
Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, nhiều khoản mục khác nhau về nội dung,
tính chất, công dụng, vai trò, vị trí trong quá trình kinh doanh, để quản lý chi phí sản
xuất được tốt và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác hạch toán kế toán, chi phí sản
xuất còn được phân loại theo những tiêu thức khác nhau.
• Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế (theo yếu tố chi phí):
Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế là sắp xếp những chi phí có
chung tính chất kinh tế vào một yếu tố, không kể chi phí đó phát sinh ở đâu, dùng vào
mục đích gì trong sản xuất sản phẩm (phục vụ quản lý hay trực tiếp sản xuất).
Theo phân loại này thì toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia ra
5 yếu tố chi phí cơ bản sau:
+ Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm các chi phí về loại nguyên
liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản
mà doanh nghiệp đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
+ Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sủ dụng vào quá trình sản xuất.
+ Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp: Bao gồm toàn bộ số tiền
lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho công nhân và nhân viên hoạt động
sản xuất trong doanh nghiệp.
+ Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền trích
BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh
nghiêp.
+ Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao
TSCĐ sử dụng cho sản xuất xây lắp của trong doanh nghiệp.
phẩm trong kỳ chính xác, từ đó để lập kế hoạch giá thành sản phẩm và phân tích giá
thành sản phẩm và giám sát việc thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm.
• Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với số lượng sản phẩm sản xuất:
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được phân thành 3 loại:
+ Chi phí biến đổi (biến phí): là các chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự
thay đổi của mức độ hoạt động. Tuy nhiên có loại CPBĐ tỷ lệ thuận trực tiếp với
biến động của mức hoạt động như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động
trực tiếp... nhưng có CPBĐ chỉ thay đổi khi mức hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng
như chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị...
+ Chi phí cố định (định phí): là những khoản chi phí mà tổng số không thay
đổi khi có sự thay đổi mức độ hoạt động, nhưng chi phí trung bình của một đơn vị
hoạt động thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức biến động của mức hoạt động. Chi phí cố
định không thay đổi về tổng số trong phạm vi phù hợp của mức độ hoạt động (ví dụ
như chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ không thay đổi trong phạm vi khối
SVTH: Lê Nguyễn Diễm Thúy Trang2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
lượng sản xuất từ 0 đến 2.000 tấn) nhưng nếu mức độ hoạt động tăng vượt quá phạm
vi phù hợp đó thì chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ tăng vì phải đầu tư
thêm máy móc thiết bị sản xuất.
+ Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của CPCĐ
và CPBĐ (như chi phí điện thoại, Fax, chi phí thuê phương tiện vận chuyển vừa tính giá
thuê cố định, vừa tính giá thuê theo quãng đường vận chuyển thực tế...).
• Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan
hệ với đối tượng chịu chi phí:
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc sản
xuất một khối lượng sản phẩm nhất định. Căn cứ vào số liệu từ chứng từ kế toán để
ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.
+ Chi phí gián tiếp: Là chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản suất nhiều
sản phẩm. Những chi phí này phải thông qua phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí
có liên quan theo một tiêu thức thích hợp.
• Phân theo phạm vi phát sinh chi phí:
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được phân làm 2 loại:
+ Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả những
chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân
xưởng sản xuất.
Trong giá thành sản xuất bao gồm các chi phí: chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm đã hoàn
thành. Giá thành sản xuất của sản phẩm được sử dụng ghi sổ kế toán thành phẩm
nhập kho hoặc giao cho khách hàng và là căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán, lợi
nhuận gộp ở các doanh nghiệp sản xuất.
+ Giá thành toàn bộ (Giá thành đầy đủ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản
chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành toàn bộ = Giá thành sản xuất + Chi phí bán hàng + Chi phí QLDN
Giá thành toàn bộ của sản phẩm chỉ được tính toán xác định khi sản phẩm
được tiêu thụ, đồng thời là căn cứ tính toán, xác định lợi nhuận trước thuế của doanh
nghiệp.
