MỤC LỤC
II. NỘI DUNG......................................................................................................6
3.3.1. §èi víi thÝ nghiÖm biÓu diÔn:......................................................16
Bài học 1: Làm thế nào cho bóng đèn có thể sáng?.................................48
4.3.1.Mục tiêu:..........................................................................................48
4.3.2. Chuẩn bị:........................................................................................49
4.3.3. Tiến trình dạy..................................................................................49
5.3.ĐÁNH GIÁ:.................................................................................................56
5.3.1.ĐÁNH GIÁ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
KHỐI 6...............................................................................................................56
5.1.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM CẢ
KHỐI 6,7,8,9......................................................................................................61
1
I. M U
1. Lý do chn ti
Học tập chủ động không tự nhiên mà có. Niềm tin vào
khoa học, ý thức sáng tạo, tình yêu môn học phải đợc gieo
trồng và vun đắp ngay từ những ngày đầu bớc vào ngỡng cửa
nhà trờng.
Xó hi ngy cng phỏt trin cựng s i mi khụng ngng ca nn khoa
hc k thut ũi hi nhng con ngi lao ng nng ng, t tin, linh hot, sỏng
to, sn sng thớch ng vi nhng i mi din ra hng ngy. ú cng l yờu
cu m xó hi t ra cho giỏo dc. Thc hin Ngh quyt Trung ng 8 v Ngh
quyt 29 v i mi cn bn, ton din giỏo dc v o to, nn giỏo dc nc
ta ang tng bc i mi cn bn cú th o to c nhng con ngi lao
ng t c mc tiờu cụng nghip húa hin i húa t nc. Mc ớch giỏo
dc hin nay khụng ch dng li vic truyn th nhng tri thc k nng m con
ngi tớch ly c t trc ti nay m phi o to con ngi cú nng lc sỏng
sinh khơi dy và nuôi dỡng khát vọng tự tìm ra câu trả lời cho
một vấn đề đã nêu, cảm giác hài lòng khi đã nỗ lực khám phá
để giải quyết thành công vấn đề nảy sinh để rồi từ đó kích
thích sự phát triển năng lực t duy, lòng say mê khám phá khoa
học của học sinh.
Đối với trờng trung học cơ sở Hạ Đình, thực tế của việc
đổi mới phơng pháp dạy học và thay sách giáo khoa cho các lớp
6,7,8,9 với bộ môn vật lý: Số lợng thiết bị, đồ dùng có thể phục
vụ tốt cho nhu cầu giảng dạy của giáo viên và tiếp thu kiến thức
của học sinh. Sau mỗi năm học, nhà trờng đều có kế hoạch
mua bổ sung thiết bị, đồ dùng tiêu hao nhằm đáp ứng tốt nhu
cầu dạy và học trong cả một năm học. Nhng vấn đề đặt ra là
sử dụng các thiết bị đó nh thế nào cho hiệu quả và làm thế
nào để các em có thể tự tiến hành các thí nghiệm, từ đó các
em tự tìm ra kiến thức của bài học và áp dụng kiến thức đó
3
vào cuộc sống, đó chính là vấn đề mà mi giáo viên dạy vật lý
đều phải quan tâm.
Để giải quyết vấn đề trên, trong giảng dạy đòi hỏi ở giáo
viên phải có khả năng sử dụng hiệu quả các thiết bị, đồ dùng
dạy học để tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức của
bài học một cách tốt nhất.
Có rất nhiều yếu tố để tạo ra một giờ dạy học thực
nghiệm hiệu quả nh: Chất lợng đồ dùng thiết bị dạy học, các
phơng tiện hỗ trợ (máy chiếu dùng cho các giờ dạy, bằng bài
giảng điện tử, bảng phụ). Nhng trong phạm vi bài viết này tôi
chỉ muốn đề cập đến vấn đề là sử dụng các thiết bị, đồ
thiết bị, đồ dùng dạy học trong môn Vật lí của trường trung học cơ sở Hạ Đình
nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.
5. Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu.