Chỉ tiêu giá thành có ý nghĩa trong lãnh đạo và quản lý kinh tế, giá thành là
chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật tổng hợp được dùng để đánh giá chất lượng hoạt động của
doanh nghiệp, tính toán chính xác giá thành là cơ sở để xác định giá bán hợp lý, là cơ
sở để kiểm tra tình hình thực hiện các định mức tiêu hao, là căn cứ để xác định kết
quả sản xuất kinh doanh.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau
trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, thực tế cả hai đều biểu thị về lao động sống
và lao động vật hoá, đều dùng chỉ tiêu thước đo tiền tệ, ngoài ra chi phí sản xuất là
căn cứ số liệu để tính giá thành sản phẩm và việc quản lý giá thành phải gắn liền với
việc quản lý chi phí sản xuất.
Về thực chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt khác nhau của
quá trình sản xuất, biểu hiện: Chi phí sản xuất phản ảnh mặt hao phí sản xuất, còn giá
thành sản phẩm phản ảnh kết quả sản xuất. Về mặt giá trị chi phí sản xuất trong một
xuất để phục vụ cho yêu cầu tính giá thành sản phẩm.
1.2.1.2. Căn cứ để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất:
Tùy theo đặc điểm về tổ chức sản xuất, về quy trình sản xuất cũng như đặc
điểm sản xuất sản phẩm mà đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là:
+ Tính chất, đặc điểm sản xuất, quy trình công nghệ.
+ Trình độ và nhu cầu quản lý.
+ Trình độ và khả năng của bộ máy kế toán.
+ Yêu cầu thông tin cho việc tính giá thành.
1.2.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất:
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các
phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất theo yếu tố và
khoản mục trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
1.2.2.1. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm:
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân loại
theo từng sản phẩm riêng biệt, không phụ thuộc vào tính chất phức tạp của sản phẩm
và quy trình công nghệ sản xuất. Trong trường hợp quá trình sản xuất phải trải qua
nhiều giai đoạn trong đó các chi phí trực tiếp được phân loại theo từng sản phẩm, còn
các chi phí phục vụ sản xuất được phân bổ cho từng sản phẩm theo các tiêu thức phù
hợp.
Khi doanh nghiệp áp dụng phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo sản
phẩm thì giá thành sản phẩm được xác định bằng phương pháp trực tiếp hoặc phương
pháp tổng cộng chi phí.
SVTH: Lê Nguyễn Diễm Thúy Trang5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
1.2.2.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm:
Theo phương pháp này, các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân
loại theo nhóm sản phẩm cùng loại. Khi áp dụng phương pháp hạch toán chi phí sản
xuất theo nhóm sản phẩm thì giá thành sản phẩm được xác định bằng phương pháp
liên hợp.
1.2.2.3. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng:
Tổng chi phí NVL
trực tiếp cần phân bổ
x
Tiêu thức phân
bổ của từng đối
tượng
Tổng tiêu thức phân
bổ của các đối tượng
• Tài khoản sử dụng:
Để hạch toán khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, sử dụng tài khoản
621-“Chi phí nguyên vật trực tiếp”. Tài khoản này dung để phản ánh các chi phí
nguyên liệu, vật liệu được sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực
hiện lao vụ, dịch vụ của các ngành công, nông, lâm, ngư,…
SVTH: Lê Nguyễn Diễm Thúy Trang6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
Bên Nợ:
+ Giá trị nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm.
Bên Có:
+ Trị giá nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho.
+ Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào tài khoản tính giá thành.
Tài khoản 621 không có số dư cuối kỳ. Tài khoản này mở chi tiết cho từng đối tượng
phải chịu chi phí từng phân xưởng, bộ phận sản xuất.
• Sơ đồ hạch toán chi phí NVL trực tiếp:
1.2.3.2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
• Nội dung và phương pháp hạch toán:
Chi phí nhân công trực tiếp là khoản chi phí trực tiếp do đó kế toán cần tập
hợp cho từng đối tượng, nếu không tập hợp được thì phải phân bổ theo tiêu thức phù
hợp (định mức tiền lương, chi phí nguyên vật liệu chính hoặc vật liệu trực tiếp, theo
số giờ máy chạy,…)
Mua về đưa trực tiếp sản
xuất
Cuối kỳ K/c chi
phí NVL trực tiếp
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
Bên nợ:
+ Chi phí nhân công trực tiếp tham gia quá trình sản xuất sản phẩm trong kỳ.
+ Khoản trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất
theo kế hoạch trong năm.
Bên có:
+ Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nhân công trực tiếp để tổng hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ.
Tài khoản 622 không có số dư cuối kỳ. Tài khoản này mở chi tiết cho từng đối
tượng chịu chi phí ở từng phân xưởng, bộ phận sản xuất.
• Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
1.2.3.3. Hạch toán chi phí sản xuất chung:
• Nội dung và phương pháp hạch toán:
Chi phí sản xuất chung phát sinh có liên quan đến nhiều đối tượng thì kế toán
áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí sản xuất chung.
Công thức phân bổ được tính như sau:
Chi phí sản xuất
chung phân bổ cho
=
Tổng chi phí SXC cần phân bổ
x
Tiêu thức phân
bổ của từng đối
Tổng tiêu thức dùng để phân bổ
• Tài khoản sử dụng:
Các tiêu thức được chọn để phân bổ:
+ Phân bổ theo tiền lương công nhân sản xuất hoặc theo chi phí nhân công
+ Phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Phân bổ theo giờ máy hoạt động
+ Phân bổ theo số lượng sản phẩm
Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung:
SVTH: Lê Nguyễn Diễm Thúy Trang9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
SVTH: Lê Nguyễn Diễm Thúy Trang10
TK 334,338 TK 627 TK 111,112,138
TK 152 TK 154
TK 153
TK 142,242
TK 214
TK 111,112,331
TK 632
Tính tiền lương và các khoản
trích theo lương BPPX
Các khoản giảm trừ CPSX
chung
Xuất NVL dùng ở bộ phận PX
K/c CPSX chung (KKTX)
Xuất
dùng
P/b
nhiều
lần
P/b
CCDC
TK 154 TK 152
TK 138,334
TK 622
TK 627
TK 155,157,632
K/c chi phí nhân công trực tiếp
K/c chi phí NVL trực tiếp
K/c chi phí sản xuất chung
Phế liệu thu hồi nhập kho
Giá trị SP hỏng không sửa chữa được,
người gây thiệt hại bồi thường
Giá thành thực tế SP hoàn thành
SPDD đầu kỳ:
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
- Sản phẩm
- Bán thành phẩm
- Công việc hoàn thành qua quá trình sản xuất
- Đơn đặt hàng
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là một phương pháp hay hệ thống các
phương pháp được dùng để xác định giá thành đơn vị từng loại sản phẩm, công việc
hay lao vụ đã được hoàn thành theo từng khoản mục chi phí quy định. Việc tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp phải phù hợp với từng đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm đã xác định. Với nguyên tắc đó, giá
thành sản phẩm được tính như sau:
Để tính giá thành sản phẩm, kế toán lập thẻ hoặc phiếu tính giá thành sản
phẩm, theo mẫu sau:
Khoản mục giá
thành
Giá trị
SPDD đầu
Giá thành
đơn vị
sản phẩm
=
Giá trị
SPDD
đầu kỳ
CPSX
phát sinh
trong kỳ
Giá trị
SPDD
cuối kỳ
+
-
Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ
Tổng giá Giá trị Chi phí Giá trị
thành = SPDD + sản xuất - SPDD
sản phẩm đầu kì PS trong cuối kì
kì
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
Phương pháp này được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một
quy trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu được còn có thể thu được những
sản phẩm phụ.
Tổng giá
thành SP
chính
=
Giá trị
SPDD
thực tế của tất cả
các loại SP (TZ
i
)
=
Giá trị
SPDD
đầu kỳ
+
Chi phí
sản xuất
PSTK
-
Giá trị
SPDD
cuối kỳ
Bước 2: Quy đổi số lượng sản phẩm từng loại thành sản phẩm tiêu chuẩn theo
hệ số quy định.
Trong đó: Q
t
: Tổng số sản phẩm tiêu chuẩn
Q
i
: Số lượng sản phẩm i
H
i
: Hệ số quy đổi sản phẩm i
Bước 3: Xác định giá thành đơn vị của sản phẩm tiêu chuẩn.