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, tôi sử dụng phối hợp các phương pháp
sau:
- Nghiên cứu lí luận:
+ Nghiên cứu tài liệu về thiết bị, đồ dùng dạy học của trường trung học cơ
sở.
+ Sách giáo khoa môn Vật lí và một số môn khác có liên quan.
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Tìm hiểu tình hình dạy học Vật lí 6.
(sử dụng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinh; dự giờ
môn Vật lí để quan sát hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh
để thu thập những làm rõ cơ sở lí luận của đề tài).
- Vận dụng lí luận vào tổ chức hoạt động dạy học Vật lí 6.
5
ii. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Phân loại thí nghiệm vật lý
Trong dạy học Vật lí, mỗi thí nghiệm tiến hành trong tiết
học đều được quy về một trong hai dạng thí nghiệm sau:
1.1.1.Thí nghiệm biểu diễn
Thí nghiệm biểu diễn là thí nghiệm do giáo viên trình bày ở
trên lớp.
Căn cứ vào mục đích, có thể chia thí nghiệm biểu diễn
thành 3 loại:
1.1.1.1. Thí nghiệm nêu vấn đề
1.1.2. Thí nghiệm thực hành vật lý
Thí nghiệm thực hành Vật lí là thí nghiệm do tự tay học
sinh tiến hành đưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Với dạng thí nghiệm này có nhiều cách phân loại, tuỳ theo căn
cứ để phân loại:
1.1.2.1. Căn cứ vào nội dung:
* Thí nghiệm thực hành định tính.
- Loại thí nghiệm này có ưu điểm nêu bật bản chất của
hiện tượng.
+ Ví dụ: Thí nghiệm nghiên cứu tính dẫn nhiệt của các
chất; nghiên cứu sự nóng
chảy, đông đặc của các chất.
* Thí nghiệm thực hành định lượng.
- Loại thí nghiệm này có ưu điểm giúp học sinh nắm được quan hệ giữa
các đại
lượng vật lí một cách chính xác rõ ràng.
+ Ví dụ: Thí nghiệm nghiên cứu sự cân bằng của đòn bẩy để tìm ra công
thức
thí nghiệm xác định điện trở,..
thí nghiệm xác định điện trở,...
1.1.2.2. Căn cứ vào tính chất:
* Thí nghiệm thực hành khảo sát.
7
- Loại thí nghiệm này học sinh chưa biết kết quả thí nghiệm, phải thông
qua thí
nghiệm mới tìm ra được các kết luận cần thiết. Loại thí nghiệm này được
tiến hành trong khi nghiên cứu kiến thức mới.
- Ví dụ: Các thí nghiệm nghiên cứu về đặc điểm chung của nguồn âm của
-Ví dụ: Trong bài “Sự bay hơi” - Vật lí 6 theo phương pháp nặn bột thí
nghiệm kiểm tra tốc độ bay hơi phụ thuộc vào những yếu tố nào?
+ Hai nhóm tiến hành kiểm tra cùng một yếu tố để đối chứng. Tổng hợp
kết quả của 6 nhóm sẽ đưa ra một kết luận: Sự bay hơi nhanh hay chậm của một
chất lỏng phụ thuộc vào nhiệt độ, gió, diện tích mặt thoáng chất lỏng.
*Thí nghiệm thực hành cá thể:
Trong hình thức tổ chức này các nhóm học sinh làm thí nghiệm trong
cùng thời gian hoặc cùng đề tài nhưng dụng cụ và phương pháp khác nhau.
Ví dụ: Thí nghiệm nghiên cứu sự nhiễm điện do cọ xát - Vật lí 7.
-Ưu điểm của loại thí nghiệm này:
+ Giảm được khó khăn về bộ thí nghiệm.
-Một số hạn chế của loại thí nghiệm này:
+ Việc hướng dẫn của giáo viên rất phức tạp. Vì vậy hình thức này đòi hỏi
tính tự lực cao nên chỉ thích hợp cho các lớp trên
1.2. Thiết bị, đồ dùng dạy học Vật lý.
1.2.1.Khái niệm về thiết bị dạy học:
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thiết bị dạy học. Trong một
số giáo trình giáo dục học và lý luận dạy học, nhiều tác giả cho rằng: Thiết bị
dạy học là những thiết bị vật chất, giúp cho giáo viên tổ chức quá trình dạy học
có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ dạy học đã đề ra.