Giá thành đơn
Giá thành đơn vị
kế hoạch (định
mức) từng loại SP
x
Tỷ lệ giá
thành
Trong đó:
Tỷ lệ giá
thành
=
Tổng giá thành thực tế của các loại SP
x 100%
Tổng giá thành kế hoạch (định mức)
của các lọai SP
1.4.2.6. Phương pháp liên hợp:
Đây là phương pháp được áp dụng trong những doanh nghiệp mà quy trình
công nghệ hoặc sản phẩm sản xuất ra đòi hỏi việc tính giá thành sản phẩm phải sử
dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau đã nêu trên.
1.4.3. Kiểm kê và xác định giá trị sản phẩm dỡ dang:
Sản phẩm dỡ dang là những sản phẩm chưa qua giai đoạn cuối cùng còn đang
nằm trong dây chuyền sản xuất.
Đánh giá sản phẩm dỡ dang là xác định chi phí phát sinh trong kỳ phân bổ cho
số lượng sản phẩm dỡ dang cuối kỳ.
Có các phương pháp đánh giá dỡ dang sau:
1.4.3.1. Đánh giá SPDD theo chi phí NVL trực tiếp:
+ NVL trực tiếp đưa ngay từ đầu quá trình sản xuất:
Giá trị SPDD
cuối kỳ
=
SPDD
x
SL
SPDD
x %HT
x
%HT
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
+ Chi phí chế biến nằm trong SPDD:
1.4.3.3. Xác định giá trị sản phẩm dỡ dang cuối kỳ theo 50% chi phí chế biến:
Chi phí chế biến gồm các chi phí sản xuất còn lại ngoại trừ chi phí nguyên vật
liệu chính.
* Nội dung phương pháp: Thực chất phương pháp này là phương pháp ước
lượng sản phẩm hoàn thành tương đương, nhưng để đơn giản cho việc tính toán
người ta lấy mức độ hoàn thành bình quân của sản phẩm dỡ dang là 50% so với thành
phẩm để tính toán chi phí nhân công và chi phí sản xuất chung.
Phương pháp này thường được áp dung đối với những doanh nghiệp mà chi
phí chế biến chiếm tỉ trọng nhỏ trong giá thành hoặc sản phẩm dỡ dang rải đều từ
công đoạn đầu đến công đoạn cuối.
1.4.3.4. Xác định SPDD theo giá thành định mức:
Phương pháp này được áp dụng trên cơ sở giá thành định mức xây dựng cho
từng chi tiêt, từng bộ phận kết cấu của sản phẩm. Căn cứ vào đó để xác định sản
phẩm dỡ dang, phương pháp này đòi hỏi phải có hệ thống định mức chi phí hoàn
chỉnh.
SVTH: Lê Nguyễn Diễm Thúy Trang15
CPCB tính
cho SPDD
cuối kỳ
=
CPCB nằm
Lệ-Thành phố Đà Nẵng-Việt Nam.
SVTH: Lê Nguyễn Diễm Thúy Trang16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
Năm 1997, đổi tên thành: Công ty Dệt May Hòa Thọ theo quyết định số
433/QĐ-TCLĐ của Tổng Công ty Dệt May Việt Nam.
Năm 2005 chuyển thành công ty TNHH nhà nước một thành viên Dệt May
Hòa Thọ theo quyết định số 200/2005/QD-Năm 1993, đổi tên thành lập doanh nghiệp
nhà nước: Công ty Dệt Hòa Thọ theo quyết định thành lập Ttg ngày 08/08/2005 của
Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 15/11/2006 chuyển thành Tổng Công ty Cổ phần Dệt May Hòa Thọ theo
quyết định số 3252/QD-BCN của Bộ Công Nghiệp, và chính thức đi vào hoạt động
vào ngày 01 tháng 02 năm 2007.
Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ là đơn vị thành viên của tập đoàn dệt
may Việt Nam (VINATEX) và hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS) thuộc Bộ Công
Nghiệp.
Tên công ty: Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ
Tên giao dịch: HOA THO TEXTILE GARMENT JOINT STOCK
COMPANY
Tên công ty viết tắt: HOA THO CORP.
Điện thoại:84-511-846290. Fax:84-511-846216.
Email:
Website: www.hoatho.com.vn
Địa chỉ: 36 Ông Ích Đường- Đà Nẵng
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3203001300 do Sở kế hoạch -Đầu tư
Thành phố Đà Nẵng cấp 03/01/2007.Giấy phép kinh doanh XNK số 01-02-075/GP
do Bộ thương mại cấp 4/2/1994.
Vốn điều lệ tính đến 28/02/2009: 62.000.000.000 đồng.
Số lượng phát hành:6200000 cp
Ngành nghề:dệt may-thời trang
Lĩnh vực hoạt động: sản xuất kinh doanh, xuất khẩu các loại sản phẩm may
- Giai đoạn từ 1993-2001: năm 1994-1995 công ty đã tập trung các chuyên gia
đầu ngành để nghiên cứu cho việc đổi mới công nghệ. Đồng thời đầu tư dây chuyền
công nghệ kéo sợi bằng thiết bị SECONHAND của Italia đời máy 1985-1987 với
tổng vốn đầu tư 2.807.000 USD. Bên cạnh đó để phục vụ cho yêu cầu công nghệ kéo
sợi và cải tạo điều kiện môi trường làm việc cho người lao động, công ty đã cải tạo
cơ bản hệ thống điều thông gió mới của Italia với giá trị 720.000 USD.
Năm 1996, công ty đã liên doanh với các đối tác nước ngoài để sản xuất khăn
bông cao cấp xuất khẩu với tổng vốn liên doanh là 6.757.762 USD.
Năm 1997, với sự giúp đỡ của Tổng công ty dệt may Việt Nam, công ty tiếp
tục đầu tư thêm 1 xí nghiệp may gồm 8 dây chuyền với công nghệ và trang thiết bị
hiện đại của Nhật với tổng số vốn đầu tư ban đầu là 7.5 tỷ đồng.
Năm 1999-2000 do sản phẩm dệt may có chất lượng kém nêm công ty bị mất
thị trường cũ và không tìm được thị trường mới cho sản phẩm này. Công ty làm ăn
thua lỗ và không đủ trả lương cho cán bộ nhân viên, cuối năm 2000 công ty quyết
định giải thể ngành dệt và công ty điều chuyển số công nhân sang làm các ngành
khác.
- Giai đoạn từ 2002-2005: năm 2002 công ty đã khánh thành và đưa vào hoạt
động nhà máy may 2 gồm 8 dây chuyền máy với máy móc thiết bị nhập khẩu từ Mỹ,
có tổng vốn đầu tư ban đầu là 5.5 tỷ đồng. Nếu lấy năm 1996, năm đầu hoạt động
theo cơ chế thành viên của Tổng Công ty Dệt May Việt Nam để so sánh với kết quả
năm 2004 thì giá trị sản xuất công nghiệp đạt 280 tỷ, tăng hơn 12 lần. doanh thu đạt
330 tỷ, tăng hơn 14 lần. xuất khẩu đạt 32 triệu USD (năm 1996 chưa có).
- Giai đoạn từ năm 2006 đến nay: năm 2006, công ty tiến hành cổ phần hóa có
tên là Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ.
Năm 2007: Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ chính thức hoạt động
01/02/2007. Trong năm tổng công ty đã đầu tư mới 2 công ty là Công ty may Hòa
Thọ-Duy Xuyên và Công ty may Hòa Thọ-Đông Hà. Tổng công ty cổ phần dệt may
Hòa Thọ đã nhận giải thưởng Sao Vàng Đất Việt và Tổng Giám Đốc Trần Văn Phổ
đã đạt danh hiệu Doanh nhân tiêu biểu toàn quốc năm 2007.
SVTH: Lê Nguyễn Diễm Thúy Trang18
Chịu trách nhiệm sản xuất theo đúng yêu cầu sản phẩm đề ra. Không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm, cùng với việc đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên
nâng cao tay nghề nhằm đưa doanh nghiệp đi lên. Xây dựng môi trường làm việc an
toàn, lành mạnh, bình đẳng cho người lao động, chăm lo đời sôngd cho cán bộ công
nhân viên đảm bảo chính sách xã hội và môi trường.
Tổ chức quản lý sử dụng hiệu quả và đúng mục đích các loại sản phẩm, tài sản
đất đai, nhà xưởng, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, tiền vốn.