Tùy theo mục đích sử dụng mà người ta dùng nhiều thuật ngữ thiết bị dạy
học với những nội hàm khác nhau.
Theo PGS. TS. Vũ Trọng Rỹ, “thiết bị dạy học hay phương tiện dạy học,
đồ dùng dạy học là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp những đối tượng
vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện để điều khiển hoạt
động nhận thức của học sinh. Còn đối với học sinh thì đây là nguồn tri thức, là
các phương tiện giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định nghĩa, lý thuyết khoa
9
giáo dục học sinh ở các trường trung học cơ sở.
10
+ Thiết bị, đồ dùng dạy học là một bộ phận của nội dung và phương
pháp dạy học
Lý luận dạy học đã khẳng định quá trình dạy học là một quá trình
mà trong đó hoạt động dạy và hoạt động học phải là những hoạt động gắn bó
khăng khít giữa các đối tượng xác định và có mục đích nhất định.
11
MỤC TIÊU
NỘI DUNG
PHƯƠNG PHÁP
THIẾT BỊ, ĐỒ DÙNG
DẠY HỌC
Sơ đồ: Mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình dạy học
Đứng về nội dung và phương pháp dạy học thì thiết bị, đồ dùng dạy học
mông vật lý đóng vai trò hỗ trợ tích cực, vì có thiết bị dạy học tốt thì mới tổ
chức được quá trình dạy học khoa học, đưa người học tham gia vào quá trình
này, tự khai thác và tiếp cận tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy.
Thiết bị, đồ dùng dạy học môn vật lý là phương tiện duy nhất giúp hình
thành ở học sinh kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật.
+ Thiết bị, đồ dùng dạy học vật lý góp phần vào việc đổi mới phương
thống hoá, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Thông qua các thiết bị, đồ dùng dạy học mà đa dạng hoá các hình thức
dạy học, tiết kiệm thời gian trên lớp, cải tiến các hình thức lao động sư phạm,
tạo khả năng tổ chức một cách khoa học và điều khiển hoạt động giáo dục.
Nghiên cứu về vai trò của thiết bị, đồ dùng dạy học, người ta còn dựa trên
vai trò của các giác quan trong quá trình nhận thức và chỉ ra rằng:
+ Kiến thức thu nhận được qua giác quan theo tỉ lệ: 1,5% qua sờ; 3,5%
qua ngửi; 11% qua nghe; 83% qua nhìn.
+ Tỉ lệ kiến thức nhớ được sau khi học: 20% những gì mà ta nghe được,
30% qua những gì mà người ta nhìn; 50% qua những gì mà người ta nghe và
nhìn được; 80% qua những gì mà ta nói được; 90% qua những gì ta nói và
làm được.
Những số liệu trên cho thấy để quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao cần
phải thông qua quá trình nghe – nhìn và thực hành, muốn vậy phải sử dụng thiết
bị, đồ dùng dạy học để tác động hỗ trợ quá trình dạy học.
13
2. Thực trạng việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học trong môn Vật lý tại
trường THCS Hạ Đình.
- Môn Vật lý được trang bị các phương tiện đồ dùng dạy học ở cả 4 khối
lớp theo danh mục các thiết bị đồ dùng dạy học tối thiểu được cung cấp đầy đủ,
phục vụ tốt cho hoạt động nhóm của học sinh. Bên cạnh đó, còn có phòng chuẩn
bị với đầy đủ đồ dùng thí nghiệm và phòng thực hành vật lý được trang bị đầy
đủ các phương tiện hiện đại ( máy chiếu vật thể, máy chiếu projecter, màn
chiếu), có hệ thống điện và đồng hồ đo điện đến từng bàn thực hành. Nhưng việc
khai thác và sử dụng các trang thiết bị dạy học chưa thực sự triệt để và phát huy
hết hiệu quả .
- Trong thực tế khi giảng dạy, một số đồ dùng( đặc biệt đồ điện tử) thì đồ
theo s ó cho thỡ kh nng thc hin cũn cha nhanh)
3. xut bin phỏp nõng cao hiu qu s dng thit b, dựng dy hc
trong mụn Vt lý ti trng THCS H ỡnh.
Trong giảng dạy môn Vật lý ở trờng trung học cơ sở, để sử
dụng thiết bị dạy học hiệu quả, theo tôi thấygiáo viên cần xác
định rõ những nội dung sau:
3.1. Giáo viên cần hiểu đợc mục đích việc sử dụng thiết
bị dạy học là gì?
Sử dụng thiết bị dạy học cho thí nghiệm vật lý có hiệu
quả chính là việc làm sống lại trớc mắt học sinh các hiện tợng
vật lý cần nghiên cứu một cách sinh động. Từ đó học sinh có
hứng thú say mê nghiên cứu khoa học, thích khám phá tìm tòi
để dẫn đến hình thành khái niệm và giúp học sinh lĩnh hội
kiến thức mới sâu sắc hơn, bền vững hơn.
3.2. Yêu cầu về sự chuẩn bị của giáo viên.
- Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ cần đạt
trong bài, từ đó giáo viên xây dựng mục tiêu cụ thể cần đạt
trong tiết dạy là gì?.
15
- Đọc nội dung bài dạy trong chơng trình sách giáo khoa,
xác định kin thc, k nng cần đạt ca tng phần để nắm đợc
mục tiêu của thí nghiệm phần đó là gì? Thí nghiệm này là do
giáo viên biểu diễn hay học sinh tự tiến hành thí nghiệm?
Phân loại đợc thí nghiệm của học sinh( thí nghiệm kiểm
tra, thí nghiệm chứng minh ). Nếu sử dụng phơng pháp bàn
tay nặn bột thì cần chuẩn bị đồ dùng cho nhiều phơng án thí
nghiệm khác nhau. Từ đó kết hợp với nhân viên trách thiết bị
(Học sinh: Phát hiện đợc, bây giờ ta nhìn thấy đầu dới
của chiếc đũa)
Giáo viên: Vậy để giải thích đợc hiện tợng trên ta cùng nghiên
cứu bài học hôm nay...
Nhìn chung với tất cả các thí nghiệm: Đặt vấn đề,
thí nghiệm kiểm chứng, thí nghiệm chứng minh. ể tin hnh
thớ nghim đạt đợc hiệu quả cao giáo viên phải tiến hành theo
những bớc sau:
Bớc 1: Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho các thành
viên trong nhóm.
Chú ý: Mỗi nhóm nên có đủ cả ba đối tợng học sinh và số
thành viên trong các nhóm không đợc quá nhiều nhằm tạo điều
kiện cho các em có thời gian tranh luận với nhau về kết quả thí
nghiệm.
Bớc 2: Xác định mục tiêu của thí nghiệm
- Với các thí nghiệm đơn giản giáo viên có thể cho học
sinh đọc sách giáo khoa sau đó các em thảo luận và nêu ra
mục tiêu của thí nghiệm đó song giáo viên nhấn mạnh lại.
- Nếu các thí nghiệm khó và phức tạp thì giáo viên nên
chia thành nhiều bớc nhỏ và nêu mục tiêu của từng bớc trong thí
nghiệm.
17
Lu ý: Giáo viên cần phải xác định đúng và đủ mục tiêu
của thí nghiệm vì nó có liên quan trực tiếp đến nội dung của
bài học.
Bớc 3: Giới thiệu dụng cụ
- Phần giới thiệu dụng cụ thí nghiệm.
Bớc 5: Tiến hành thí nghiệm.
- Trớc khi bắt tay vào làm thí nghiệm giáo viên phát cho
các nhóm phiếu học tập để các em ghi lại các hiện tợng, số
liệu, kết quả mà các em quan sát đợc qua thí nghiệm đó
nhằm giúp cho quá trình thảo luận nhóm và từ đó xử lớ kết
quả thí nghiệm đợc tốt hơn.
- Giáo viên thao tác khi tiến hành thí nghiệm phải thật rõ
ràng, không lúng túng để hoc sinh tiện theo dõi.( Nếu là thí
nghiệm biểu diễn).
- Để đạt đợc hiệu quả cao, trong khi tiến hành thí nghiệm
giáo viên có thể đặt các câu hỏi khắc sâu về các tình huống
trong thí nghiệm nhằm tạo cho học sinh những tình huống có
vấn đề để các em cùng suy nghĩ tháo gỡ từ đó các em hiểu
sâu hơn về thí nghiệm đang làm.
Ví dụ: ở bài "Tính chất ảnh tạo bởi gơng phẳng" lp 7
giáo viên sau khi làm xong thí nghiệm thì có thể đặt câu hỏi
nh sau: Tại sao phải chọn hai quả pin hoặc hai viên phấn giống
nhau? Liệu có thể chọn hai viên phấn hoặc hai quả pin khác
nhau đợc không?
- Tùy theo từng bài mà giáo viên có thể nêu thêm thí
nghiệm thay thế hoặc cho học sinh tự nghĩ ra thí nghiệm
thay thế khác để cho bài học phong phú đa dạng nhằm phát
triển đợc vốn hiểu biết của học sinh. Nhng các thí nghiệm
thay thế đó đòi hỏi phải đảm bảo đúng và chính xác mục
tiêu của thí nghiệm.
Vớ d: với bài "Sự khúc xạ ánh sáng" ở lớp 9.
Có thể làm thí nghiệm dùng tia sáng chiếu từ nớc sang
không khí để thay thế cho thí nghiệm cắm các đinh ghim ở
19
giúp các em rút ra các nhận xét và kết luận đúng.
20
Bớc 6: Lập luận trao đổi xung quanh kết quả thu đợc. Hợp thức hóa kiến thức.
Sau khi tiến hành thí nghiệm xong giáo viên cho các nhóm
lần lợt báo cáo hiện tợng hoặc kết quả thí nghiệm mà học sinh
thu thập đợc qua thí nghiệm của giáo viên. Sau đó dựa vào
bảng kết quả của giáo viên, giáo viên hớng dẫn học sinh nhận
xét chéo, phân tích kết quả thí nghiệm và rút ra kết luận.
Chú ý: Trong phần này nếu kết quả thí nghiệm có sự sai số
nhỏ thì giáo viên phải giải thích thật rõ cho các em để gây đợc
niềm tin của học sinh vào thí nghiệm .
Có thể đa ra một số gợi ý về việc giải thích kết quả thí
nghiệm có sự sai số trong thí nghiệm biểu diễn của giáo viên
cho học sinh nh sau:
- Thứ nhất giáo viên phải nắm chắc bản chất của hiện tợng trong thí nghiệm để dựa vào đó mà giải thích vấn đề .
Ví dụ nh: Phần nhiệt hc lớp 6 và lớp 8 có yêu cầu trong
các thí nghiệm nớc phải sôi ở 100oC nhng thực tế không thể
làm nớc sôi ở 100oC đợc nên một số thí nghiệm phần nhiệt có
sai số về kết quả một phần là do nguyên nhân này. Hoặc do
trong quá trình làm thí nghiệm ta đã bỏ qua nhiệt lợng truyền
qua các môi trờng bên ngoài.
- Thứ hai có thể giải thích kết quả thí nghiệm có sai số là
do cách đặt mắt quan sát đọc kết quả và các thiết bị đo
chỉ mang tính chất tơng đối đó cũng là nguyên nhân thờng
hay gặp ở các thí nghiệm.
Ví dụ: ở chơng quang học lớp 9 phần đo độ lớn các góc tới,
góc khúc xạ hoặc phần nhiệt học lớp 6, lớp 8 chúng ta rất hay
gặp hiện tợng sai số nh nguyên nhân đã nêu.
kế, ampe kế, vôn kế... do đó có tác dụng rất lớn trong việc giáo
dục kỹ thuật tổng hợp đối với học sinh.
- Thí nghiệm thực hành tạo điều kiện cho học sinh tự lực
quan sát, phân tích, phán đoán để đi đến kết luận, do đó
22
có tác dụng lớn trong việc phát triển năng lực t duy của học sinh
và giúp các em làm quen với phơng pháp nghiên cứu khoa học
vật lý.
- Thí nghiệm thực hành còn kích thích ở học sinh óc tò
mò khoa học, lòng ham muốn học vật lý, lòng ham muốn vận
dụng kiến thức vật lý vào đời sống và rèn luyện cho học sinh ý
thức tổ chức, ý thức làm việc có kế hoạch, ý thức bảo vệ của
công.
Vì thí nghiệm thực hành có tác dụng rất lớn nh đã phân
tích ở trên nên với giáo viên dạy vật lý để tổ chức thành công
đợc loại bài này thông qua các thiết bị dạy học thì cần phải
thực hiện các công việc sau:
- Việc chuẩn bị cho bài dạy: Trớc hết giáo viên phải đọc trớc nội dung bài dạy xác định đợc ỳng và đủ mục tiêu của bài
học. Từ đó kết hợp với đồng chí phụ trách thiết bị lập ra kế
hoạch về số lợng các thiết bị để dùng cho bài học đợc tốt và
cũng nh các thí nghiệm biểu diễn của giáo viên thì với thí
nghiệm thực hành, giáo viên cũng phải tiến hành trớc tất cả các
thí nghiệm để kiểm tra khả năng thành công của các thí
nghiệm đó nhằm gây đợc niềm tin vào thí nghiệm cho các
em.
- Đặc biệt với loại bài này giáo viên cần dùng bảng phụ và
phiếu học tập để cho các em thảo luận nhận xét và báo cáo
kết quả của nhóm mình.
nghim hay miờu t mt tỡnh hung xut phỏt nhm khai thỏc cỏc quan nim cú
trc hoc ý tng ca ngi hc. Núi cỏch khỏc nhng tỡnh hung ny phi
thỏch thc cỏc kin thc ó cú ca ngi hc, kớch thớch hot ng sao cho ny
sinh vn , hc sinh tip nhn vn cn gii quyt v bt tay vo gii quyt.
Nh vy vic t chc tỡnh hung sao cho huy ng c vn kin thc,
kinh nghim ó cú ca ngi hc.
Vớ d: Khi cho hc sinh tỡm hiu v hot ng ca Nhit k, tỡnh hung
xut phỏt cú th nh: Hóy tỡm hiu xem ngi ta lm nh th no cht lng
24
dâng lên trong nhiệt kế và hãy thiết kế phương án thí nghiệm để làm chất lỏng
dâng lên trong nhiệt kế.
Pha 2: Đề xuất các dự đoán – giả thuyết
“Đặc điểm chủ yếu của khoa học là tính khách quan, cái cốt lõi của nó là
sự suy luận, thường được xây dựng từ trực giác hay giả thuyết: sự chứng minh
đó cần được kiểm tra bằng thí nghiệm”. Ở giai đoạn này, học sinh làm việc cá
nhân, làm việc nhóm, sau đó làm việc cả lớp để trao đổi, tranh luận về những giả
thuyết của mình và của bạn nhằm cùng nhau tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề cần
giải quyết.
Như vậy trong pha này, khuyến khích học sinh suy nghĩ, phát vấn, giáo
viêncần chú ý tới những kinh nghiệm của học sinh, trong đó có thể kể tiềm ẩn những
mâu thuẫn với dự đoán hoặc giả thuyết và giáo viên khuyến khích học sinh thể hiện.
Việc trao đổi, tranh luận đi đến những thách thức các dự đoán, giả thuyết của học
sinh.
Ví dụ: Trong tình huống tìm hiểu về hoạt động của nhiệt kế học sinh có
thể đưa ra các đề nghị khác nhau dựa trên kinh nghiệm vốn có, có thể là:
- Kẹp nhiệt kế vào nách
- Đặt nhiệt kế dưới mặt trời