Có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của luật pháp thực
hiện đúng chức năng đã ký.
Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước. bảo tồn và phát triển vốn đầu tư
cho sản xuất mở rộng kinh doanh.
2.2.TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY SỢI:
2.2.1 Qúa trình hình thành công ty sợi:
SVTH: Lê Nguyễn Diễm Thúy Trang19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:Th.S Nguyễn Hữu Phú
Công ty Sợi Hòa Thọ là công ty trực thuộc Tổng Công ty Cổ Phần Dệt May
Hòa Thọ, vì không có tư cách pháp nhân do đó mọi hoạt động của công ty với bên
ngoài đều do Tổng công ty thay mặt thực hiện. Ngay từ giai đoạn đầu mới thành lâp
công ty lấy tên là Công ty dệt SICOVINA thuộc xã Hoà Thọ, Huỵện Hoà Vang, Tỉnh
Quảng Nam Đà Nẵng, là một trong 4 công ty thuộc công ty kỹ nghệ Bông vải Việt
Nam. Sau khi thành lập đã đưa vào sản xuất với các thiết bị của các quốc qia lớn như
Mỹ, Nhật, Tây Đức.
Năm 1975 cả nước được hoàn toàn giải phóng, công ty được chính quyền cách
mạng tiếp quản, khôi phục và đưa vào sản xuất lại vào ngày 21/04/1975. Và từ công ty
dệt SICOVINA đã chuyển đổi thành Công ty Dệt Hoà Thọ. Lúc này nhà máy sợi là một
bộ phận sản xuất của Công ty Dệt Hoà Thọ .
Năm 1995, do máy móc thiết bị đã quá cũ kỹ, lạc hậu, sản phẩm làm ra kém
chất lượng, công ty đã mạnh dạn vay vốn, tiến hành thanh lý 1 vạn cọc sợi cũ để đầu
tư 8.928 cọc sợi đã qua sử dụng của Italy trị giá hàng triệu USD.
Năm 1997, công ty Công ty Dệt Hoà Thọ đổi tên thành Công ty Dệt May Hoà
Nhà máy vừa mới hoàn thành và đưa vào hoạt động tháng 12/2008. Nhà máy
có 20.000 cọc sợi, máy móc thiết bị mới nguyên đồng bộ được sản xuất tại Nhật Bản,
Đức và Trung Quốc. Nhà máy chuyên sản xuất các loại sợi TC chải kỹ, chải thô chất
lượng cao.
• Sản phẩm chính: Sợi TC chải kỹ/chải thô.
• Phạm vi chi số: Chi số Ne 20/1, 26/1, 28/1, 30/1, 40/1 và 45/1
• Ứng dụng: Dệt kim và dệt thoi
• Tổng số công nhân: 220 người.
• Diên tích nhà máy: 11.000m2
• Sản lượng hằng năm: 3.600 tấn/năm.
• Thị trường chủ lực: Châu Á, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và thị trường nội địa
• Thị phần: 80% xuất khẩu và 20% nội địa.
2.2.2. Chức năng và nhiệm vụ
2.2.2.1 Chức năng
Chuyên sản xuất, kinh doanh các loại sợi, nhập khẩu các nguyên liệu, thiết bị
thiết yếu dùng để kéo sợi.
Sản phẩm chính là các loại sợi: Sợi Cotton chải thô, chải kỹ; sợi Polyester; sợi
pha Cotton
2.2.2.2 Nhiệm vụ
Tổ chức quản lý sử dụng có hiệu quả và đúng mục đích các loại tài sản, đất
đai, nhà xưởng, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, tiền vốn mà Tổng công ty đã cấp
xuống.
Chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của luật pháp, thực hiện đúng chức
năng đã đăng ký với Tổng công ty.
Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ mà Tổng công ty đã giao cho.
Bảo tồn và phát triển vốn đầu tư cho sản xuất mở rộng kinh doanh, chăm lo
đời sống cán bộ công nhân viên và bảo vệ môi trường .
Quản lý kho nguyên liệu bông-xơ và cung ứng phục vụ sản xuất sợi
2.2.3. Tổ chức quản lý tại Công ty Sợi Hòa Thọ
2.2.3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý